Tân Nhạc VN – Nhạc Ngoại Quốc Lời Việt – Nhạc Phổ Thông – “Không Cần Nói Anh Yêu” (“You Don’t Have To Say You Love Me”, “Jamais Je Ne Vivrai Sans Toi”, “Io Che Non Vivo Senza Te”) – Pallavicini, Pino
Chào những bạn ,
Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn nhạc phẩm “Không Cần Nói Anh Yêu” (“You Don’t Have To Say You Love Me”, “Jamais Je Ne Vivrai Sans Toi”, “Io Che Non Vivo Senza Te”) của Pallavicini, Pino Donaggio, Vicki Wickham, Simon Napier Bell, Michel Jourdan, Phạm Duy.
“You Don’t Have To Say You Love Me” là một bài hát của Ý do Pino Donaggio và Vito Pallavicini sáng tác năm 1965 dưới tựa đề “Io Che Non Vivo Senza Te”. Ca sĩ người Anh Dusty Springfield thu âm và phát hành bài này năm 1066 bằng Anh ngữ và đây là đĩa đơn thành công nhất của bà, bài hát vượt lên vị trí #1 trên bảng sắp hạng của UK và #4 trên bảng sắp hạng của US.
Tiếp theo là những phiên bản của ca sĩ Elvis Presley ( 1971 ), Guys ‘ n ’ Dolls ( 1976 ), Denise Welch ( 1995 ) đều phổ cập ở UK, với phiên bản của Elvis Presley chiếm vị trí # 11 ở US. “ You Don’t Have To Say You Love Me ” còn là bài nằm trong “ Top 10 Hit ” của Red Hurley ở Ireland năm 1978, của Wall Street Crash ở Italy năm 1983, và của Kristina Hautala ở Finland năm 1966 .
“ Io Che Non Vivo Senza Te ” ( “ I, who can’t live [ without you ] ” ) đã được Pino Donaggio ra mắt tại Sanremo Festival, ông là đồng tác giả của bài hát cùng với Vito Pallavicini và Jody Miller. Bài hát được vào chung kết tại Sanremo và bản thu âm của Pino Donaggio vượt lên vị trí # 1 ở Italy vào tháng 3 năm 1965. Bài hát còn là bản nhạc nền cho phim “ Vaghe stelle dell’Orsa ” của Luchino Visconti và đã phần thưởng “ Golden Lion ” tại Venice Film Festival tháng 9 năm đó .
Ca sĩ Dusty Springfield tham gia Sanremo Festival năm 1965 và là một trong những người theo dõi đã nghe Pino Donaggio và Jody Miller hát bài “ Io Che Non Vivo Senza Te ” năm ấy. Dù rằng không hiểu ý nghĩa tiếng Ý của bài hát nhưng melodies của bài hát đã làm cho Dusty Springfield xúc động rơi lệ nên bà đã tìm mua phiên bản của Pino Donaggio. Phải đến năm sau, sau khi trở về Anh, Dusty Springfield mới triển khai việc thu âm bài hát cho bà bằng Anh ngữ, do Vicki Wickham và Simon Napier Bell viết lời, tại Philips Studio Marble Arch cùng với những nhạc sĩ Big Jim Sullivan ( guitar ), Bobby Graham ( trống ) ngày 9 tháng 3 năm 1966 .
Theo lời của Vicki Wickham và Simon Napier Bell kể lại thì hai người họ chỉ muốn viết lời cho một bài hát mang tính cách chống lại tình yêu với tựa đề “ I Don’t Love You ” ; khi sáng tạo độc đáo original này chứng tỏ là không hề thành công xuất sắc được nên họ đổi tựa lại là “ You Don’t Love Me ” rồi đến “ You Don’t Have To Love Me ” và sau cuối là “ You Don’t Have To Say You Love Me ” cho tương thích với melodies của bài hát. Dusty Springfield thu âm bài hát ngày hôm sau và sau khi thu đi thu lại trong phòng thu 47 lần bà vẫn không thích và không thỏa mãn nhu cầu với âm thanh acoustics của phòng thu nên bước ra bên ngoài chổ cầu thang rồi đứng đó hát để thu .
Phát hành ngày 25 tháng 3 năm 1966 ở UK, phiên bản đĩa đơn này của bà trở thành một hit lớn và từ đó đến giờ nó luôn là bài hát cầu chứng của bà. Sau khi bà qua đời phiên bản này được đưa vào chương trình “ Now 42 ” để vinh danh tưởng niệm bà .
Tháng 10 năm 1965, Richard Anthony thu âm và phát hành một phiên bản tiếng Pháp dưới tựa đề “ Jamais Je Ne Vivrai Sans Toi ” ( do Michel Jourdan viết lời ), và cũng là đầu đề cho album của ông. Ở Quebec phiên bản của Richard Anthony cạnh tranh đối đầu với một phiên bản khác của ca sĩ Margot Lefebvre và cả hai phiên bản đều được sắp hạng # 38 trong list “ Annual Top Hit ” năm 1966 .
Nhiều phiên bản quốc tế thường dựa vào phiên bản tiếng Anh nổi tiếng của ca sĩ Dusty Springfield năm 1966 hơn là phiên bản nguyên thủy tiếng Ý .
Phiên bản “ You Don’t Have To Say You Love Me ” của Dusty Springfield và phiên bản “ Jamais Je Ne Vivrai Sans Toi ” của Richard Anthony gia nhập vào Nước Ta cuối thập niên 1960 s và được nhạc sĩ Phạm Duy đặt lời Việt dưới tựa đề “ Không Cần Nói Anh Yêu ” .

Nhạc phẩm “Io Che Non Vivo (Senza Te)” — (Phiên bản nguyên thủy tiếng Ý của Vito Pallavicini và Pino Donaggio)
Siamo Qui noi soli
Come ogni sera
Ma tu sei più triste
E io lo sò perchè
So che tu vuoi dirmi
Che non sei felice
Che io sto cambiando
E tu mi vuoi laciare
Io che non vivo più di un’ora senza te
Come posso stare una vita senza te
Sei mia,s ei mia, mai niente lo sai
Separarci un giorno potrai
Vieni Qui ascoltami
Che io ti voglio bene
Te ne prego fermati
Ancora insieme a me
Io che non vivo più di un’ora senza te
Come posso stare una vita senza te
Sei mia, sei mia,s ei mia
Io che non vivo più di un’ora senza te
Come posso stare una vita senza te
Sei mia, sei mia, sei mia.
Nghĩa tiếng Anh:
We are alone here
Like every evening
But you are sadder
And I know why
Perhaps you want to tell me
That you are not happy
That I am changing
And you want to leave me
I cannot live
More than an hour without you
So how can I spend a lifetime
Without you
You’re mine
You’re mine
You know nothing will
Ever part us
Come here, listen to me
I love you
Please stop
Stay with me
I cannot live
More than an hour without you
So how can I spend a lifetime
Without you
You’re mine
You’re mine
You know nothing will
Ever part us
I cannot live
More than an hour without you
So how can I spend a lifetime
Without you
You’re mine
You’re mine
I cannot live
More than an hour without you
So how can I spend a lifetime
Without you
You’re mine
You’re mine
You’re mine

Nhạc phẩm “You Don’t Have to Say You Love Me” (Phiên bản tiếng Anh của Vicki Wickham & Simon Napier Bell)
When I said I needed you
You said you would always stay
It wasn’t me who changed but you
And now you’ve gone away
Don’t you see
That now you’ve gone
And I’m left here on my own
That I have to follow you
And beg you to come home?
You don’t have to say you love me
Just be close at hand
You don’t have to stay forever
I will understand
Believe me, believe me
I can’t help but love you
But believe me
I’ll never tie you down
Left alone with just a memory
Life seems dead and so unreal
All that’s left is loneliness
There’s nothing left to feel
You don’t have to say you love me
Just be close at hand
You don’t have to stay forever
I will understand
Believe me, believe me
You don’t have to say you love me
Just be close at hand
You don’t have to stay forever
I will understand
Believe me, believe me, believe me…

Nhạc phẩm “Jamais Je Ne Vivrai Sans Toi” (“Io Che Non Vivo Senza Te” – Dịch bản tiếng Pháp của Michel Jourdan)
Tu es là tout près de moi
Et tu ne me parles pas
Mais j’ai bien compris
Crois-moi ce qui se passe en toi
Tu n’as plus confiance
Sans raison tu penses
Dans tes longs silences
Que tu n’es rien pour moi
Moi qui ne peut vivre plus d’une heure loin de toi
Comment puis-je vivre dans un monde où tu n’es pas
Je t’aime, je t’aime bien plus que tu crois
Et jamais je ne vivrai sans toi
Viens plus près écoute-moi
Tu le sais c’est malgré moi
Si je te fais mal parfois
Je t’en prie ne pleure pas
Moi qui ne peux vivre plus d’une heure loin de toi
Comment puis-je vivre dans un monde où tu n’es pas
Je t’aime, je t’aime
Moi qui ne peux vivre plus d’une heure loin de toi
Comment puis-je vivre dans un monde où tu n’es pas
Je t’aime, je t’aime, je t’aime


Nhạc phẩm “Không Cần Nói Anh Yêu” (“You Don’t Have to Say You Love Me” – Phiên bản tiếng Việt của Phạm Duy)
Ngày xa xưa, em nói yêu anh
Và anh nói sẽ mãi bên em
Giờ thì duyên ta đã vỡ tan
Em vẫn yêu anh, nhớ anh
Người tình ơi, anh biết chăng anh ?
Đời lẻ loi, em sống chênh vênh
Chỉ cầu mong theo bước chân anh
Theo bước chân anh, thương mến
Và anh không cần nói yêu em chỉ xin có anh lúc này
Và anh không cần nói yêu em chỉ xin hãy tin, hãy tin
Vì yêu người, vì yêu người, thì suốt đời
Em xin là người tình lẻ loi, xa xôi, có thế thôi!
Chỉ một mình bơ vơ ôm mối yêu xưa
Cuộc đi qua như chết nơi xa
Còn chi nữa em ước em mơ ?
Em nhớ, em mong, em chờ
Và anh không cần nói yêu em chỉ xin có anh lúc này
Và anh không cần nói yêu em chỉ xin cứ tin,
Vì yêu anh, vì yêu anh…
Sẽ không cần nói yêu em
Chỉ xin có anh lúc này
Và anh không cần nói yêu em chỉ xin cứ tin,
Chỉ yêu anh, chỉ yêu anh, chỉ có mình anh…
Dưới đây mình có bài :
– You Don’t Have to Say You Love Me ( Không Cần Nói Anh Yêu ) – Nhạc Ý lời Anh ( trích )
Cùng với 18 clips tổng hợp nhạc phẩm “ Không Cần Nói Anh Yêu ” ( “ You Don’t Have To Say You Love Me ”, “ Jamais Je Ne Vivrai Sans Toi ”, “ Io Che Non Vivo Senza Te ” ) do những ca sĩ khét tiếng trên quốc tế trình diễn để những bạn tiện việc tìm hiểu thêm và chiêm ngưỡng và thưởng thức .
Mời những bạn ,
Túy Phượng
( Theo Wikipedia )

You Don’t Have to Say You Love Me ( Không Cần Nói Anh Yêu ) – Nhạc Ý lời Anh ( trích )
( Hoài Nam )
Trong “ Cuộc xâm lăng của Anh quốc ” ( British Invasion ) vào nền nhạc phổ thông Hoa Kỳ, tên tuổi lớn nhất sau ban The Beatles phải là Dusty Springfield, nữ ca sĩ gốc Anh nổi tiếng nhất, nhiều lịch sử một thời nhất, nhiều xì-căng-đan nhất, và được ngưỡng mộ nhất trong thập niên 1960 – vốn được nhìn nhận là thập niên “ lớn nhất ” ( greatest ) trong nền ca nhạc văn minh, thường được gọi là “ the Swinging Sixties ” .
Dusty Springfield không chỉ độc lạ với mái tóc vàng chải phồng ( bouffant ), hai mắt đánh mascara thật đậm, luôn luôn mặc áo dạ hội, mà còn điển hình nổi bật với giọng hát, cách hát truyền cảm thiết tha, được xem là một trong những ca sĩ da trắng tiên phong hát nhạc “ soul ” ( blue-eyed soul singer ) và đạt thành công xuất sắc tỏa nắng rực rỡ .
Và một khi nhắc tới tên tuổi của Dusty Springfield, người ta sẽ nhớ ngay tới ca khúc “ cầu chứng ” của bông hồng Anh quốc này : You Don’t Have to Say You Love Me, nguyên là một ca khúc của Ý được đặt lời hát bằng tiếng Anh ; về sau được Phạm Duy đặt lời Việt với tựa Không Cần Nói Anh Yêu .
Trước khi viết về bài hát, xin có đôi dòng về người hát .
Dusty Springfield tên thật là Mary Isobel Catherine Bernadette O’Brien, ra chào đời tại TP. hà Nội Anh quốc năm 1939 trong một mái ấm gia đình trung lưu có truyền thống cuội nguồn yêu ca nhạc. Mary tự học hát từ nhỏ bằng cách bắt chước hai nữ ca sĩ Mỹ chuyên hát nhạc jazz và nhạc pop nổi tiếng đương thời là Jo Stafford ( 1917 – 2008 ) và Peggy Lee ( 1920 – 2002 ) .
Năm 19 tuổi ( 1958 ), cô gia nhập ban tam ca nữ The Lana Sisters, rồi hai năm sau ( 1960 ) rời ban này và xây dựng tam ca The Springfields chuyên hát dân ca và nhạc pop, gồm cô, người anh trai Tom và một giọng nam khác, được biết tới qua những nghệ danh Dusty Springfield, Tom Springfield, và Tim Springfield .
[ Tên “ Springfield ” là ý tưởng sáng tạo của ba người trong một buổi trình diễn tại một đồng cỏ trong khu vui chơi giải trí công viên vương quốc ở Somerset vào mùa xuân. Còn “ Dusty ” là hỗn danh của Mary thời còn đi học, vì cô thường đá banh với bọn con trai ngoài đường phố ]
Năm 1962, The Springfields tới Nashville, Tennessee, TP. hà Nội dân ca Hoa Kỳ để thu album Folk Songs from the Hills. Các ca khúc thông dụng Dusty Springfield nghe được trong thời hạn ở Hoa Kỳ đã giúp cô quy đổi cách hát từ dân ca và country sang pop và rythm and blues ( R&B ), tiếp theo là soul .
Tháng 11 năm 1963, cùng với việc The Springfields được bầu là “ Ban hợp ca nhạc pop hay nhất Anh quốc ” ( Top British Vocal Group ), Dusty Springfield mở màn sự nghiệp hát solo, thu đĩa ca khúc I Only Want to Be with You, và từ đó cái tên “ The Springfields ” chỉ còn trong quá khứ ( riêng Tom Springfield sau này trở thành nhà viết ca khúc và sản xuất đĩa nhạc nổi tiếng ) .
I Only Want to Be with You, một sáng tác của hai nhà viết ca khúc Anh Mike Hawker ( 1936 – năm trước ) Ivor Raymonde ( 1926 – 1990 ), do Dusty Springfield thu đĩa, đã lên tới No. 4 trên bảng xếp hạng tại Anh quốc, hạng 6 ở Úc, hạng 21 ở Gia-nã-đại. Riêng tại Hoa Kỳ, I Only Want to Be with You lên tới hạng 12 trong list Billboard 100 Hot, được ghi nhận là ca khúc thứ ba trong “ Cuộc xâm lăng của Anh quốc ” lọt vào bảng xếp hạng này. Hai ca khúc trước đó là của ban The Beatles : She Loves You ( hạng 69 ) và I Want to Hold Your Hand ( hạng 3 ) .
I Only Want to Be with You được xem là ca khúc pop / rock thông dụng bậc nhất trong thập niên 1960, được nhiều ca sĩ hát lại và đều lọt vào những bảng xếp hạng .
Năm 1966, Dusty Springfield thu đĩa bản You Don’t Have to Say You Love Me, đứng No. 1 ở Anh và No. 4 tại Hoa Kỳ, và tới cuối năm được xếp hạng 35 trong list Billboard 100 Hot của cả năm 1966 .
Yếu tố chính trong sức lôi cuốn của Dusty Springfield là nghệ thuật và thẩm mỹ trình diễn .
Chịu ảnh hưởng tác động của nền nhạc pop Hoa Kỳ, Dusty Springfield đã phát minh sáng tạo một lối hát độc lạ mà những nhà phê bình gọi là “ blue-eyed soul ” sound. Nhà phê bình Jason Ankeny của trang mạng âm nhạc uy tín Allmusic của Mỹ đã xưng tụng Dusty Springfield là “ ca sĩ da trắng hát nhạc soul hay nhất đương thời, một nghệ sĩ trình diễn mang lại những rung động khác thường, trải dài suốt mấy thập niên …, giọng hát trữ tình như xoáy vào tim người nghe, từ những ca khúc đại trà phổ thông với dàn nhạc đệm quy mô, cho tới những bản R&B ray rứt, những bản disco sôi động …, tổng thể đều được miêu tả với sự tinh xảo và chiều sâu không một ai hoàn toàn có thể sánh. ”
“ Soul music ” là một thể loại ( music genre ) trong nền nhạc phổ thông ( popular music ) của Hoa Kỳ mà chúng tôi đã đề cập tới trong một bài trước đây. “ Soul music ” là sự phối hợp giữa nhạc nhà thời thánh của người Mỹ gốc Phi châu ( African-American gospel music ), rhythm and blues ( R&B ) và nhiều lúc cả jazz ; khởi đầu từ thập niên 1950 và trở nên phổ cập trong thập niên 1960 cùng với trào lưu tranh đấu cho nhân quyền của người da đen .
Vì thế, hoàn toàn có thể nói, soul là độc quyền của những ca sĩ Mỹ gốc Phi châu, trong đó có “ nữ hoàng nhạc soul ” Aretha Franklin, thần tượng của Dusty Springfield khi cô chuyển sang hát nhạc soul .
Mặc dù tôn Aretha Franklin làm thần tượng, Dusty Springfield không hề bắt chước cách hát của Aretha. Tính cách độc lạ nơi thẩm mỹ và nghệ thuật trình diễn của Dusty Springfield đã được nhà viết ca khúc nổi tiếng Burt Bacharach miêu tả : “ Chỉ cần nghe ba nốt đầu, bạn đã nhận ra đó chính là Dusty ! ”
[ Burt Bacharach là tác giả của nhiều ca khúc bất hủ, trong đó có bản I say a little prayer do Aretha Franklin trình diễn và The Look of Love do Dusty Springfield hát trong cuốn phim 007 James Bond “ Casino Royale ” năm 1967 ]
Chính vì soul được xem là độc quyền của những ca sĩ Mỹ gốc Phi châu, ngày ấy không ít thính giả những đài phát thanh ở Hoa Kỳ đã lầm tưởng Dusty Springfield là một ca sĩ da đen .
Sau đây, chúng tôi xin trình làng ca khúc bất hủ Ne Me Quitte Pas / If You Go Away qua sự trình diễn của Dusty Springfield, được giới thưởng ngoạn nhìn nhận là một trong những ca sĩ hát bản này đạt nhất .

Điều đáng nói là trong khi góp công đầu vào cuộc “ Cuộc xâm lăng của Anh quốc ” vào nền nhạc phổ thông Hoa Kỳ, Dusty Springfield lại là nghệ sĩ tiên phong trình diễn và tiếp thị thể loại “ soul ” của Hoa Kỳ tới tình nhân nhạc ở Anh quốc nói riêng, Âu châu nói chung, và nhiều vương quốc khác trên quốc tế .
Vì thế, cũng không có gì đáng quá bất ngờ khi Dusty Springfield đã được nhiều tạp chí ca nhạc bình bầu là nữ ca sĩ hát hay nhất, được ngưỡng mộ nhất quốc tế trong ba năm 1965, 1966, 1967 .
Trong năm 1967, tên tuổi của Dusty Springfield đã gắn liền với ca khúc The Look of Love do Burt Bacharach viết riêng cho cuốn phim 007 James Bond “ Casino Royale ” ; ca khúc này được xướng danh giải Oscar ca khúc viết cho phim năm 1968, và cho tới nay vẫn nằm trong list 500 ca khúc bất hủ của quả đât ( tạp chí ca nhạc Rolling Stone ) .
Sau đó, để thu phục thính giả ở Hoa Kỳ, Dusty Springfield đã sang tận Memphis, Tennessee, quê nhà của nhạc soul, thu album Dusty in Memphis, phát hành năm 1969, mà cho tới nay vẫn được những tạp chí ca nhạc Rolling Stone, New Musical Express, những đài truyền hình ca nhạc VH1 ( Hoa Kỳ ), Channel 4 ( Đài truyền hình BBC ), Grammy Hall of Fame ( Danh dự sảnh âm nhạc Hoa Kỳ ) ghi nhận là một trong những album hay nhất lâu nay .
Chỉ có điều đáng tiếc, thật đáng tiếc là Dusty Springfield – người được bình bầu là một trong 25 nữ ca sĩ hay nhất của mọi thời đại – lại có một đời sống cá thể không mấy “ không thay đổi ” và “ lành mạnh ”, dẫn đưa tới một sự xuống dốc về sự nghiệp cũng như niềm tin trong hai thập niên cuối đời .
Được biết, từ đầu thập niên 1970, tức là thời hạn đang ở trên đỉnh danh vọng, Dusty Springfield đã nghiện rượu và ma túy. Người ngưỡng mộ ở Anh thì quy trách cho “ lối sống nghệ sĩ ” ở Mỹ đã làm hư “ bông hồng Anh quốc ”, nhưng cũng có nhiều người tin rằng những bế tắc và buông thả trong đời sống tình cảm cá thể đã khiến Dusty Springfield tìm quên, và tìm vui trong men ruợu và ma túy .
Dusty Springfield chưa khi nào công khai minh bạch nhìn nhận mình là một cô gái lesbian, nhưng mọi người đều biết một điều chắc như đinh : từ ngày nổi tiếng, Dusty Springfield chỉ cặp với đàn bà con gái .
Từ năm 1972 tới 1978, Dusty Springfield chung sống rồi chia tay, chia tay rồi lại chung sống mấy lần với nữ thợ chụp ảnh Mỹ Faye Harris. Năm 1981, Dusty Springfield trải qua một mối tình ngắn với nữ ca nhạc sĩ kiêm diễn viên Carole Pope của Gia-nã-đại .
Năm 1982, Dusty Springfield gặp gỡ nữ diễn viên Mỹ Teda Bracci trong một buổi họp mặt của AA ( tức Alcoholics Anonymous, nơi những người đã bỏ được rượu tự nguyện trợ giúp những người muốn cai rượu ). Tháng 4/1983, hai người khởi đầu chung sống, và tới cuối năm đó, tổ chức triển khai kết hôn .
Vẫn biết phần đông cuộc tình đồng phái nào của Dusty Springfield cũng đầy “ thương tích ” ( nghĩa đen ), do bạo hành và tự tử hụt ( cắt mạch máu ), nhưng trầm trọng nhất phải là cuộc “ hôn nhân gia đình ” với Teda Bracci. Chỉ mấy tháng sau “ ngày cưới ”, đã xảy ra một “ trận chiến đẫm máu ” ( cũng nghĩa đen ) với tác dụng cả hai cùng được đưa vào bệnh viện ; riêng Dusty bị thương nặng hơn do bị Teda lấy một cái nồi đập trúng miệng, gẫy mất mấy cái răng và phải giải phẫu chỉnh hình ! Hai người chia tay vào năm 1984 .
Đầu năm 1994, trong thời hạn thu album ở đầu cuối của mình, A Very Fine Love, ở Nashville, Tennessee, Dusty Springfield bị phát hiện ung thư vú và phải về Anh quốc điều trị. Sau mấy tháng xạ trị, ung thư trong thời điểm tạm thời bị khắc chế, và qua năm 1995, sức khỏe thể chất ra vẻ hồi sinh, Dusty Springfield lên đường tiếp thị album mới của mình. Tuy nhiên, giữa năm 1996, ung thư tái phát, và mặc dầu những bác sĩ đã tận lực chữa trị, hơn 2 năm sau, Dusty Springfield qua đời tại thị xã Henley-on-Thames, tỉnh Oxfordshire ở đông nam Anh quốc vào ngày 2 tháng 3 năm 1999, ngày mà lẽ ra người nữ danh ca sẽ vào Điện Buckingham để Nữ hoàng Elizabeth đệ Nhị trao gắn huân chương cao quý OBE ( Order of the British Empire ) của Hoàng gia Anh .
[ Trước đó, vào tháng 1 năm 1999, do bệnh tình nguy kịch của Dusty Springfield, Nữ hoàng Anh đã đặc cách trao huân chương nói trên cho cô bạn thân Vicki Wickham của Dusty, đem tới bệnh viện gắn trước mặt 1 số ít bạn hữu và người thân trong gia đình ]
Cũng theo lịch trình, Dusty Springfield sẽ được ghi tên vào Danh dự sảnh Rock and Roll của Hoa Kỳ ( Rock and Roll Hall of Fame ) ở Cleveland, Ohio, vào giữa tháng 3/1999. Sau khi Dusty Springfield qua đời, nam ca sĩ Anh Elton John đã đại diện thay mặt người quá cố sang Hoa Kỳ nhận vinh dự này .
Tang lễ của Dusty Springfield được tổ chức triển khai với hàng trăm nghệ sĩ nổi tiếng tham gia tại thánh đường St. Mary the Virgin ở Henley-on-Thames, nơi người nữ danh ca đã sống những năm cuối đời. Theo di chúc, một phần tro cốt của Dusty Springfield được chôn tại Henley-on-Thames, phần còn lại được người anh trai Tom Springfield đem về rải trên mỏm đá Cliffs of Moher nổi tiếng ở Ái-nhĩ-lan, quê ngoại của Mary O’Brien ( tên thật của Dusty Springfield ) .
Sau khi Dusty Springfield mất, hàng chục cuốn phim và vở ca nhạc kịch dựa trên cuộc sống và sự nghiệp của Dusty đã được thực thi, tiên phong là vở Dusty – The Original Pop Diva của Úc, trình diễn ra đời tại Melbourne năm 2006 ; gần đây nhất là vở Forever Dusty của Mỹ, ra đời tại New York City năm 2012 .
Nói tới Dusty Springfield, hầu hết những nhà viết tiểu sử cũng như những ký giả đều chấp thuận đồng ý về một câu hỏi : phải chăng nơi “ bông hồng Anh quốc ” này có hai con người trọn vẹn tương phản : một Mary O’Brien nhát gan, trầm lặng và một Dusty Springfield với những gì tự khoác lên trước mặt người đời ? !
* * *
Sau khi viết về người hát, xin viết về bài hát : You Don’t Have to Say You Love Me, ca khúc “ cầu chứng ” của Dusty Springfield .
Nguyên vào tuần lễ cuối tháng 1/1965, Dusty Springfield đi tham gia hội thi ca khúc Ý ở San Remo ( San Remo Italian Song Festival ) với ca khúc Tu che ne sai ? ( tiếng Anh có nghĩa là What Do you Know ? ) nhưng chỉ vào được tới bán kết .
Tại nhạc hội này, Dusty Springfield được nghe nam ca sĩ Ý Pino Donaggio trình diễn bản Io Che Non Vivo Senza Te ( I, who can’t live without you ) trong phần chung kết, một ca khúc tuy chỉ được xếp hạng 7 tại San Remo, sau đó đã lên No. 1 trên bảng xếp hạng toàn nước Ý. Riêng Dusty Springfield, ngay lúc nghe Pino Donaggio hát bản Io Che Non Vivo Senza Te tại San Remo, mặc dầu không hiểu ý nghĩa lời hát, cô đã khóc .

Trở về Anh, vì bận rộn, phải đợi một năm sau, khi hãng đĩa Philips thu đĩa hòa tấu bản Io Che Non Vivo Senza Te, Dusty Springfield mới nhớ tới việc đặt lời hát bằng tiếng Anh cho ca khúc này, và giao cho cô bạn thân Vicki Wickham, một người làm nghề đại diện thay mặt cho những nghệ sĩ ( agent ), chưa từng cầm bút đặt lời hát khi nào .
Trong bữa ăn tối với bạn trai kiêm đồng nghiệp Simon Napier-Bell, Vicki kể cho Simon nghe việc này, và Simon, vốn cũng không có một chút ít kinh nghiệm tay nghề, đã tỏ ra rất hào hứng .
Simon Napier-Bell, người sau này trở thành ông bầu của Dusty Springfield, thuật lại :
“ Chúng tôi trở về căn flat của Vicki và bắt tay vào việc. Vì trước đó đã dự trù tham gia một buổi disco, chúng tôi chỉ có một giờ đồng hồ đeo tay để viết. Cho nên chúng tôi chỉ viết xong phần điệp khúc, còn phần phiên khúc chúng tôi viết trên xe taxi. ”
Điều đáng nói là cả Vicki Wickham lẫn Simon Napier-Bell đều không hiểu lời hát bằng tiếng Ý. Theo lời kể lại của Vicki, hai người quyết định hành động đặt lời hát mới bằng tiếng Anh với nội dung “ chống tình yêu ” ( anti-love ) mang tựa đề I Don’t Love You ; sau đó thấy coi bộ không có sức lôi cuốn, họ sửa lại thành You Don’t Love Me, rồi You Don’t Have to Love Me, và sau cuối là You Don’t Have to Say You Love Me .
You Don’t Have to Say You Love Me
When I said I needed you
You said you would always stay
It wasn’t me who changed but you
And now you’ve gone away
Don’t you see
That now you’ve gone
And I’m left here on my own
That I have to follow you
And beg you to come home?
You don’t have to say you love me
Just be close at hand
You don’t have to stay forever
I will understand
Believe me, believe me
I can’t help but love you
But believe me
I’ll never tie you down
Left alone with just a memory
Life seems dead and so unreal
All that’s left is loneliness
There’s nothing left to feel
You don’t have to say you love me
Just be close at hand
You don’t have to stay forever
I will understand
Believe me, believe me
You don’t have to say you love me
Just be close at hand
You don’t have to stay forever
I will understand
Believe me, believe me, believe me…
Qua ngày hôm sau, You Don’t Have to Say You Love Me được Dusty Springfield thu đĩa. Thu đi thu lại, người nữ danh ca vốn được miêu tả là “ yên cầu một sự tuyệt đối ” ( a perfectionist ) vẫn không hài lòng với độ vang âm ( acoustics ) của phòng thu âm ( recording booth ), và sau cuối đã quyết định hành động đứng hát ở cầu thang ( stairwell ) .

Năm 2003, trong một bài báo trên tờ The Observer, Simon Napier-Bell hồi tưởng :
“ Đứng trên một bậc thang trong studio của hãng Philips, Dusty đã góp sức người đời màn trình diễn tuyệt vời nhất trong sự nghiệp của mình. Tuyệt vời từ làn hơi tiên phong cho tới khi chấm hết, chỉ hoàn toàn có thể sánh với những Aretha Franklin, Frank Sinatra, hoặc Luciano Pavarotti. Những ca sĩ thượng thặng có năng lực làm đa dạng và phong phú những lời hát tầm thường. Lời hát do Vicki và tôi đặt chỉ có ý nghĩa một lời khuyên nên tránh những thề hứa do rung động nhất thời. Nhưng qua cách miêu tả của mình, Dusty đã biến thành những lời than phiền vô vọng của một người con gái yêu trong đơn độc ” .
Được tung ra vào cuối tháng 3 năm 1966, tới tháng 5, You Don’t Have to Say You Love Me đã lên tới hạng nhất ở Anh quốc và hạng tư ở Hoa Kỳ ; tới cuối năm, được xếp hạng 35 trong list 100 ca khúc hay nhất trong năm 1966 ( Billboard Hot 100 ) .

Sau khi Dusty Springfield qua đời vào đầu năm 1999, You Don’t Have to Say You Love Me đã được thính giả của Đài truyền hình BBC Radio 2 liệt vào list 100 ca khúc hay nhất lâu nay, và đưa vào album Now 42. ( “ Now ”, viết tắt của Now That’s What I Call Music !, là tuyển tập những ca khúc hay nhất của Anh quốc từng đứng No. 1. Now 42 là album thứ 42 )
Tới năm 2004, You Don’t Have to Say You Love Me đã được tạp chí ca nhạc Rolling Stone đưa vào list 500 Greatest Songs of All Time, đứng hạng 491 .
Mặc dù không lên tới No. 1 tại Hoa Kỳ, sau khi được Dusty Springfield thu đĩa, You Don’t Have to Say You Love Me đã trở thành một trong những ca khúc lời Anh được nhiều ca sĩ thu đĩa nhất, qua đủ mọi thể loại, từ pop tới country, từ R&B tới jazz, trong số này có Cher ( cặp song ca Sonny and Cher ), Elvis Presley, Connie Francis, Lynn Anderson, Vikky Carr, Brenda Lee, Patricia Kass, v.v …
You Don’t Have to Say You Love Me cũng là một trong những ca khúc phổ cập nhất, đem lại thành công xuất sắc nhiều nhất cho những nữ thí sinh tham gia những cuộc tuyển lựa năng lực trên truyền hình trong những năm gần đây, như American Idol, The X Factor …
Trong số hàng trăm ca sĩ ngoại bang từ đông sang tây thu đĩa You Don’t Have to Say You Love Me lời Anh, có tối thiểu ba nữ ca sĩ gốc Hoa, trong số này được yêu thích nhất là đĩa của Đặng lệ Quân ( Teresa Deng ). Miki Ando, cựu nữ vô địch múa trên băng ( figure skater ) của Nhật, người hai lần đoạt giải vô địch quốc tế ( 2007, 2011 ), thường sử dụng bản You Don’t Have to Say You Love Me do Đặng Lệ Quân hát làm nhạc đệm cho phần trình diễn của mình .
Các phiên bản tiếng ngoại bang của Don’t Have to Say You Love Me cũng đạt nhiều thành công xuất sắc tỏa nắng rực rỡ, đứng trong Top 10 tại nhiều vương quốc như Đức, Pháp, Phần-lan, Đan-mạch, Hương Cảng, Tân-gia-ba …
Trong số này, đặc biệt quan trọng phiên bản lời Pháp đã được Michel Jourdan dịch từ lời hát trong nguyên bản tiếng Ý với tựa Jamais je ne vivrai sans toi, và được Richard Anthony thu đĩa vào tháng 10 năm 1965, tức là trước khi Dusty Springfield thu You Don’t Have to Say You Love Me. Richard Anthony là nam ca sĩ nổi tiếng của Pháp mà trước đây chúng tôi đã ra mắt qua hai ca khúc Dis-lui que je l’aime ( Tell Laura I Love Her ) và J’entends Siffler le Train ( Five Hundred Miles ) .
JAMAIS JE NE VIVRAI SANS TOI
Tu es là tout près de moi
Et tu ne me parles pas
Mais j’ai bien compris
Crois-moi ce qui se passe en toi
Tu n’as plus confiance
Sans raison tu penses
Dans tes longs silences
Que tu n’es rien pour moi
Moi qui ne peut vivre plus d’une heure loin de toi
Comment puis-je vivre dans un monde où tu n’es pas
Je t’aime, je t’aime bien plus que tu crois
Et jamais je ne vivrai sans toi
Viens plus près écoute-moi
Tu le sais c’est malgré moi
Si je te fais mal parfois
Je t’en prie ne pleure pas
Moi qui ne peux vivre plus d’une heure loin de toi
Comment puis-je vivre dans un monde où tu n’es pas
Je t’aime, je t’aime
Moi qui ne peux vivre plus d’une heure loin de toi
Comment puis-je vivre dans un monde où tu n’es pas
Je t’aime, je t’aime, je t’aime
Cùng khoảng chừng thời hạn này, Jamais je ne vivrai sans toi đã được nữ danh ca kiêm diễn viên Margot Lefebvre của Gia-nã-đại thu đĩa, và điều mê hoặc là đĩa hát này và đĩa của Richard Anthony đã đứng đồng hạng 38 trong list 100 ca khúc hay nhất năm 1966 ở Québec, tỉnh nói tiếng Pháp của Gia-nã-đại .
* * *
Trước năm 1975, Don’t Have to Say You Love Me đã được Phạm Duy đặt lời Việt với tựa Không Cần Nói Anh Yêu. Có thể nói đây là một trong những ca khúc ngoại bang tân tiến được đặt lời Việt đạt nhất của nhà nhạc sĩ họ Phạm .
Không Cần Nói Anh Yêu
Ngày xa xưa, em nói yêu anh
Và anh nói sẽ mãi bên em
Giờ thì duyên ta đã vỡ tan
Em vẫn yêu anh, nhớ anh
Người tình ơi, anh biết chăng anh ?
Đời lẻ loi, em sống chênh vênh
Chỉ cầu mong theo bước chân anh
Theo bước chân anh, thương mến
Và anh không cần nói yêu em chỉ xin có anh lúc này
Và anh không cần nói yêu em chỉ xin hãy tin, hãy tin
Vì yêu người, vì yêu người, thì suốt đời
Em xin là người tình lẻ loi, xa xôi, có thế thôi!
Chỉ một mình bơ vơ ôm mối yêu xưa
Cuộc đi qua như chết nơi xa
Còn chi nữa em ước em mơ ?
Em nhớ, em mong, em chờ
Và anh không cần nói yêu em chỉ xin có anh lúc này
Và anh không cần nói yêu em chỉ xin cứ tin,
Vì yêu anh, vì yêu anh …
Sẽ không cần nói yêu em
Chỉ xin có anh lúc này
Và anh không cần nói yêu em chỉ xin cứ tin,
Chỉ yêu anh, chỉ yêu anh, chỉ có mình anh …..
Ngày ấy, hoàn toàn có thể nói nữ ca sĩ nào trong trào lưu nhạc trẻ ở Hồ Chí Minh cũng đều thích hát bản Không Cần Nói Anh Yêu, và hầu hết người nào cũng hát cả lời Việt lẫn lời Anh, ví dụ điển hình Vi Vân mà chúng tôi ra mắt sau đây .
( Hoài Nam )
oOOo
Io Che Non Vivo Senza Te – Ca sĩ Chiara Civello, Gilberto Gil:
Io Che Non Vivo Senza Te – Ban hợp ca Il Volo:
Io Che Non Vivo Senza Te – Ca sĩ Pino Donaggio:
Io Che Non Vivo Senza Te – Ca sĩ Mina:
Io Che Non Vivo Senza Te – Ca sĩ Francesco Renga:
You Don’t Have To Say You Love Me – Ca sĩ Shelby Lynne:
You Don’t Have To Say You Love Me – Ca sĩ Dusty Springfield:
You Don’t Have To Say You Love Me – Ca sĩ Cher:
You Don’t Have To Say You Love Me – Ca sĩ Elvis Presley:
You Don’t Have To Say You Love Me – Ca sĩ Lani Misalucha:
You Don’t Have To Say You Love Me – Ca sĩ Vikki Carr:
You Don’t Have To Say You Love Me – Ca sĩ Ronee (America’s Got Talent 2016):
Jamais Je Ne Vivrai Sans Toi – Ca sĩ Richard Anthony:
Jamais Je Ne Vivrai Sans Toi – Ca sĩ Margot Lefebvre:
Không Cần Nói Anh Yêu – Ca sĩ Vi Vân:
Không Cần Nói Anh Yêu – Ca sĩ Kiều Nga:
You Don’t Have To Say You Love Me – Nhạc hòa tấu:
You Don’t Have To Say You Love Me – Paul Mauriot:
Share this:
- Thêm
Thích bài này:
Thích
Đang tải …
Có liên quan
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Tình Yêu Giới Tính

