Đề tài nghiên cứu phát triển thị trường bán lẻ Việt Nam – Tài liệu text

Đề tài nghiên cứu phát triển thị trường bán lẻ Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (778.38 KB, 51 trang )

LỜI MỞ ĐẦU
Sau hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều bước tiến đáng kể,
đời sống người dân được nâng cao. Để đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của người dân,
thì không chỉ cần một nền sản xuất tiên tiến, mà bên cạnh đó, hệ thống bán lẻ cũng
đóng một vai trò hết sức quan trọng. Trong những năm gần đây, ngành bán lẻ của Việt
Nam đã có những bước phát triển vượt bậc. Nếu như trong thời kỳ bao cấp chỉ có một
vài cửa hàng mậu dịch của nhà nước mở ra để phục vụ cho những nhu cầu tiêu dùng
cơ bản của người dân, hàng hóa khan hiếm nên việc mua sắm gặp nhiều khó khăn, thì
hiện nay, với việc số lượng doanh nghiệp bán lẻ tăng lên nhanh chóng, hàng hóa đa
dạng phong phú, việc mua sắm đã trở nên thuận tiện hơn rất nhiều. Không chỉ vậy thị
trường bán lẻ còn góp phần thúc đẩy sản xuất hàng hóa, đóng góp đáng kể vào tăng
doanh thu dịch vụ tiêu dùng, phát triển kinh tế đất nước.
Thị trường bán lẻ Việt Nam, đặc biệt là sau khi gia nhập WTO, được nhìn nhận
là một thị trường đầy tiềm năng thu hút sự quan tâm đầu tư của cả các doanh nghiệp
trong nước lẫn các nhà bán lẻ nước ngoài. Theo đánh giá của các chuyên gia, trong
tương lai thị trường này sẽ còn phát triển nở rộ hơn nữa. Tuy nhiên đi cùng với sự phát
triển là sự cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp bán lẻ trong nước và các tập
đoàn phân phối hàng đầu thế giới để giành thị phần trên mảnh đất màu mỡ này. Do đó,
em đã quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Phỏt triển thị trường bán lẻ của Việt
Nam”, với mong muốn tìm hiểu rõ hơn về cơ sở lý luận của bán lẻ, thực trạng thị
trường bán lẻ của Việt Nam, và đưa ra một số kiến nghị, giải pháp.
Chuyên đề của em bao gồm 3 phần chính:
Chương 1 Cơ sở lý luận về thị trường bán lẻ
Chương 2 Thực trạng thị trường bán lẻ của Việt Nam
Chương 3 Một số giải pháp nhằm phát triển thị trường bán lẻ của Việt Nam
trong điều kiện mở cửa thị trường phân phối
Do chuyên đề được viết dưới gúc nhỡn của cá nhân nên không thể tránh khỏi
những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của cô giáo và các bạn.
Qua bài viết này em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Thạc sỹ Bùi Thị
Hồng Việt, cùng các anh chị, cán bộ công chức của Bộ Công Thương, Vụ thị trường
trong nước và Phòng Quản lý dịch vụ phân phối đã tạo điều kiện cho em trong suốt

thời gian vừa qua.
MỤC LỤC
Diễn đàn doanh nghiệp – http://dddn.com.vn/ – 16/04/2009 – Thị trường bán lẻ
Việt Nam: Thiếu mặt bằng kinh doanh – Tiến Dũng 51
Tạp chí điện tử Thương trường – http://thuongtruong.com.vn/ – 11/05/2009 – Dự
báo thị trường bán lẻ 2009 và những giải pháp 51
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ
I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM
Bán lẻ nói chung là hoạt động kinh doanh bằng cách mua với số lượng lớn từ
nhà sản xuất, hoặc nhà bán sỉ rồi chia nhỏ và bán lẻ cho người tiêu dùng nhằm phục vụ
nhu cầu cá nhân hay gia đình.
Theo điều 3 Nghị định số 23/2007/NĐ-CP ngày 12/02/2007
“Bán lẻ là các hoạt động bán hàng hóa và dịch vụ trực tiếp đến người sử dụng
cuối cùng.
Cơ sở bán lẻ là đơn vị thuộc sở hữu của doanh nghiệp để thực hiện việc bán lẻ.”
Tuy nhiên, theo thư gửi Bộ Công Thương Việt Nam ngày 10/04/2008 về quyền
thương mại, Hiệp hội doanh nghiệp Mỹ cho rằng, phạm vi “Bỏn lẻ” và “Cơ sở bán lẻ”
được quy định tại Nghị định số 23 được mở rộng hơn so với các tài liệu giải thích của
WTO. Theo ghi nhận tại tài liệu số W37 của WTO về Dịch vụ phân phối, hoạt động
“bỏn hàng công nghiệp/thương mại cho các doanh nghiệp sử dụng các sản phẩm cuối
cùng như là hóa chất, thiết bị và nguyên vật liệu cho sản xuất” không thuộc phạm vi
bán lẻ.
Nhà bán lẻ là người chuyên bán một số chủng loại sản phẩm hoặc dịch vụ nhất
định cho người tiêu dùng để họ sử dụng vào mục đích cá nhân.
Trong chuỗi giá trị, nhà bán lẻ là mắt xích cuối cùng nối nhà sản xuất với người
tiêu dùng. Vai trò của nhà bán lẻ là cực kỳ quan trọng bởi vì chính ngay tại điểm bán
lẻ người tiêu dùng có cơ hội chọn mua sản phẩm và thương hiệu mà mình ưa chuộng.
Người bán lẻ là người am hiểu nhất nhu cầu của người tiêu dùng, đồng thời người bán
lẻ cũng chính là người nắm bắt được sát thực nhất những thay đổi trong xu hướng tiêu

dùng của khách hàng.
Mặc dù hầu hết hoạt động bán lẻ diễn ra tại các cửa hàng bán lẻ song trong
những năm gần đây hình thức bán lẻ không qua cửa hàng như bán hàng qua thư,
catalogue, điện thoại, Internet, Tivi, máy bán hàng tự động ngày càng phát triển và
trở nên phổ biến.
II. ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA BÁN LẺ
1. Đặc điểm
Bán lẻ là thành viên cuối cùng trong kênh phân phối hàng hoá dịch vụ của doanh
nghiệp, do vậy người bán lẻ tiếp xúc trực tiếp với khách hàng.
Vốn lưu động của doanh nghiệp luân chuyển liên tục, do các hoạt động mua bán
hàng hoá trong doanh nghiệp diễn ra thường xuyên và liên tục.
Các doanh nghiệp bán lẻ thường chọn vị trí đặt cửa hàng ở các khu vực dân cư
những địa điểm dễ nhận biết, dễ nhận ra và cũng được trang trí rất hấp dẫn để khách
hàng dễ nhớ.
Hệ thống kho tàng của doanh nghiệp bán lẻ cũng được thiết kế đặc biệt đảm bảo
luôn đủ hàng để cung cấp cho khách hàng, bảo đảm chất lượng hàng hoá. Đội ngũ
nhân viên bán hàng cũng đươc đào tạo rất chuyên nghiệp, có đầy đủ các kỹ năng bán
hàng.
2. Vai trò
Các doanh nghiệp bán lẻ góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển của ngành và cả
nền kinh tế, là mắt xích cuối cùng trong kênh phân phối, do vậy nó cũng đẩy nhanh tốc
độ chu chuyển hàng hoá từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng.
Những người bán lẻ tiếp xúc trực tiếp với khách hàng nên họ là người trực tiếp
nắm được những thông tin phản hồi từ khách hàng, nắm được những thông tin từ đối
thủ cạnh tranh. Do vậy nó là nguồn cung cấp thông tin đáng tin cậy cho các doanh
nghiệp, từ đó đưa ra các kế hoạch sản xuất nhằm thu được lợi ích cao nhất.
Các doanh nghiệp bán lẻ cũng góp phần quan trọng vào việc giải quyết các vấn
đề xã hội như: tạo việc làm cho người lao động, tăng thu nhập, làm giảm các tệ nạn xã
hội (do không có việc làm) đóng góp vào ngân sách Nhà nước và tham gia vào các
hoạt đông văn hoá xã hội.

Các doanh nghiệp bán lẻ hoạt động và phát triển trong mối quan hệ chặt chẽ với
các doanh nghiệp thương mại, các doanh nghiệp sản xuất, góp phần đẩy nhanh tốc độ
tiêu thụ hàng hoá dịch vụ trên thị trường.
III. CHỨC NĂNG CỦA BÁN LẺ
1. Khai thác một số nhóm mặt hàng và dịch vụ thích hợp
Cửa hàng bán lẻ cần phải khai thác một số lượng lớn các sản phẩm được sản
xuất bởi nhiều công ty khác nhau. Điều nầy là cần thiết vỡ nó mang lại cho khách hàng
sự thoải mái trong việc lựa chọn sản phẩm, nhãn hiệu, mùi vị, màu sắc, quy cách bao
bì đóng gói và cả các mức giá khác nhau. Chính vì vậy cho nên các cửa hàng bán lẻ
phải rất thận trọng trong việc chọn lưa những nhóm hàng hóa và dịch vụ thích hợp
nhất cho từng cửa hàng, phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng ở khu vực mà cửa
hàng tọa lạc.
Nếu nhiệm vụ chính của các nhà sản xuất là sản xuất ra sản phẩm tốt thì cửa
hàng bán lẻ giúp tiếp thị những sản phẩm này đến người tiêu dùng. Chẳng hạn như
Vinamilk sản xuất các sản phẩm sữa, Daso sản xuất xà phòng, Mỹ Hảo sản xuất ra
nước rửa chén, Nam Dương sản xuất nước chấm và Bibica sản xuất bánh kẹo. Cho dù
các nhà sản xuất trờn cú tự đứng ra tổ chức cửa hàng bán lẻ để phân phối sản phẩm
của mỡnh thỡ cũng khó lòng để người tiêu dùng có thể chấp nhận bỏ thời gian đi đến
hàng chục cửa hàng khác nhau để mua cho đủ những thứ mà mình cần dùng trong
ngày. Đó là lý do vì sao cửa hàng bán lẻ là trở thành một điểm mua sắm được người
tiêu dùng trên thế giới ưa chuộng.
Tuy tất cả các cửa hàng bán lẻ đều cung cấp rất nhiều mặt hàng và thương hiệu
khác nhau, nhưng mỗi cửa hàng đều có một xu hướng thiên về một nhóm sản phẩm
làm nòng cốt.
2. Chia những lô hàng lớn thành những đơn vị nhỏ.
Từ retailler bắt nguồn từ tiếng Pháp mang nghĩa là cắt nhỏ, chia nhỏ. Chúng ta
đều biết rằng bán sản phẩm trực tiếp đến người tiêu dùng là điều không hề đơn giản
đối với đa số các nhà sản xuất và các nhà bán sỉ. Do vậy các nhà sản xuất và các nhà
bán sỉ ưa thường thớch bỏn từng lô lớn cho những nhà bán lẻ chuyên nghiệp để họ
chia nhỏ ra rồi bán lại cho người tiêu dùng theo qui cách phù hợp với thói quen mua

sắm của người tiêu dùng tại địa phương ấy.
Chẳng hạn như nhà sản xuất bia sẽ cung cấp cho nhà phân phối từng xe tải, nhà
phân phối sau đó bán lại cho nhà bán lẻ mỗi lần có thể chỉ vài két, để nhà bán lẻ cuối
cùng bán lại cho người tiêu dùng một vài chai.
3. Lưu trữ sẵn hàng hóa
Một trong những chức năng chính của nhà bán lẻ là lưu trữ hàng hóa nhằm làm
cho hàng hóa lúc nào cũng có sẵn mỗi khi người tiêu dùng cần đến. Người bán lẻ
thông thường không thích trữ chỉ một vài mặt hàng với khối lượng lớn, ngược lại họ
thích trữ nhiều mặt hàng với khối lượng càng nhỏ càng tốt. Vì như thế khách hàng
luôn luôn có nhiều sự chọn lựa hơn. Hưởng lợi từ chức năng này của người bán lẻ,
khách hàng không phải mua trữ nhiều sản phẩm trong nhà. Họ chỉ mua đủ dùng vì sản
phẩm lúc nào cũng có sẵn ở cửa hàng bán lẻ.
Không những thế, người bán lẻ còn dự đoán nhu cầu của khách hàng khi lên kế
hoạch dự trữ hàng. Đây là một lợi ích mà người bán lẻ tạo ra cho khách hàng, khi nhu
cầu phát sinh, khách hàng luôn dễ dàng tìm thấy thứ mà mình cần.
4. Trưng bày hàng hóa và cung cấp dịch vụ cộng thêm.
Bên cạnh những chức năng trên, nhà bán lẻ còn tạo ra mặt bằng trưng bày hàng
hóa rộng lớn có thể trưng bày hàng hóa một cách đa dạng và phong phú, giúp khách
hàng thoải mái xem, thử, chọn lựa trước khi quyết định mua.
Không chỉ chấp nhận thanh toán bằng những loại thẻ tín dụng phổ biến, nhiều
nhà bán lẻ còn phát hành thẻ tín dụng riêng của họ nhằm giúp cho khách hàng có được
một hạn mức tín dụng để mua hàng trước và trả tiền sau.
IV. PHÂN LOẠI
Thể loại bán lẻ của một cửa hàng chính là sự tập hợp những chủng loại hàng hóa
và dịch vụ mà cửa hàng ấy chọn vào danh mục phục vụ, và bao gồm những yếu tố
dưới đây:
– Đặc tính của chủng loại hàng hóa và dịch vụ mà cửa hàng ấy phục vụ
– Chính sách giá mà cửa hàng ấy theo đuổi
– Chính sách của cửa hàng đối với hoạt động quảng cáo và khuyến mãi
– Chính sách của cửa hàng về mặt thiết kế, trưng bày

– Vị trí ưa chuộng
– Qui mô của cửa hàng
Tùy theo từng yếu tố mà có những cách phân loại khác nhau. Trên thế giới thể
lọai bán lẻ là vô cùng đa dạng, nhưng chung quy lại, dưới đây là những thể loại phổ
biến nhất.
1. Cửa hàng bán lẻ chuyên dùng
Chỉ bán một số ít sản phẩm và người tiêu dùng cú ớt sự lựa chọn trong số những
sản phẩm này, hoặc chuyên bán các sản phẩm của một thương hiệu, hoặc chỉ bán một
loại sản phẩm nhưng có nhiều nhãn hiệu cho khách hàng lựa chọn. Ví dụ các cửa hàng
chỉ bán đồ mỹ phẩm nhưng của rất nhiều hãng khác nhau, từ trong và ngoài nước,
Levi’s chỉ bán đồ thời trang của Levi’s, Biti’s chỉ bán giầy dép mang thương hiệu này.
2. Cửa hàng bách hóa
Bán nhiều loại sản phẩm khác nhau, chủ yếu là quần áo, đồ trang trí, trang sức,
đồ dùng trong gia đình. Mỗi loại sản phẩm được bán tại một khoang trong cửa hàng và
được điều hành bởi những nhân viên am hiểu về loại hàng hóa đú. Ví dụ, cửa hàng bán
lẻ Diamond Plaza, Parkson, Loại hình cửa hàng này thường bỏn cỏc loại sản phẩm
với chất lượng tốt, của các thương hiệu nổi tiếng, do đó giá thành cũng khá cao, phục
vụ chủ yếu cho những người có thu nhập khá trở lên. Do đó không phổ biến và được
ưa chuộng bằng loại hình cửa hàng bán lẻ chuyên dụng hay các cửa hàng tạp hóa, siêu
thị, với giá cả phải chăng, đáp ứng được yêu cầu của đại bộ phận người dân, và có
cung cách phục vụ nhanh chóng, tiện lợi.
3. Siêu thị
Siêu thị là một cửa hàng tự phục vụ, tương đối lớn, chi phí thấp, mức lợi thấp,
khối lượng lớn, được thiết kế để phục vụ tất cả những nhu cầu của người tiêu dùng về
thực phẩm, hàng tiêu dùng và các sản phẩm trang trí nội thất, ví dụ: Metro, Big C,
Intimex,… Xã hội càng phát triển, loại hình phân phối càng đa dạng, và siêu thị cũng
vì thể mà càng mở rộng quy mô cũng như diện tích. Ngày nay với xu thế cạnh tranh
ngày càng mạnh giữa các siêu thị hay với các cửa hàng chuyên doanh, nhiều doanh
nghiệp đã mở các siêu thị chuyên doanh như: siêu thị điện tử điện lạnh, siêu thị quần
áo hoặc chia diện tích siêu thị thành các toa khác nhau để hấp dẫn khách hàng, lôi kéo

khách hàng về với mình.
4. Siêu thị bỏch hoỏ, siêu thị tổng hợp, và tổ hợp thương mại.
Siêu thị bỏch hoỏ là có mặt bằng khoảng 35.000 foot vuông và nhằm mục đích
thoả mãn đầy đủ các nhu cầu của người tiêu dùng về thực phẩm mua hàng ngày và
những mặt hàng không phải thực phẩm, có thể nó cũng đảm bảo cả dịch vụ như giặt là,
sửa chữa giày dép, đổi séc ra tiền mặt và thanh toán hoá đơn, các quầy điểm tâm rẻ
tiền.
Siêu thị tổng hợp là một dạng siêu thị đa dạng hoỏ cỏc mặt hàng, có bán cả thực
phẩm và dược phẩm, có mặt bằng trung bình khoảng 55.000 foot vuông.
Tổ hợp thương mại có diện tích lớn hơn nữa có diện tích khoảng 80.000 đến
220.000 foot vuông. Tổ hợp thương mại kết hợp siêu thị và các nguyên tắc bán lẻ có
chiết khấu và bán lẻ tại kho. Danh mục sản phẩm của nó vượt ra ngoài phạm vi những
hàng hoá thông thường bao gồm cả đồ gỗ, các thiết bị lớn và nhỏ, quần áo, và rất nhiều
những mặt hàng khác. Nguyên tắc cơ bản là xếp hàng thành đống và giảm đến mức tối
thiểu công việc bốc xếp cho nhân viên bán hàng, có đảm bảo chiết giá cho những
khách hàng sẵn sàng chuyên chở lấy những thiết bị và đồ gỗ nặng từ cửa hàng về nhà.
5. Cửa hàng hạ giá.
Cửa hàng hạ giá bán những hàng hoá tiêu chuẩn với giá thấp do chấp nhận mức
giá thấp và bán với khối lượng lớn hơn. Việc sử dụng biện pháp giảm giá từng đợt hay
vào những dịp đặc biệt không làm cho cửa hàng trở thàng cửa hàng hạ giá. Cửa hàng
hạ giá đích thực thường xuyên bán hàng với giá thấp hơn, bán phần lớn là những nhãn
hiệu toàn quốc chứ không phải kém phẩm chất. Những cửa hàng hạ giá đầu tiên cắt
giảm chi phí bằng cách sử dụng những cơ sở giống như nhà kho ở những khu vực tiền
thuê nhà rẻ, nhưng đông người qua lại. Họ cắt giảm mạnh giá cả, quảng cáo rộng rãi
và bỏn cỏc chủng loại sản phẩm với bề rộng và bề sâu vừa phải. Những năm gần đây
nhiều người bán lẻ hạ giá đã ăn nên làm ra. Họ đã cải thiện trang trí nội thất, bổ sung
thờm cỏc loại hàng hoá và dịch vụ mới, mở những chi nhánh ở vùng ven đô. Tất cả
những điều đú đó dẫn đến chi phí và giá cả cao hơn, và khi các cửa hàng bỏch hoỏ
tổng hợp cắt giảm giá của mình để cạnh tranh với những người bán hạ giá, thì sự khác
biệt giữa những cửa hàng hạ giá và các cửa hàng bỏch hoỏ tổng hợp đã bị xoá nhoà đi.

Khu vực bán lẻ cũng phát triển ra ngoài phạm vi cửa hàng bán nhiều chủng loại
hỗn hợp thành những cửa hàng chuyên doanh như: cửa hàng đồ dùng thể thao hạ giá,
cửa hàng quần áo hạ giá, cửa hàng sách hạ giá, cửa hàng điện tử hạ giá.
6. Những người bán lẻ lộng giá.
Khi những cửa hàng hạ giá chủ yếu đã tăng giá, đã xuất hiện một làn sóng mới
của những người bán lẻ lộng giá để lấp đầy chỗ trống giá thấp. Những người bán hạ
giá thông thường mua hàng với giá bán sỉ thường xuyên và chấp nhận mức lợi nhuận
thấp để bán với mức giá bán thấp. Còn những người bán lẻ lộng giá thường mua hàng
với mức giá bán thấp hơn giá bán sỉ và bán cho ngươi tiêu dùng với giá thấp hơn giá
bán lẻ. Họ có xu hướng bán một số hàng hoá có chất lượng tương đối cao, luôn thay
đổi và không ổn định. Thường là những hàng hoá còn dư, những lượng hàng sản xuất
vượt quá đơn đặt hàng và hàng sai quy cách, được người sản xuất hay người bán lẻ
khác giảm giá. Người bán lẻ lộng giỏ đó xâm nhập mạnh nhất vào lĩnh vực quần áo,
phụ tùng và giầy dép.
Có ba kiểu bán lẻ lộng giá chính là: các cửa hàng của nhà máy, người bán lẻ
độc lập và hội kho. Cửa hàng của nhà máy thuộc quyền sở hữu của nhà sản xuất và do
người sản xuất điều hành, thường bán những hàng hoá dư thừa, chấm dứt sản xuất hay
sai quy cách. Hội kho bán hàng chỉ bán một số hạn chế những mặt hàng tạp phẩm,
thiết bị có tên nhãn và nhiều hàng hoá khác với mức chiết khấu cao cho những hội
viên đúng phớ tham gia hội.
7. Phòng trưng bày catalog.
Phòng trưng bày catalog bán với giá hạ rất nhiều các chủng loại hàng hóa có tên
nhãn, lưu thông nhanh, giá cao. Trong số đú cú đồ kim hoàn, dung cụ điện, máy ảnh,
túi sách, đồ chơi và đồ thể thao. Phòng trưng bày catalog kiếm tiền bằng cách cắt giảm
chi phí và mức lời để đảm bảo giá thấp nhằm tăng khối lượng bán ra. Các phòng trưng
bày catalog trong những năm gần đây, đã phải đấu tranh để giử vững thị phần của
mỡnh trờn thị trường bán lẻ.
8. Chợ phiên.
Chợ phiên nói chớnh xác là chợ họp theo phiên. Chợ phiên đã hình thành rất
sớm ở Châu Âu, gắn liền với các lễ hội tôn giáo thời xưa. Những phiên chợ này có

thời kì họp khá đều đặn, nhưng dần dần chợ chỉ họp vào những ngày nhất định. Hàng
hoỏ bỏn ở chợ phiên thường là những hàng hoá chất lượng thấp, hàng không cú nhón
mác và hàng đã qua sử dụng. Ngoài ra những thương nhân bán ở chợ phiên thường
được coi là những kẻ lừa gạt, chợ phiên còn gắn với những tật xấu như nạn ăn cắp vặt,
móc túi vì vậy chợ phiên còn đươc coi là “chợ trời”. Ngày nay những chợ phiên vẫn
còn tồn tại và hoạt động ở khắp nơi trên thế giới. Chợ phiên gồm tập hơp cá nhà bán lẻ
độc lập, bán nhiều hàng hoá khác nhau, cả cũ và mới và cũng có thể mặc cả được. Số
lượng chủng loại hàng hoỏ bỏn ở chợ phiên là không giới hạn và người mua có thể
thấy bất kì hàng hoỏ gỡ ở đây. Chợ phiên có thể họp thường xuyên hay chỉ họp vào
những ngày cuối tuần, có thể có những quầy hàng bán trong nhà hoặc bày bán ngoài
trời, những nhà bán lẻ thuê không gian bán hàng và tự lo những gì cần thiết cho việc
bày bán hàng.
Chương 2
THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ CỦA VIỆT NAM
I. KHÁI QUÁT VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH BÁN LẺ Ở VIỆT NAM
Ngành bán lẻ Việt Nam đã có những bước tiến dài sau hơn 20 năm đổi mới, cả
về chất lượng lẫn số lượng. Cơ cấu ngành bán lẻ đó cú những biến đổi sâu sắc, từ chỗ
chủ yếu do Nhà nước, hợp tác xác chiếm độc quyền và đơn loại hình (cửa hàng bách
hóa và cửa hàng hợp tác xã bán hàng theo phương thức xếp hàng, tem phiếu) đã
chuyển sang ngành bán lẻ đa loại hình với nhiều thành phần kinh tế tham gia.
Biểu đồ 1: Tỷ trọng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 1998
(Nguồn: Số liệu của tổng cục thống kê Việt Nam)
Biểu đồ 2: Tỷ trọng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2008
(Nguồn: Số liệu của tổng cục thống kê Việt Nam)
Các loại hình bán lẻ ngày càng phát triển đa dạng, xuất hiện nhiều phương thức
kinh doanh tiên tiến hiện đại. Nếu như trước đây 100% hàng hóa bán lẻ thông qua các
cơ sở bán lẻ truyền thống, thì hiện nay, theo thống kê của Bộ Thương mại, khoảng
40% hàng hóa đến tay người tiêu dùng qua hệ thống chợ, 44% qua cửa hàng bán lẻ
truyền thống, 10% qua hệ thống phân phối hiện đại như siêu thị, trung tâm thương
mại, và 6% là do nhà sản xuất bán trực tiếp cho người tiêu dùng.

Các loại hình bán lẻ truyền thống như chợ đã được nhà nước quan tâm nâng cấp
và xây mới, đảm bảo mỹ quan, văn minh và thói quen mua sắm hiện đại của người tiêu
dùng. Ngoài ra, cùng với sự ra đời của rất nhiều siêu thị, trung tâm thương mại, cửa
hàng tiện lợi, đại lý,… không chỉ ở các thành phố mà còn ở cả các thị trấn, các tỉnh lẻ,
ngay cả ở trong làng, xã cũng xuất hiện nhiều cửa hàng bán lẻ, đã tạo điều kiện thuận
lợi cho việc mua sắm của người dân nói riêng và góp phần thúc đẩy sản xuất hàng hóa,
tăng doanh thu dịch vụ tiêu dùng nói chung.
Bên cạnh đó, nhận thức được tầm quan trọng của hệ thống phân phối đối với sự
thành công của doanh nghiệp, nhiều nhà sản xuất cũng đã tự thiết lập hệ thống cửa
hàng, đại lý chuyên bán các hàng hóa mang thương hiệu của mình, như Vinamilk,
Honda, Ninomaxx,… Ngoài ra, cùng với sự bùng nổ công nghệ thông tin, những loại
hình bán hàng trực tuyến, qua cỏc kờnh mua sắm trên truyền hình hoặc các trang bán
hàng trực tuyến trên internet cũng dần được áp dụng rộng rãi, đặc biệt là với các mặt
hàng điện tử như máy tính, điện thoại di động, một số mặt hàng tiêu dùng như quần áo,
sách báo.
1. Sự phát triển của các loại hình bán lẻ ở Việt Nam
1.1 Hệ thống chợ truyền thống
Nói đến thị trường bán lẻ nông thôn là nói đến chợ, chợ quê đối với người dân
nông thôn đã gắn bó từ bao đời đến nay. Không chỉ ở nông thôn, mà ngay ở các thành
phố lớn thì chợ vẫn là mô hình bán lẻ phổ biến từ xưa đến nay. Khảo sát của Vụ Chính
sách thị trường còn cho thấy, hệ thống siêu thị hiện đại của nước ngoài vẫn không thể
đè bẹp được cách buôn bán truyền thống đang tồn tại ở Việt Nam. Chỉ trong vòng 2
năm 2005-2006, cả nước đó cú 203 chợ được xây dựng hoặc cải tạo. Đến cuối năm
2008, trên địa bàn cả nước có 8.333 chợ các loại (không tính các chợ hình thành tự
phát). Trong đó, chợ bán lẻ phục vụ dân sinh ở cỏc xó, phường, thị trấn, thị tứ chiếm
tỷ trọng lớn, tới 91,5%, chợ tổng hợp bán buôn, bán lẻ hạng I chiếm 2,92%, chợ biên
giới, cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế cửa khẩu chiếm 1,9%, nhiều nhất là ở vùng Đông
Bắc Bộ.
Trung bình, cứ một xã, phường, thị trấn có 0,71 chợ, trong đó khu vực phía Bắc
và vựng Tõy Nguyên có mật độ chợ thấp hơn so với mức chung của cả nước và so với

khu vực phía Nam, và cứ 42,13 km
2
có một chợ, hay bán kính phục vụ trung bình của
một chợ là 3,66 km.
Cũng theo thống kê của Bộ Thương mại, hàng hóa đến tay người tiêu dùng chủ
yếu qua hệ thống chợ (khoảng 40%), cửa hàng bán lẻ truyền thống (44%), hệ thống
phân phối hiện đại chỉ mới chiếm khoảng 10%, 6% là do nhà sản xuất bán trực tiếp.
Khảo sát của Nestlộ Việt Nam cũng cho thấy, 90% các bà nội trợ Việt Nam vẫn mua
đồ ở các chợ truyền thống.
Trong Đề án phát triển thương mại đến 2010 và định hướng đến 2020 vừa được
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, các loại hình chợ như chợ ở nông thôn, vựng sõu,
vựng xa, vùng biên giới, hải đảo và chợ trung tâm, chợ chuyên doanh, chợ đầu mối ở
cỏc vựng sản xuất nông sản tập trung, các thị trường tiêu thụ lớn cũng được đẩy
mạnh phát triển.
1.2 Hệ thống siêu thị và trung tâm thương mại
Song song với hệ thống chợ ngày càng phát triển thì loại hình bán lẻ hiện đại
(siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi ) cũng được Nhà nước chủ trương
mở rộng. Đến cuối năm 2008, cả nước có 386 siêu thị, trung tâm thương mại. Các siêu
thị có quy mô lớn vẫn tập trung chủ yếu ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh (chiếm
khoảng 43,26%), con số này ở Đà Nẵng là khoảng 5,18%. Chỉ tớnh riờng ở Hà Nội,
hiện nay đó cú 9 trung tâm thương mại vừa và lớn, 53 siêu thị và cửa hàng tự chọn,
gần 30 cửa hàng bách hóa, khoảng 10.000 cửa hàng bán lẻ.
Các siêu thị, ngoài việc bán đa dạng các mặt hàng, có những đầu tư sâu cho các
phân khúc khác nhau. Chẳng hạn, Metro nhắm vào kênh doanh nghiệp, khách sạn, nhà
hàng, tiệm cà phờ…. Vinatexmart chuyên doanh hàng may mặc của doanh nghiệp Việt
Nam. Medicare chuyên sản phẩm chăm sóc sức khoẻ. Tuy nhiên, xét theo tính chất của
hoạt đông kinh doanh, có thể chia các siêu thị ở Việt Nam hiện nay làm hai loại chính:
– Siêu thị tổng hợp như Big C, Metro, Intimex, … với số lượng mặt hàng đa
dạng về cả chủng loại và nhãn hiệu
– Siêu thị chuyên doanh như siêu thị điện máy (Pico Plaza, An Dương home

center), siêu thị đồ nội thất (Mê Linh Plaza), siêu thị điện thoại di động (thế giới di
động, mobile mart),…
Tốc độ gia tăng trong đầu tư của các tập đoàn bán lẻ và kinh doanh siêu thị gần
đây cho thấy một tiềm năng rất lớn trong lĩnh vực này tại Việt Nam. Theo Bộ Công
Thương, thị trường bán lẻ của Việt Nam được đánh giá mỗi năm đạt doanh thu hơn 20
tỷ USD, có tốc độ tăng trưởng đến 30%/năm, với gần 85% người dân thành thị ở khu
vực phía Nam thường xuyên mua sắm tại các siêu thị, trung tâm thương mại.
Theo kết quả khảo sát của Công ty Tư vấn bất động sản Quốc tế CBRE, hiện
thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 90.000m
2
diện tích trung tâm thương mại dành cho
thuê, và 92% diện tích đã được thuờ. Các trung tâm thương mại có lợi thế kinh doanh,
giá cho thuê trung bình khoảng 140 USD/m2/thỏng. Đây là mức giá cao ngất ngưởng,
ngang hàng với Singapore, Hong Kong hoặc Bangkok (Thái Lan)… nhưng hầu như
lúc nào việc cho thuê trung tâm thương mại cũng ở trong tình trạng sốt, thiếu mặt
bằng. Và vì vậy, nhiều nhà đầu tư đã nhanh chóng nhảy vào lĩnh vực đầy hấp dẫn này.
Các trung tâm thương mại không chỉ tăng nhanh tại thành phố Hồ Chí Minh và
Hà Nội, mà sẽ còn mở rộng ra các tỉnh, thành khác. Nha Trang có dự án khu liên hợp
Hòn Ngọc Việt (đảo Hòn Tre) do Công ty TNHH Hòn Tre đầu tư. Ngoài các khu vui
chơi giải trí, mua sắm… tại đây còn có hệ thống cáp treo vượt biển dài nhất thế giới
với 3.310m (dài hơn nhiều lần so đường cáp treo của Singapore tới đảo Sentosa). Chỉ
riêng kinh phí dự án này đã ngốn hết 105 tỷ đồng. Tại Đà Nẵng, các khu thương mại
cao cấp cũng được bao gồm trong dự án đa chức năng Indochina Riverside Towers với
tổng vốn đầu tư 27 tỷ USD (100% vốn đầu tư nước ngoài của Công ty TNHH
Indochina Tower), bao gồm 2 tòa thỏp với các khu thương mại văn phòng và căn hộ
cho thuê. Tại Vũng Tàu cú Đông Hải Building…
Mới đây, Saigon Co.op đã bắt tay với Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn
(SATRA), Tổng công ty thương mại Hà Nội (Hapro) và Công ty TNHH Phỳ Thỏi
thành lập Công ty cổ phần đầu tư và phát triển hệ thống phân phối Việt Nam (VDA).
Từ nay đến cuối năm 2008, VDA đầu tư 1.500 tỉ đồng để xây dựng cơ sở hạ tầng

thương mại, hệ thống tổng. Từ 2008-2011 sẽ đầu tư tiếp 3.000-6.000 tỉ đồng xây dựng
các đại siêu thị, trung tâm phân phối bán buôn, mua bán để tạo thành tập đoàn phân
phối số 1 Việt Nam và đầu tư ra nước ngoài. Ngoài ra, Satra đã cùng với Saigon Co.op
liên kết để xây dựng các siêu thị với tổng vốn đầu tư khoảng từ 45-55 tỷ đồng/dự án.
Trước mắt, Satra – Co.opMart sẽ triển khai xây dựng 2 siêu thị tại Đà Nẵng và Long
Xuyên. Bên cạnh đó, mỗi đơn vị cũng đang tiếp tục triển khai các dự án liên kết với
các tỉnh để nhanh chóng phủ kín siêu thị, trung tâm thương mại tại nhiều tỉnh thành
khác như Quảng Ngãi, Bình Định, Tõy Nguyờn, Đồng Nai…
Tuy nhiên, hầu hết các siêu thị có quy mô lớn đều do các nhà doanh nghiệp bán
lẻ quốc tế đầu tư, như Metro, Big C…Hiện nay, tại thị trường Việt Nam, Metro Cash
& Carry (Đức) đã mở siêu thị thứ 9 ở Cần Thơ; Big C đã mở siêu thị thứ 8 tại Huế và
đang xúc tiến xây dựng thêm 2 đại siêu thị tại Đồng Nai và An Giang trong năm 2009,
Parkson (Malaysia) cũng đang có 5 siêu thị hoạt động Các hệ thống siêu thị do các
nhà đầu tư nước ngoài thiết lập đều rất bài bản, văn minh và hoạt động hiệu quả.
Trong khi đó, các siêu thị nội địa vẫn ở trong tình trạng diện tích nhỏ, trang thiết
bị thô sơ và sử dụng lao động phổ thông. Từ đầu năm 2009 đến nay, Hapro khai
trương 4 siêu thị đồng giá mang thương hiệu Daiso – do Nhật Bản nhượng quyền.
Tháng 6/2009, Hapro khai trương 2 siêu thị Hapro Mart tại chợ Bưởi và khu chung cư
Kim Chung, Đông Anh, Hà Nội, nâng tổng số siêu thị, cửa hàng tiện ích của đơn vị lên
30 điểm kinh doanh tại Hà Nội và 4 tỉnh phía Bắc. Hệ thống siêu thị Saigon Corp từ
đầu năm 2009 đến nay, đã mở 2 siêu thị tại Bình Phước và Vũng Tàu, nâng tổng số
điểm bán lẻ lên 37. Tuy nhiên, quy mô siêu thị Hapro và Saigon Corp vẫn ở dạng nhỏ,
nguồn hàng không thật sự phong phú.
1.3 Hệ thống cửa hàng bán lẻ tự chọn
Hiện nay, loại hình cửa hàng bán lẻ tự chọn ngày càng gia tăng về số lương, quy
mô và phương thức hoạt động theo hướng chuyên nghiệp.
Cửa hàng tự chọn là loại mô hình cửa hàng bán lẻ theo phương thức tự phục vụ
nhằm đáp ứng nhu cầu mua sắm thuận tiện của khách hàng, kinh doanh chủ yếu là
thực phẩm, đồ uống, đồ đóng hộp. Diện tích bán hàng từ 30m
2

đến 250m
2
. Loại hình
bán lẻ này có ưu điểm là quy mô nhỏ, đầu tư không lớn, thường là các hộ gia đình tự
lập ra những cửa hàng nhỏ ở ngay trong nhà mình, thuận tiện cho việc phục vụ nhu
cầu tiêu dùng của người dân hơn là các siêu thị. Từ gốc là các tiệm tạp hoá, nhiều
người bán đã nâng cấp lên thành cửa hàng tự chọn, nhưng hình thức dịch vụ vẫn mang
sự thân thiện, tính tiền thủ công như tiệm tạp hoá cũ, nờn khỏch thấy tiện hơn mà
người bán cũng tiết kiệm được nhiều chi phí.
Nhiều cửa hàng tạp hoỏ cú diện tích rộng đã kết hợp với các nhà cung cấp thay
đổi trình bày, trang bị máy trữ lạnh, tính tiền bằng mỏy… và hình thành các siêu thị
mini. Cửa hàng trước đây khá xập xệ, người mua và người bán được ngăn cách nhau
bằng cái tủ to, khách muốn mua gì phải hỏi người bán, và mất thời gian lục tìm mặt
hàng cần mua. Còn nay cửa hàng được thiết kế lại theo dạng tự chọn nên lượng khách
đến mua đông hơn, doanh số cũng tăng lên rất nhiều.
1.4 Hệ thống bán lẻ do các nhà sản xuất tổ chức và điều phối
Hiện nay, rất nhiều công ty đã thiết lập hệ thống bán lẻ sản phẩm của riêng mình,
ví dụ công ty Sony, Biti’s, Vinatex, Mobifone Hệ thống bán lẻ trực tiếp này ngoài
chức năng bán hàng thường nhằm vào hai mục đích chính:
– Sử dụng điểm bán lẻ làm kênh truyền thông tương tác với người tiêu dùng.
Những điểm bán lẻ do nhà sản xuất trực tiếp tổ chức thường chọn ở những vị trí rất
quan trọng và được đầu tư rất lớn về hệ thống nhận diện thương hiệu. Cửa hàng được
xem như là một điểm quảng cáo cố định, phần lớn diện tích mặt tiền được sử dụng với
mục đích truyền thông xây dựng thương hiệu.
– Làm kênh kiểm chứng giá và chất lượng sản phẩm kiêm dịch vụ khách hàng.
Giá bán ở những cửa hàng do nhà sản xuất trực tiếp tổ chức là giá chuẩn cố định và
thường cao hơn giá do các nhà bán lẻ khác. Do vậy khách hàng đến mua sản phẩm từ
những cửa hàng này thường là những phân khúc khách hàng mua sự yên tâm, họ chấp
nhận giá cao để được yên tâm là chất lượng sản phẩm và dịch vụ hậu mãi được bảo
đảm. Hoặc là những khách hàng ưa chuộng công nghệ mới vì những sản phẩm mới

thường được đưa ra giới thiệu ở những cửa hàng này trước khi tung ra bán rộng rãi
trên thị trường.
Ở những điểm bán lẻ này, hầu hết mặt hàng đều là sản phẩm mang nhãn hiệu của
công ty. Cửa hàng bán lẻ sẽ nhận được những ưu đãi, hỗ trợ nhất định từ phía công ty,
như cung cấp nguồn hàng, bảng hiệu quảng cáo, giá cả ưu đãi, có chiết khấu và thưởng
trên mỗi sản phẩm bán ra, và thưởng nếu đạt được mức doanh thu cao,…
Điển hình là công ty Sony Việt Nam với việc lựa chọn trên 100 nhà kinh doanh
sản phẩm điện tử khắp cả nước, thành lập Hội đại lý bán lẻ Sony Việt Nam. Tiêu
chuẩn để lựa chọn nhà kinh doanh là trưng bày sản phẩm của công ty trong cửa hàng ít
nhất là 50% trên tổng số sản phẩm, tuân thủ các chính sách của công ty về chỉ tiêu
mua hàng, giữ giá thị trường, tránh cạnh tranh không lành mạnh, thực hiện các chiến
dịch bán hàng, quảng cáo, khuyến mói,…Đây là những thành việc quan trọng trong hệ
thống phân phối của Sony, và ngược lại, công ty cũng hỗ trợ những thành viên này
một cách tích cực, như cung cấp bảng hiệu, sản phẩm trưng bày với giá ưu đãi đặc
biệt, đáp ứng yêu cầu về đặt hàng, bồi thường thiệt hại khi giảm giá, hỗ trợ về tài
chính, dành riêng chiết khấu và thưởng cho các cửa hàng, …
1.5 Hệ thống bán hàng trực tuyến
Trong thời đại mà công nghệ thông tin phát triển như vũ bão hiện nay, thì một
hình thức bán hàng nữa đã ra đời và chứng minh được tính tiện lợi, hiệu quả của nó,
đó là hình thức bán hàng trực tuyến, thông qua các website hoặc kênh mua sắm.
Chính bởi tính hiệu quả, lợi nhuận khá cao lại ít tốn kém chi phí, nên ngày càng
xuất hiện nhiều các website bán hàng trực tuyến. Các website này thường là của các
công ty mở ra, kết hợp với bán hàng thông qua cỏc kờnh bán lẻ khác, để tăng doanh
thu, tăng tầm phủ sóng của kênh phân phối. Với loại hình bán hàng trực tuyến này phải
kể tới các doanh nghiệp bỏn cỏc mặt hàng điện tử, điện máy, ví dụ các siêu thị điện
máy, thế giới di động, mobile mart,… Công ty sách vinabook cũng có một website bỏn
sỏch qua internet, hoạt động khá hiệu quả. Một số cửa hàng bán lẻ các mặt hàng thời
trang cũng tự lập ra cá website để bán hàng qua mạng cho những khách hàng ở xa,
không tiện ghé qua cửa hàng, hoặc không có thời gian.
Ngoài ra cũng có những website chuyên bán hàng trực tuyến, hoạt động giống

như một siêu thị, với nhiều chủng loại sản phẩm, mẫu mã, nhãn hiệu khác nhau cho
khách hàng lựa chọn, như muabanhangngay.com, denthan.com, sieuthinhanh.com,…
Không chỉ dừng lại ở bán hàng thông qua mạng internet, mà một hình thức
truyền thông khác cũng vào cuộc, đó là truyền hình, thông qua cỏc kờnh mua sắm.
Người xem truyền hình đã không còn xa lạ với những chương trình giới thiệu sản
phẩm và mua hàng trực tiếp Best Buy. Hiện nay, đài truyền hình còn xây dựng một số
kờnh chuyên cung cấp thông tin về các sản phẩm có chất lượng tốt, phục vụ cho hoạt
động mua sắm, bán lẻ các mặt hàng tiêu dùng. Ví dụ như kênh mua sắm của đài truyền
hình Hà Nội 2, kênh Home Shopping trên hệ thống truyền hình cáp Hà Nội, … Một
đặc điểm của kênh mua sắm trực tiếp này, đó là các sản phẩm được giới thiệu thường
ít xuất hiện trên thị trường, mà được phân phối độc quyền bởi một công ty nào đó,
thông qua kênh mua sắm, người tiêu dùng mới biết đến những tính năng nổi trội của
sản phẩm và đặt mua. Như vậy kênh mua sắm trực tiếp này là cầu nối trực tiếp giữa
người sản xuất và người tiêu dùng, kích thích nhu cầu của người tiêu dùng về sản
phẩm được giới thiệu.
Thông qua các kênh bán hàng trực tuyến và trên truyền hình, người tiêu dùng
có thể thấy được tính năng của sản phẩm, giá thành, mẫu mã, và có thể đặt mua hàng
trực tiếp, được giao hàng tận nhà, rất thuận tiện cho những người không có nhiều thời
gian dành cho mua sắm, hoặc những người muốn mua hàng nhưng lại ở xa.
2. Các chủ thể tham gia bán lẻ
2.1 Các công ty phân phối trong nước
Bao gồm các doanh nghiệp nhà nước và ngoài nhà nước như: Saigon Co.op
Mart, Intimex, Maximart, Nguyễn Kim, Phỳ Thỏi,…Đõy là những nhà phân phối có
trình độ khỏ chuyờn nghiệp và mạng lưới hệ thống phân phối khá rộng rãi trờn nhiều
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong cả nước. Trong đó các doanh nghiệp nhà
nước nhìn chung có tiềm lực về tài chính và lợi thế về cơ sở sản xuất hơn nên đóng vai
trò vừa là nhà phân phối, vừa là nhà sản xuất và thu mua hàng hóa để kinh doanh trong
hệ thống phân phối của mình. Trong khi đó các doanh nghiệp ngoài nhà nước chủ yếu
tập trung vào hoạt động phân phối để tạo nên những hệ thống chuyên doanh phân
phối. Hiện tại các doanh nghiệp bán lẻ trong nước đang không ngừng mở rộng quy mô

và đã có mặt ở hầu khắp cả nước. Tuy nhiên nếu xét về hệ thống bán lẻ hiện đại như
siêu thị, trung tâm thương mại, chuỗi cửa hàng tiện ích mà các doanh nghiệp này thiết
lập thì mới chỉ bảo phủ được khoảng 30 trên 64 tỉnh, thành phố. Trong đó, gần 80%
các siêu thị, trung tâm thương mại tập trung ở các tỉnh, thành phố lớn như Hà Nội,
thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng,…Cỏc doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ phân phối
trong nước còn nhiều hạn chế về năng lực tài chính, công nghệ, kỹ năng tổ chức quản
lý kinh doanh,… so với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động trong
cùng lĩnh vực này.
2.2 Các tập đoàn phân phối nước ngoài hoạt động tại Việt Nam
Trong những năm qua, các tập đoàn phân phối nước ngoài đã bắt đầu đổ bộ vào
thị trường Việt Nam và nhanh chóng trở thành một chủ thể quan trọng trong quá trình
phân phối hàng hóa. Rất nhiều các tập đoàn phân phối bán lẻ của nước ngoài đã có mặt
tại Việt Nam và hoạt động rất hiệu quả như Metro Cash & Carry, Big C, Parkson,…
Các công ty phân phối của nước ngoài với nguồn vốn đầu tư lớn, công nghệ cao, kỹ
năng quản lý chuyên nghiệp và kinh nghiệm hoạt động lâu năm, đã xây dựng nên
những hệ thống bán lẻ chuyên nghiệp, văn minh và hiện đại, nổi trội hơn hẳn so với
các doanh nghiệp trong nước. Các tập đoàn này thường tập trung vào khâu phân phối
dựa trên sự ký kết hợp đồng thu mua sản phẩm từ nhiều nguồn khác nhau mà không
trực tiếp sản xuất ra sản phẩm để phân phối như một số doanh nghiệp trong nước. Sự
có mặt của các tập đoàn bán lẻ này tại Việt Nam, một mặt tạo nên sự cạnh tranh gay
gắt, làm đa dạng hóa hình thức bán lẻ, phong phú về chủng loại sản phẩm với giá cả
cạnh tranh, tạo cơ hội tốt để hình thành một thị trường nội địa hoạt động lành mạnh,
phát triển đa dạng và tiếp cận được với trình độ hiện đại của thế giới trong hoạt động
bán lẻ hàng hóa. Mặt khác tạo nên sức ép lớp đòi hỏi các nhà bán lẻ trong nước phải
không ngừng cải thiện hệ thống bán lẻ của mình để không bị các tập đoàn bán lẻ quốc
tế bỏ xa và chiếm lĩnh thị trường trong nước.
2.3 Các doanh nghiệp bán lẻ, các hộ kinh doanh
Đây là một trong những thành phần quan trọng tham gia vào thị trường bán lẻ
của Việt Nam và tạo ra việc làm cho khoảng 5 triệu lao động trong cả nước. Tuy
nhiên, hoạt động kinh doanh của nhóm này còn mang nặng tính tự phát, hầu hết đều là

những lao động phổ thông, không được đào tạo về kỹ năng kinh doanh, do đó thiếu
kiến thức và kỹ năng để chống đỡ những rủi ro, biến động có thể xảy ra trên thị
trường.
3. Kết quả điều tra, khảo sát các doanh nghiệp bán lẻ của Việt Nam trên 4
thành phố lớn là Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng và Đà Nẵng.
(Nguồn: Báo cáo kết quả điều tra của Bộ Công Thương về thị trường bán lẻ ở 4 thành
phố lớn là Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng và Đà Nẵng)
Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh là 4 thành phố lớn nhất
của cả nước. Như đã nói ở trên, các doanh nghiệp bán lẻ tập trung phần lớn ở 4 tỉnh,
thành phố này, đặc biệt là các hệ thống bán lẻ hiện đại như siêu thị, trung tâm thương
mại, chuỗi cửa hàng tiện ích.
Dưới đây là kết quả của cuộc điều tra khảo sát các doanh nghiệp bán lẻ của Việt
Nam trên 4 thành phố lớn này.
3.1Cơ cấu doanh nghiệp bán lẻ của 4 địa bàn được khảo sát
Mặc dù là 4 thành phố lớn nhưng cơ cấu các doanh nghiệp bán lẻ cũng có sự
khác nhau rõ rệt. Các doanh nghiệp bán lẻ vẫn tập trung nhiều nhất ở 2 thành phố
chính là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, chiếm tới 68,25%. Thành phố Hồ Chí
Minh với vai trò là trung tâm kinh tế của cả nước, đã có số doanh nghiệp bán lẻ chiếm
tới 41,13%, gấp 1,5 lần số doanh nghiệp bán lẻ ở Hà Nội, và gấp khoảng 2,5 lần số
doanh nghiệp ở Hải Phòng và Đà Nẵng.
Biểu đồ 3: Cơ cấu doanh nghiệp bán lẻ của 4 thành phố: Hà Nội,
thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng
(Nguồn: Báo cáo kết quả điều tra của Bộ Công Thương về thị trường bán lẻ ở 4 thành
phố lớn là Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng và Đà Nẵng)
3.2Cơ cấu doanh nghiệp bán lẻ phân theo loại hình doanh nghiệp
Biểu đồ 4: Cơ cấu doanh nghiệp bán lẻ phân theo loại hình doanh nghiệp
(Nguồn: Báo cáo kết quả điều tra của Bộ Công Thương về thị trường bán lẻ ở 4 thành
phố lớn là Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng và Đà Nẵng)
3.3Nguồn cung cấp hàng chủ yếu cho doanh nghiệp bán lẻ
Biểu đồ 5: Cơ cấu về nguồn cung cấp hàng chủ yếu cho doanh nghiệp bán lẻ

(Nguồn: Báo cáo kết quả điều tra của Bộ Công Thương về thị trường bán lẻ ở 4 thành
phố lớn là Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng và Đà Nẵng)
Đơn vị: %

3.4Hình thức phục vụ bán hàng
Biểu đồ 6: Hình thức phục vụ bán hàng
(Nguồn: Báo cáo kết quả điều tra của Bộ Công Thương về thị trường bán lẻ ở 4 thành
phố lớn là Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng và Đà Nẵng)
Đơn vị: %
4. Thị trường bán lẻ của Việt Nam sau khi gia nhập WTO
Từ tháng 1 năm 2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức
thương mại quốc tế WTO. Điều này mở ra vô vàn cơ hội cũng như thách thức mà nền
kinh tế nước ta phải đối mặt, thị trường bán lẻ cũng không phải là ngoại lệ.
Việc gia nhập WTO đã tạo một bước ngoặt lớn cho ngành bán lẻ của Việt Nam.
Theo phân tích của giới kinh doanh và phân phối hàng tiêu dùng, với một thị trường
khoảng 86 triệu dân, tổng mức tiêu dùng những năm gần đây đã đạt mức từ 25-30 tỉ
USD/năm, Việt Nam được đánh giá là thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất thế giới (theo
báo cáo về chỉ số phát triển mảng kinh doanh bán lẻ (GRDI) năm 2009 của hãng tư
vấn Mỹ A.T. Kearney). Do đó Việt Nam là điểm đến lý tưởng của các tập đoàn phân
phối đa quốc gia. Đây cũng là điều lý giải vì sao khi đàm phán để Việt Nam gia nhập
Tổ chức Thương mại thế giới, các đối tác luôn đưa ra yêu sách Việt Nam phải mở cửa
lĩnh vực dịch vụ phân phối hàng hoá. Và đúng như cam kết, ngay sau khi trở thành
thành viên của WTO, Việt Nam đã tiến hành mở cửa thị trường bán lẻ, theo đó, các
nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư và hoạt động theo hình thức liên doanh, trong đó
nhà đầu tư nước ngoài chiếm không quá 49% vốn điều lệ doanh nghiệp. Từ 1/1/2008,
không hạn chế tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài (nhưng vẫn phải lập công ty
dưới hình thức góp vốn liên doanh). Và mới đây, từ 1/1/2009, Việt Nam lại tiếp tục
thực hiện bước nữa của lộ trình đã cam kết, đó là các nhà đầu tư nước ngoài được đầu
tư theo hình thức 100% vốn nước ngoài. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà
bán lẻ nước ngoài đầu tư vào Việt Nam ngày càng nhiều như Metro Cash & Carry

(Đức), Big C của Bourbon (Pháp), Parkson thuộc tập đoàn Lion (Malaysia), Zen Plaza
(Nhật Bản), Diamond Plaza (Hàn Quốc).Cỏc tập đoàn này đã và đang triển khai chiến
lược phát triển mạng lưới siêu thị, trung tâm thương mại đầy tham vọng của mỡnh trờn
phạm vi toàn quốc.
Công ty TNHH Metro Cash&Carry (Đức) với 6 siêu thị hoạt động tại thành phố
Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ với hình thức bán buôn và bán
lẻ khoảng 10.000-15.000 mặt hàng các loại. Giá bán thấp hơn 10%-15% so với các
siêu thị khỏc. Đó cú trờn 90.000 hội viên được cấp thẻ vào mua hàng tại Metro. Mặc
dù đầu tư vào Việt Nam với mô hình bán buôn nhưng thật ra Metro lại kinh doanh cả
theo dạng bán lẻ vì việc cấp thẻ hội viên diễn ra khá đại trà, khách mua hàng không bị
hạn chế về số lượng và đơn vị hàng hóa chủ yếu là nhỏ lẻ, kiếm lời khoảng 500 triệu
USD/năm và tăng trưởng hàng năm đạt 45%. Bênh cạnh đó, Parkson đã vạch một kế
hoạch phát triển 10 trung tâm mua sắm trong vòng 5 năm. Tập đoàn Bourbon cũng đã
mở 10 đại siêu thị tại Việt Nam… Đầu năm 2009, tập đoàn Lotte Mart (Hàn Quốc)
chính thức tham gia vào thị trường bán lẻ của Việt Nam bằng việc liên doanh với đối
tác trong nước mở siêu thị Lotte Mart Nam Sài Gũn, cú tổng vốn đầu tư 70 triệu đô la
Mỹ tại quận 7, thành phố Hồ Chí Minh. Và sắp tới là những tập đoàn phân phối hàng
đầu khu vực và thế giới khác nữa như Carefour (Pháp), Tesco (Anh) và các tập đoàn
bán lẻ hàng đầu châu Á như: Dairy Farm (Hồng Kụng), South Asia Investment Pte
(Singapore) chưa kể đến một tập đoàn phân phối hàng đầu thế giới mà từng bước
chân của họ đi đến quốc gia nào thì được đánh giá là làm thay đổi nền kinh tế của quốc
gia đó – đó là WalMart. Người ta cho rằng khi Walmart đặt địa điểm ở đâu, thì trong
vòng bán kính 3km sẽ không còn một cửa hiệu bán lẻ nào tồn tại nổi
Các tập đoàn bán lẻ nước ngoài có lợi thế hơn hẳn do họ từng hoạt động trong
lĩnh vực bán lẻ trước Việt Nam hàng chục năm. Họ có quá trình tích lũy vốn, tích lũy
kinh nghiệm, có thế mạnh của hệ thống toàn cầu với nhiều phương thức, loại hình kinh
doanh và có thương hiệu mạnh, cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, trình độ quản lý tiên
tiến theo hệ thống thông suốt từ trung tâm đến cơ sở, khả năng nghiên cứu và nắm bắt
thị trường nhanh nhạy, chính xác, trình độ khoa học công nghệ tiên tiến. Chính sự có
mặt của các tập đoàn này đã đẩy hoạt động kinh doanh bán lẻ trên địa bàn cả nước đi

vào bước ngoặt mới của cuộc cạnh tranh.
Trong khi các tập đoàn bán lẻ nước ngoài được biết đến với hình ảnh những đại
siêu thị thì hầu hết cửa hàng truyền thống của Việt Nam đều ở trong tình trạng chung
là có diện tích nhỏ, trang thiết bị thô sơ và chủ yếu sử dụng lao động phổ thông. Các
doanh nghiệp thương mại trong nước phần lớn cũng là doanh nghiệp có quy mô nhỏ
và vừa. Sự chênh lệch khá lớn về trình độ cũng như tài chính này đã đẩy các doanh
nghiệp bán lẻ Việt Nam vào tình thế cạnh tranh khốc liệt, có nguy cơ phá sản nếu như
không tìm ra một hướng đi mới.
Nhận thức rõ mối nguy đú, đó cú những doanh nhân đưa ra phương án phá vỡ
thế bế tắc, mà đi đầu trong việc đối phó với nguy cơ bành trướng của hệ thống phân
phối hàng hoá mà các tập đoàn phân phối đa quốc gia sẽ thâm nhập vào thị trường
Việt Nam, các doanh nhân kinh doanh trong lĩnh vực phân phối hàng hoá hàng đầu
trong nước đã khẩn trương lập ra Cty TNHH thương mại và dịch vụ G7 (G7 Mart) để
xây dựng hệ thống phân phối hàng hoá trên khắp thị trường Việt Nam. G7 Mart được
hình thành trên cơ sở tập hợp các cửa hàng tạp hóa nhỏ lẻ với mục tiêu là trang bị,
nâng cấp, thay đổi phương thức quản lý, cung cách phục vụ để hướng các cửa hàng
này thành chuỗi cửa hàng kinh doanh tiện lợi theo mô hình phân phối hiện đại kinh
doanh 24 giờ của tập đoàn 7-Eleven tại Thái Lan. Các siêu thị G7 lại lựa chọn từ
những cửa hàng bán lẻ bình dân đang hoạt động hiệu quả, theo nhiều tiêu chí đánh giá
của công ty này như doanh thu tháng, quy mô cửa hàng, diện tích, vị trí Với hình
thức hợp tác kinh doanh, nhượng quyền thương hiệu, chủ các cửa hàng bán lẻ sẽ ký
hợp đồng với G7 để trở thành thành viên của chuỗi thương hiệu này. G7 sẽ đầu tư cửa
hàng theo một thiết kế trang trí độc quyền, cung cấp và phân phối hàng tập trung, đồng
thời thiết lập những dịch vụ giá trị gia tăng như phát hành thẻ mua hàng trả trước
khuyến mãi 10% trên giá trị thẻ, thanh toán chi phí các dịch vụ sinh hoạt như điện
nước, điện thoại để phục vụ người tiêu dùng. Với tổng giá trị đầu tư lên tới 395 triệu
USD, theo dự kiến đến năm 2010 G7 Mart sẽ có khoảng 7.000 cửa hàng tiện lợi, 200
trung tâm phân phối, 100 trung tâm phân phối sỉ, 7 trung tâm thương mại và 7 siêu thị
lẻ tại VN khắp 65 tỉnh, thành.
Không chỉ có G7, hiện nay công ty Intimex đang đề ra chiến lược xây dựng một

hệ thống siêu thị và thương mại 3 cấp tại Hà Nội và các tỉnh thành khác bao gồm các
cửa hàng tự chọn, hệ thống siêu thị và các trung tâm thương mại. Đặc biệt Intimex dự
định sẽ xây dựng các trung tâm dự trữ phân phối lớn để có thể chủ động nguồn hàng
cho hệ thống bán lẻ của mình. Theo dự định, Intimex sẽ xây dựng hệ thống của mình
trong vòng 10 năm với tốc độ phát triển trung bình 30%/năm.
Một hệ thống siêu thị hiện cũng đang phát triển khá mạnh, đó là Hapro. Hệ thống
siêu thị và cửa hàng tiện ích mang tên Hapro mart được xây dựng khá chặt chẽ dựa
trên 4 qui chuẩn: 1. cửa hàng từ 70 m2 trở lên; 2. mầu xanh đặc trưng của thương hiệu;
3. chuẩn hoá nguồn hàng; 4. chuẩn hoá đội ngũ nhân viên từ trang phục đến phong
cách. Chỉ sau hơn 1 tháng đi vào hoạt động, Hapro mart đã có 19 địa điểm, trong đó có
3 siêu thị và 16 cửa hàng tiện ích. Tháng 2 năm 2009, Hapro cùng với Công ty TNHH
Trớ Phúc đã khai trương siêu thị đồng giá đầu tiên mang thương hiệu Daiso (đây là
thương hiệu được Tập đoàn siêu thị đồng giá Daiso Nhật Bản nhượng quyền) tại Hà
Nội. Đây là bước tiến mới mẻ, thể hiện sự nhanh nhạy của các nhà bán lẻ Việt Nam
trước xu hướng mới. Hiện tại Hapro đã khai trương 10 siêu thị mang thương hiệu này
trên toàn quốc. Không chỉ có vậy, Hapro còn chú trọng phát triển hệ thống siêu thị
thời hạn vừa mới qua. MỤC LỤCDiễn đàn doanh nghiệp – http://dddn.com.vn/ – 16/04/2009 – Thị trường bán lẻViệt Nam : Thiếu mặt bằng kinh doanh thương mại – Tiến Dũng 51T ạp chí điện tử Thương trường – http://thuongtruong.com.vn/ – 11/05/2009 – Dựbáo thị trường bán lẻ 2009 và những giải pháp 51C hương 1C Ơ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG BÁN LẺI. MỘT SỐ KHÁI NIỆMBán lẻ nói chung là hoạt động giải trí kinh doanh thương mại bằng cách mua với số lượng lớn từnhà sản xuất, hoặc nhà bán sỉ rồi chia nhỏ và bán lẻ cho người tiêu dùng nhằm mục đích phục vụnhu cầu cá thể hay mái ấm gia đình. Theo điều 3 Nghị định số 23/2007 / NĐ-CP ngày 12/02/2007 “ Bán lẻ là những hoạt động giải trí bán sản phẩm & hàng hóa và dịch vụ trực tiếp đến người sử dụngcuối cùng. Cơ sở bán lẻ là đơn vị chức năng thuộc chiếm hữu của doanh nghiệp để triển khai việc bán lẻ. ” Tuy nhiên, theo thư gửi Bộ Công Thương Nước Ta ngày 10/04/2008 về quyềnthương mại, Thương Hội doanh nghiệp Mỹ cho rằng, khoanh vùng phạm vi “ Bỏn lẻ ” và “ Cơ sở bán lẻ ” được pháp luật tại Nghị định số 23 được lan rộng ra hơn so với những tài liệu lý giải củaWTO. Theo ghi nhận tại tài liệu số W37 của WTO về Dịch Vụ Thương Mại phân phối, hoạt động giải trí “ bỏn hàng công nghiệp / thương mại cho những doanh nghiệp sử dụng những mẫu sản phẩm cuốicùng như là hóa chất, thiết bị và nguyên vật liệu cho sản xuất ” không thuộc phạm vibán lẻ. Nhà bán lẻ là người chuyên bán một số ít chủng loại loại sản phẩm hoặc dịch vụ nhấtđịnh cho người tiêu dùng để họ sử dụng vào mục tiêu cá thể. Trong chuỗi giá trị, nhà bán lẻ là mắt xích sau cuối nối nhà phân phối với ngườitiêu dùng. Vai trò của nhà bán lẻ là cực kỳ quan trọng chính do chính ngay tại điểm bánlẻ người tiêu dùng có thời cơ chọn mua loại sản phẩm và tên thương hiệu mà mình yêu thích. Người bán lẻ là người am hiểu nhất nhu yếu của người tiêu dùng, đồng thời người bánlẻ cũng chính là người chớp lấy được sát thực nhất những đổi khác trong xu thế tiêudùng của người mua. Mặc dù hầu hết hoạt động giải trí bán lẻ diễn ra tại những shop bán lẻ tuy nhiên trongnhững năm gần đây hình thức bán lẻ không qua shop như bán hàng qua thư, catalogue, điện thoại thông minh, Internet, Tivi, máy bán hàng tự động hóa ngày càng tăng trưởng vàtrở nên phổ cập. II. ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA BÁN LẺ1. Đặc điểmBán lẻ là thành viên ở đầu cuối trong kênh phân phối hàng hoá dịch vụ của doanhnghiệp, do vậy người bán lẻ tiếp xúc trực tiếp với người mua. Vốn lưu động của doanh nghiệp luân chuyển liên tục, do những hoạt động giải trí mua bánhàng hoá trong doanh nghiệp diễn ra liên tục và liên tục. Các doanh nghiệp bán lẻ thường chọn vị trí đặt shop ở những khu vực dân cưnhững khu vực dễ phân biệt, dễ nhận ra và cũng được trang trí rất mê hoặc để kháchhàng dễ nhớ. Hệ thống kho tàng của doanh nghiệp bán lẻ cũng được phong cách thiết kế đặc biệt quan trọng đảm bảoluôn đủ hàng để cung ứng cho người mua, bảo vệ chất lượng hàng hoá. Đội ngũnhân viên bán hàng cũng đươc giảng dạy rất chuyên nghiệp, có không thiếu những kỹ năng và kiến thức bánhàng. 2. Vai tròCác doanh nghiệp bán lẻ góp thêm phần đẩy nhanh vận tốc tăng trưởng của ngành và cảnền kinh tế tài chính, là mắt xích ở đầu cuối trong kênh phân phối, do vậy nó cũng đẩy nhanh tốcđộ chu chuyển hàng hoá từ đơn vị sản xuất đến người tiêu dùng. Những người bán lẻ tiếp xúc trực tiếp với người mua nên họ là người trực tiếpnắm được những thông tin phản hồi từ người mua, nắm được những thông tin từ đốithủ cạnh tranh đối đầu. Do vậy nó là nguồn cung ứng thông tin đáng đáng tin cậy cho những doanhnghiệp, từ đó đưa ra những kế hoạch sản xuất nhằm mục đích thu được quyền lợi cao nhất. Các doanh nghiệp bán lẻ cũng góp thêm phần quan trọng vào việc xử lý những vấnđề xã hội như : tạo việc làm cho người lao động, tăng thu nhập, làm giảm những tệ nạn xãhội ( do không có việc làm ) góp phần vào ngân sách Nhà nước và tham gia vào cáchoạt đông văn hoá xã hội. Các doanh nghiệp bán lẻ hoạt động giải trí và tăng trưởng trong mối quan hệ ngặt nghèo vớicác doanh nghiệp thương mại, những doanh nghiệp sản xuất, góp thêm phần đẩy nhanh tốc độtiêu thụ hàng hoá dịch vụ trên thị trường. III. CHỨC NĂNG CỦA BÁN LẺ1. Khai thác một số ít nhóm mẫu sản phẩm và dịch vụ thích hợpCửa hàng bán lẻ cần phải khai thác một số lượng lớn những loại sản phẩm được sảnxuất bởi nhiều công ty khác nhau. Điều nầy là thiết yếu vỡ nó mang lại cho khách hàngsự tự do trong việc lựa chọn mẫu sản phẩm, thương hiệu, mùi vị, sắc tố, quy cách baobì đóng gói và cả những mức giá khác nhau. Chính vì thế do đó những shop bán lẻphải rất thận trọng trong việc chọn lưa những nhóm sản phẩm & hàng hóa và dịch vụ thích hợpnhất cho từng shop, tương thích với nhu yếu của người tiêu dùng ở khu vực mà cửahàng tọa lạc. Nếu trách nhiệm chính của những đơn vị sản xuất là sản xuất ra loại sản phẩm tốt thì cửahàng bán lẻ giúp tiếp thị những mẫu sản phẩm này đến người tiêu dùng. Chẳng hạn nhưVinamilk sản xuất những mẫu sản phẩm sữa, Daso sản xuất xà phòng, Mỹ Hảo sản xuất ranước rửa chén, Nam Dương sản xuất nước chấm và Bibica sản xuất bánh kẹo. Cho dùcác đơn vị sản xuất trờn cú tự đứng ra tổ chức triển khai shop bán lẻ để phân phối sản phẩmcủa mỡnh thỡ cũng khó lòng để người tiêu dùng hoàn toàn có thể đồng ý bỏ thời hạn đi đếnhàng chục shop khác nhau để mua cho đủ những thứ mà mình cần dùng trongngày. Đó là nguyên do vì sao shop bán lẻ là trở thành một điểm shopping được ngườitiêu dùng trên quốc tế yêu thích. Tuy tổng thể những shop bán lẻ đều cung ứng rất nhiều loại sản phẩm và thương hiệukhác nhau, nhưng mỗi shop đều có một xu thế thiên về một nhóm sản phẩmlàm nòng cốt. 2. Chia những lô hàng lớn thành những đơn vị chức năng nhỏ. Từ retailler bắt nguồn từ tiếng Pháp mang nghĩa là cắt nhỏ, chia nhỏ. Chúng tađều biết rằng bán mẫu sản phẩm trực tiếp đến người tiêu dùng là điều không hề đơn giảnđối với đa phần những nhà phân phối và những nhà bán sỉ. Do vậy những đơn vị sản xuất và những nhàbán sỉ ưa thường thớch bỏn từng lô lớn cho những nhà bán lẻ chuyên nghiệp để họchia nhỏ ra rồi bán lại cho người tiêu dùng theo qui cách tương thích với thói quen muasắm của người tiêu dùng tại địa phương ấy. Chẳng hạn như nhà phân phối bia sẽ cung ứng cho nhà phân phối từng xe tải, nhàphân phối sau đó bán lại cho nhà bán lẻ mỗi lần hoàn toàn có thể chỉ vài két, để nhà bán lẻ cuốicùng bán lại cho người tiêu dùng một vài chai. 3. Lưu trữ sẵn hàng hóaMột trong những công dụng chính của nhà bán lẻ là tàng trữ sản phẩm & hàng hóa nhằm mục đích làmcho sản phẩm & hàng hóa lúc nào cũng có sẵn mỗi khi người tiêu dùng cần đến. Người bán lẻthông thường không thích trữ chỉ một vài loại sản phẩm với khối lượng lớn, ngược lại họthích trữ nhiều loại sản phẩm với khối lượng càng nhỏ càng tốt. Vì như thế khách hàngluôn luôn có nhiều sự lựa chọn hơn. Hưởng lợi từ công dụng này của người bán lẻ, người mua không phải mua trữ nhiều mẫu sản phẩm trong nhà. Họ chỉ mua đủ dùng vì sảnphẩm lúc nào cũng có sẵn ở shop bán lẻ. Không những thế, người bán lẻ còn Dự kiến nhu yếu của người mua khi lên kếhoạch dự trữ hàng. Đây là một quyền lợi mà người bán lẻ tạo ra cho người mua, khi nhucầu phát sinh, người mua luôn thuận tiện tìm thấy thứ mà mình cần. 4. Trưng bày sản phẩm & hàng hóa và cung ứng dịch vụ cộng thêm. Bên cạnh những tính năng trên, nhà bán lẻ còn tạo ra mặt phẳng tọa lạc hànghóa to lớn hoàn toàn có thể tọa lạc sản phẩm & hàng hóa một cách phong phú và đa dạng chủng loại, giúp kháchhàng tự do xem, thử, lựa chọn trước khi quyết định hành động mua. Không chỉ gật đầu thanh toán giao dịch bằng những loại thẻ tín dụng thanh toán thông dụng, nhiềunhà bán lẻ còn phát hành thẻ tín dụng thanh toán riêng của họ nhằm mục đích giúp cho người mua có đượcmột hạn mức tín dụng thanh toán để mua hàng trước và trả tiền sau. IV. PHÂN LOẠIThể loại bán lẻ của một shop chính là sự tập hợp những chủng loại hàng hóavà dịch vụ mà shop ấy chọn vào hạng mục ship hàng, và gồm có những yếu tốdưới đây : – Đặc tính của chủng loại sản phẩm & hàng hóa và dịch vụ mà shop ấy ship hàng – Chính sách giá mà shop ấy theo đuổi – Chính sách của shop so với hoạt động giải trí quảng cáo và khuyến mại – Chính sách của shop về mặt phong cách thiết kế, tọa lạc – Vị trí ưu thích – Qui mô của cửa hàngTùy theo từng yếu tố mà có những cách phân loại khác nhau. Trên quốc tế thểlọai bán lẻ là vô cùng phong phú, nhưng chung quy lại, dưới đây là những thể loại phổbiến nhất. 1. Cửa hàng bán lẻ chuyên dùngChỉ bán một số ít ít loại sản phẩm và người tiêu dùng cú ớt sự lựa chọn trong số nhữngsản phẩm này, hoặc chuyên bán những loại sản phẩm của một tên thương hiệu, hoặc chỉ bán mộtloại mẫu sản phẩm nhưng có nhiều thương hiệu cho người mua lựa chọn. Ví dụ những cửa hàngchỉ bán đồ mỹ phẩm nhưng của rất nhiều hãng khác nhau, từ trong và ngoài nước, Levi’s chỉ bán đồ thời trang của Levi’s, Biti’s chỉ bán giầy dép mang tên thương hiệu này. 2. Cửa hàng bách hóaBán nhiều loại loại sản phẩm khác nhau, đa phần là quần áo, đồ trang trí, trang sức đẹp, vật dụng trong mái ấm gia đình. Mỗi loại loại sản phẩm được bán tại một khoang trong shop vàđược điều hành quản lý bởi những nhân viên cấp dưới am hiểu về loại sản phẩm & hàng hóa đú. Ví dụ, shop bánlẻ Diamond Plaza, Parkson, Loại hình shop này thường bỏn cỏc loại sản phẩmvới chất lượng tốt, của những tên thương hiệu nổi tiếng, do đó giá tiền cũng khá cao, phụcvụ đa phần cho những người có thu nhập khá trở lên. Do đó không thông dụng và đượcưa chuộng bằng mô hình shop bán lẻ chuyên sử dụng hay những shop tạp hóa, siêuthị, với Chi tiêu phải chăng, phân phối được nhu yếu của đại bộ phận người dân, và cócung cách Giao hàng nhanh gọn, thuận tiện. 3. Siêu thịSiêu thị là một shop tự Giao hàng, tương đối lớn, ngân sách thấp, mức lợi thấp, khối lượng lớn, được phong cách thiết kế để ship hàng toàn bộ những nhu yếu của người tiêu dùng vềthực phẩm, hàng tiêu dùng và những loại sản phẩm trang trí nội thất bên trong, ví dụ : Metro, chợ giao thương Big C, Intimex, … Xã hội càng tăng trưởng, mô hình phân phối càng phong phú, và nhà hàng cũngvì thể mà càng lan rộng ra quy mô cũng như diện tích quy hoạnh. Ngày nay với xu thế cạnh tranhngày càng mạnh giữa những nhà hàng siêu thị hay với những shop chuyên doanh, nhiều doanhnghiệp đã mở những nhà hàng siêu thị chuyên doanh như : nhà hàng điện tử điện lạnh, ẩm thực ăn uống quầnáo hoặc chia diện tích quy hoạnh siêu thị thành những toa khác nhau để mê hoặc người mua, lôi kéokhách hàng về với mình. 4. Siêu thị bỏch hoỏ, nhà hàng siêu thị tổng hợp, và tổng hợp thương mại. Siêu thị bỏch hoỏ là có mặt bằng khoảng chừng 35.000 foot vuông và nhằm mục đích mục đíchthoả mãn vừa đủ những nhu yếu của người tiêu dùng về thực phẩm mua hàng ngày vànhững loại sản phẩm không phải thực phẩm, hoàn toàn có thể nó cũng bảo vệ cả dịch vụ như giặt là, sửa chữa thay thế giày dép, đổi séc ra tiền mặt và giao dịch thanh toán hoá đơn, những quầy điểm tâm rẻtiền. Siêu thị tổng hợp là một dạng siêu thị nhà hàng phong phú hoỏ cỏc mẫu sản phẩm, có bán cả thựcphẩm và dược phẩm, có mặt bằng trung bình khoảng chừng 55.000 foot vuông. Tổ hợp thương mại có diện tích quy hoạnh lớn hơn nữa có diện tích quy hoạnh khoảng chừng 80.000 đến220. 000 foot vuông. Tổ hợp thương mại tích hợp ẩm thực ăn uống và những nguyên tắc bán lẻ cóchiết khấu và bán lẻ tại kho. Danh mục loại sản phẩm của nó vượt ra ngoài khoanh vùng phạm vi nhữnghàng hoá thường thì gồm có cả đồ gỗ, những thiết bị lớn và nhỏ, quần áo, và rất nhiềunhững mẫu sản phẩm khác. Nguyên tắc cơ bản là xếp hàng thành đống và giảm đến mức tốithiểu việc làm bốc xếp cho nhân viên cấp dưới bán hàng, có bảo vệ chiết giá cho nhữngkhách hàng chuẩn bị sẵn sàng chuyên chở lấy những thiết bị và đồ gỗ nặng từ shop về nhà. 5. Cửa hàng hạ giá. Cửa hàng hạ giá bán những hàng hoá tiêu chuẩn với giá thấp do gật đầu mứcgiá thấp và bán với khối lượng lớn hơn. Việc sử dụng giải pháp giảm giá từng đợt hayvào những dịp đặc biệt quan trọng không làm cho shop trở thàng shop hạ giá. Cửa hànghạ giá đích thực tiếp tục bán hàng với giá thấp hơn, bán phần nhiều là những nhãnhiệu toàn nước chứ không phải kém phẩm chất. Những shop hạ giá tiên phong cắtgiảm ngân sách bằng cách sử dụng những cơ sở giống như nhà kho ở những khu vực tiềnthuê nhà rẻ, nhưng đông người qua lại. Họ cắt giảm mạnh giá thành, quảng cáo rộng rãivà bỏn cỏc chủng loại mẫu sản phẩm với bề rộng và bề sâu vừa phải. Những năm gần đâynhiều người bán lẻ hạ giá đã ăn nên làm ra. Họ đã cải tổ trang trí nội thất bên trong, bổ sungthờm cỏc loại hàng hoá và dịch vụ mới, mở những Trụ sở ở vùng ven đô. Tất cảnhững điều đú đó dẫn đến ngân sách và Chi tiêu cao hơn, và khi những shop bỏch hoỏtổng hợp cắt giảm giá của mình để cạnh tranh đối đầu với những người bán hạ giá, thì sự khácbiệt giữa những shop hạ giá và những shop bỏch hoỏ tổng hợp đã bị xoá nhoà đi. Khu vực bán lẻ cũng tăng trưởng ra ngoài khoanh vùng phạm vi shop bán nhiều chủng loạihỗn hợp thành những shop chuyên doanh như : shop vật dụng thể thao hạ giá, shop quần áo hạ giá, shop sách hạ giá, shop điện tử hạ giá. 6. Những người bán lẻ lộng giá. Khi những shop hạ giá đa phần đã tăng giá, đã Open một làn sóng mớicủa những người bán lẻ lộng giá để lấp đầy chỗ trống giá thấp. Những người bán hạgiá thường thì mua hàng với giá bán sỉ tiếp tục và đồng ý mức lợi nhuậnthấp để bán với mức giá bán thấp. Còn những người bán lẻ lộng giá thường mua hàngvới mức giá bán thấp hơn giá bán sỉ và bán cho ngươi tiêu dùng với giá thấp hơn giábán lẻ. Họ có xu thế bán 1 số ít hàng hoá có chất lượng tương đối cao, luôn thayđổi và không không thay đổi. Thường là những hàng hoá còn dư, những lượng hàng sản xuấtvượt quá đơn đặt hàng và hàng sai quy cách, được người sản xuất hay người bán lẻkhác giảm giá. Người bán lẻ lộng giỏ đó xâm nhập mạnh nhất vào nghành quần áo, phụ tùng và giầy dép. Có ba kiểu bán lẻ lộng giá chính là : những shop của xí nghiệp sản xuất, người bán lẻđộc lập và hội kho. Cửa hàng của xí nghiệp sản xuất thuộc quyền sở hữu của đơn vị sản xuất và dongười sản xuất quản lý, thường bán những hàng hoá dư thừa, chấm hết sản xuất haysai quy cách. Hội kho bán hàng chỉ bán 1 số ít hạn chế những mẫu sản phẩm tạp phẩm, thiết bị có tên nhãn và nhiều hàng hoá khác với mức chiết khấu cao cho những hộiviên đúng phớ tham gia hội. 7. Phòng tọa lạc catalog. Phòng tọa lạc catalog bán với giá hạ rất nhiều những chủng loại sản phẩm & hàng hóa có tênnhãn, lưu thông nhanh, giá cao. Trong số đú cú đồ kim hoàn, dung cụ điện, máy ảnh, túi sách, đồ chơi và đồ thể thao. Phòng tọa lạc catalog kiếm tiền bằng cách cắt giảmchi phí và mức lời để bảo vệ giá thấp nhằm mục đích tăng khối lượng bán ra. Các phòng trưngbày catalog trong những năm gần đây, đã phải đấu tranh để giử vững thị trường củamỡnh trờn thị trường bán lẻ. 8. Chợ phiên. Chợ phiên nói chớnh xác là chợ họp theo phiên. Chợ phiên đã hình thành rấtsớm ở Châu Âu, gắn liền với những liên hoan tôn giáo thời xưa. Những phiên chợ này cóthời kì họp khá đều đặn, nhưng từ từ chợ chỉ họp vào những ngày nhất định. Hànghoỏ bỏn ở chợ phiên thường là những hàng hoá chất lượng thấp, hàng không cú nhónmác và hàng đã qua sử dụng. Ngoài ra những thương nhân bán ở chợ phiên thườngđược coi là những kẻ lừa gạt, chợ phiên còn gắn với những tật xấu như nạn ăn cắp vặt, móc túi thế cho nên chợ phiên còn đươc coi là “ chợ trời ”. Ngày nay những chợ phiên vẫncòn sống sót và hoạt động giải trí ở khắp nơi trên quốc tế. Chợ phiên gồm tập hơp cá nhà bán lẻđộc lập, bán nhiều hàng hoá khác nhau, cả cũ và mới và cũng hoàn toàn có thể mặc cả được. Sốlượng chủng loại hàng hoỏ bỏn ở chợ phiên là không số lượng giới hạn và người mua có thểthấy bất kỳ hàng hoỏ gỡ ở đây. Chợ phiên hoàn toàn có thể họp tiếp tục hay chỉ họp vàonhững ngày cuối tuần, hoàn toàn có thể có những quầy hàng bán trong nhà hoặc bày bán ngoàitrời, những nhà bán lẻ thuê khoảng trống bán hàng và tự lo những gì thiết yếu cho việcbày bán hàng. Chương 2TH ỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ CỦA VIỆT NAMI. KHÁI QUÁT VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH BÁN LẺ Ở VIỆT NAMNgành bán lẻ Nước Ta đã có những bước tiến dài sau hơn 20 năm thay đổi, cảvề chất lượng lẫn số lượng. Cơ cấu ngành bán lẻ đó cú những đổi khác thâm thúy, từ chỗchủ yếu do Nhà nước, hợp tác xác chiếm độc quyền và đơn mô hình ( shop báchhóa và shop hợp tác xã bán hàng theo phương pháp xếp hàng, tem phiếu ) đãchuyển sang ngành bán lẻ đa mô hình với nhiều thành phần kinh tế tài chính tham gia. Biểu đồ 1 : Tỷ trọng mức bán lẻ sản phẩm & hàng hóa và lệch giá dịch vụ tiêu dùng năm 1998 ( Nguồn : Số liệu của tổng cục thống kê Nước Ta ) Biểu đồ 2 : Tỷ trọng mức bán lẻ sản phẩm & hàng hóa và lệch giá dịch vụ tiêu dùng năm 2008 ( Nguồn : Số liệu của tổng cục thống kê Nước Ta ) Các mô hình bán lẻ ngày càng tăng trưởng phong phú, Open nhiều phương thứckinh doanh tiên tiến và phát triển văn minh. Nếu như trước kia 100 % sản phẩm & hàng hóa bán lẻ trải qua cáccơ sở bán lẻ truyền thống lịch sử, thì lúc bấy giờ, theo thống kê của Bộ Thương mại, khoảng40 % sản phẩm & hàng hóa đến tay người tiêu dùng qua mạng lưới hệ thống chợ, 44 % qua shop bán lẻtruyền thống, 10 % qua mạng lưới hệ thống phân phối văn minh như nhà hàng siêu thị, TT thươngmại, và 6 % là do đơn vị sản xuất bán trực tiếp cho người tiêu dùng. Các mô hình bán lẻ truyền thống cuội nguồn như chợ đã được nhà nước chăm sóc nâng cấpvà xây mới, bảo vệ mỹ quan, văn minh và thói quen shopping tân tiến của người tiêudùng. Ngoài ra, cùng với sự sinh ra của rất nhiều ẩm thực ăn uống, TT thương mại, cửahàng tiện nghi, đại lý, … không chỉ ở những thành phố mà còn ở cả những thị xã, những tỉnh lẻ, ngay cả ở trong làng, xã cũng Open nhiều shop bán lẻ, đã tạo điều kiện kèm theo thuậnlợi cho việc shopping của người dân nói riêng và góp thêm phần thôi thúc sản xuất sản phẩm & hàng hóa, tăng lệch giá dịch vụ tiêu dùng nói chung. Bên cạnh đó, nhận thức được tầm quan trọng của mạng lưới hệ thống phân phối so với sựthành công của doanh nghiệp, nhiều đơn vị sản xuất cũng đã tự thiết lập mạng lưới hệ thống cửahàng, đại lý chuyên bán những sản phẩm & hàng hóa mang tên thương hiệu của mình, như Vinamilk, Honda, Ninomaxx, … Ngoài ra, cùng với sự bùng nổ công nghệ thông tin, những loạihình bán hàng trực tuyến, qua cỏc kờnh shopping trên truyền hình hoặc những trang bánhàng trực tuyến trên internet cũng dần được vận dụng thoáng rộng, đặc biệt quan trọng là với những mặthàng điện tử như máy tính, điện thoại di động, một số ít loại sản phẩm tiêu dùng như quần áo, sách báo. 1. Sự tăng trưởng của những mô hình bán lẻ ở Việt Nam1. 1 Hệ thống chợ truyền thốngNói đến thị trường bán lẻ nông thôn là nói đến chợ, chợ quê so với người dânnông thôn đã gắn bó từ bao đời đến nay. Không chỉ ở nông thôn, mà ngay ở những thànhphố lớn thì chợ vẫn là quy mô bán lẻ phổ cập từ xưa đến nay. Khảo sát của Vụ Chínhsách thị trường còn cho thấy, mạng lưới hệ thống nhà hàng tân tiến của quốc tế vẫn không thểđè bẹp được cách kinh doanh truyền thống cuội nguồn đang sống sót ở Nước Ta. Chỉ trong vòng 2 năm 2005 – 2006, cả nước đó cú 203 chợ được thiết kế xây dựng hoặc tái tạo. Đến cuối năm2008, trên địa phận cả nước có 8.333 chợ những loại ( không tính những chợ hình thành tựphát ). Trong đó, chợ bán lẻ Giao hàng dân số ở cỏc xó, phường, thị xã, thị tứ chiếmtỷ trọng lớn, tới 91,5 %, chợ tổng hợp bán sỉ, bán lẻ hạng I chiếm 2,92 %, chợ biêngiới, cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế tài chính cửa khẩu chiếm 1,9 %, nhiều nhất là ở vùng ĐôngBắc Bộ. Trung bình, cứ một xã, phường, thị xã có 0,71 chợ, trong đó khu vực phía Bắcvà vựng Tõy Nguyên có tỷ lệ chợ thấp hơn so với mức chung của cả nước và so vớikhu vực phía Nam, và cứ 42,13 kmcó một chợ, hay bán kính ship hàng trung bình củamột chợ là 3,66 km. Cũng theo thống kê của Bộ Thương mại, sản phẩm & hàng hóa đến tay người tiêu dùng chủyếu qua mạng lưới hệ thống chợ ( khoảng chừng 40 % ), shop bán lẻ truyền thống cuội nguồn ( 44 % ), hệ thốngphân phối tân tiến chỉ mới chiếm khoảng chừng 10 %, 6 % là do đơn vị sản xuất bán trực tiếp. Khảo sát của Nestlộ Nước Ta cũng cho thấy, 90 % những bà nội trợ Nước Ta vẫn muađồ ở những chợ truyền thống cuội nguồn. Trong Đề án tăng trưởng thương mại đến 2010 và khuynh hướng đến 2020 vừa đượcThủ tướng nhà nước phê duyệt, những mô hình chợ như chợ ở nông thôn, vựng sõu, vựng xa, vùng biên giới, hải đảo và chợ TT, chợ chuyên doanh, chợ đầu mối ởcỏc vựng sản xuất nông sản tập trung chuyên sâu, những thị trường tiêu thụ lớn cũng được đẩymạnh tăng trưởng. 1.2 Hệ thống siêu thị nhà hàng và TT thương mạiSong tuy nhiên với mạng lưới hệ thống chợ ngày càng tăng trưởng thì mô hình bán lẻ tân tiến ( ẩm thực ăn uống, TT thương mại, shop thuận tiện ) cũng được Nhà nước chủ trươngmở rộng. Đến cuối năm 2008, cả nước có 386 ẩm thực ăn uống, TT thương mại. Các siêuthị có quy mô lớn vẫn tập trung chuyên sâu hầu hết ở Thành Phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh ( chiếmkhoảng 43,26 % ), số lượng này ở TP. Đà Nẵng là khoảng chừng 5,18 %. Chỉ tớnh riờng ở Thành Phố Hà Nội, lúc bấy giờ đó cú 9 TT thương mại vừa và lớn, 53 siêu thị nhà hàng và shop tự chọn, gần 30 shop bách hóa, khoảng chừng 10.000 shop bán lẻ. Các ẩm thực ăn uống, ngoài việc bán phong phú những mẫu sản phẩm, có những góp vốn đầu tư sâu cho cácphân khúc khác nhau. Chẳng hạn, Metro nhắm vào kênh doanh nghiệp, khách sạn, nhàhàng, tiệm cà phờ …. Vinatexmart chuyên doanh hàng may mặc của doanh nghiệp ViệtNam. Medicare chuyên loại sản phẩm chăm nom sức khoẻ. Tuy nhiên, xét theo đặc thù củahoạt đông kinh doanh thương mại, hoàn toàn có thể chia những siêu thị nhà hàng ở Nước Ta lúc bấy giờ làm hai loại chính : – Siêu thị tổng hợp như chợ giao thương Big C, Metro, Intimex, … với số lượng mẫu sản phẩm đadạng về cả chủng loại và thương hiệu – Siêu thị chuyên doanh như nhà hàng điện máy ( Pico Plaza, An Dương homecenter ), nhà hàng đồ nội thất bên trong ( Mê Linh Plaza ), nhà hàng siêu thị điện thoại di động ( quốc tế diđộng, mobile mart ), … Tốc độ ngày càng tăng trong góp vốn đầu tư của những tập đoàn lớn bán lẻ và kinh doanh thương mại siêu thị nhà hàng gầnđây cho thấy một tiềm năng rất lớn trong nghành này tại Nước Ta. Theo Bộ CôngThương, thị trường bán lẻ của Nước Ta được nhìn nhận mỗi năm đạt lệch giá hơn 20 tỷ USD, có vận tốc tăng trưởng đến 30 % / năm, với gần 85 % người dân thành thị ở khuvực phía Nam liên tục shopping tại những nhà hàng siêu thị, TT thương mại. Theo tác dụng khảo sát của Công ty Tư vấn bất động sản Quốc tế CBRE, hiệnthành phố Hồ Chí Minh có khoảng chừng 90.000 mdiện tích TT thương mại dành chothuê, và 92 % diện tích quy hoạnh đã được thuờ. Các TT thương mại có lợi thế kinh doanh thương mại, giá cho thuê trung bình khoảng chừng 140 USD / mét vuông / thỏng. Đây là mức giá cao ngất ngưởng, ngang hàng với Nước Singapore, Hong Kong hoặc Bangkok ( xứ sở của những nụ cười thân thiện ) … nhưng hầu nhưlúc nào việc cho thuê TT thương mại cũng ở trong thực trạng sốt, thiếu mặtbằng. Và thế cho nên, nhiều nhà đầu tư đã nhanh gọn nhảy vào nghành nghề dịch vụ đầy mê hoặc này. Các TT thương mại không riêng gì tăng nhanh tại thành phố Hồ Chí Minh vàHà Nội, mà sẽ còn lan rộng ra ra những tỉnh, thành khác. Nha Trang có dự án Bất Động Sản khu liên hợpHòn Ngọc Việt ( hòn đảo Hòn Tre ) do Công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Hòn Tre góp vốn đầu tư. Ngoài những khu vuichơi vui chơi, shopping … tại đây còn có mạng lưới hệ thống cáp treo vượt biển dài nhất thế giớivới 3.310 m ( dài hơn nhiều lần so đường cáp treo của Nước Singapore tới hòn đảo Sentosa ). Chỉriêng kinh phí đầu tư dự án Bất Động Sản này đã ngốn hết 105 tỷ đồng. Tại Thành Phố Đà Nẵng, những khu thương mạicao cấp cũng được gồm có trong dự án Bất Động Sản đa tính năng Indochina Riverside Towers vớitổng vốn góp vốn đầu tư 27 tỷ USD ( 100 % vốn góp vốn đầu tư quốc tế của Công ty TNHHIndochina Tower ), gồm có 2 tòa thỏp với những khu thương mại văn phòng và căn hộcho thuê. Tại Vũng Tàu cú Đông Hải Building … Mới đây, Saigon Co. op đã bắt tay với Tổng Công ty Thương mại TP HCM ( SATRA ), Tổng công ty thương mại TP. Hà Nội ( Hapro ) và Công ty TNHH Phỳ Thỏithành lập Công ty CP góp vốn đầu tư và tăng trưởng mạng lưới hệ thống phân phối Nước Ta ( VDA ). Từ nay đến cuối năm 2008, VDA góp vốn đầu tư 1.500 tỉ đồng để thiết kế xây dựng cơ sở hạ tầngthương mại, mạng lưới hệ thống tổng. Từ 2008 – 2011 sẽ góp vốn đầu tư tiếp 3.000 – 6.000 tỉ đồng xây dựngcác đại nhà hàng siêu thị, TT phân phối bán sỉ, mua và bán để tạo thành tập đoàn lớn phânphối số 1 Nước Ta và góp vốn đầu tư ra quốc tế. Ngoài ra, Satra đã cùng với Saigon Co. opliên kết để thiết kế xây dựng những ẩm thực ăn uống với tổng vốn góp vốn đầu tư khoảng chừng từ 45-55 tỷ đồng / dự án Bất Động Sản. Trước mắt, Satra – Co. opMart sẽ tiến hành thiết kế xây dựng 2 siêu thị nhà hàng tại TP. Đà Nẵng và LongXuyên. Bên cạnh đó, mỗi đơn vị chức năng cũng đang liên tục tiến hành những dự án Bất Động Sản link vớicác tỉnh để nhanh gọn phủ kín nhà hàng, TT thương mại tại nhiều tỉnh thànhkhác như Tỉnh Quảng Ngãi, Tỉnh Bình Định, Tõy Nguyờn, Đồng Nai … Tuy nhiên, hầu hết những nhà hàng có quy mô lớn đều do những nhà doanh nghiệp bánlẻ quốc tế góp vốn đầu tư, như Metro, Big C … Hiện nay, tại thị trường Nước Ta, Metro Cash và Carry ( Đức ) đã mở nhà hàng siêu thị thứ 9 ở Cần Thơ ; chợ giao thương Big C đã mở nhà hàng siêu thị thứ 8 tại Huế vàđang thực thi thiết kế xây dựng thêm 2 đại nhà hàng siêu thị tại Đồng Nai và An Giang trong năm 2009, Parkson ( Malaysia ) cũng đang có 5 siêu thị nhà hàng hoạt động giải trí Các mạng lưới hệ thống siêu thị nhà hàng do cácnhà góp vốn đầu tư quốc tế thiết lập đều rất chuyên nghiệp và bài bản, văn minh và hoạt động giải trí hiệu suất cao. Trong khi đó, những nhà hàng trong nước vẫn ở trong thực trạng diện tích quy hoạnh nhỏ, trang thiếtbị thô sơ và sử dụng lao động đại trà phổ thông. Từ đầu năm 2009 đến nay, Hapro khaitrương 4 nhà hàng đồng giá mang tên thương hiệu Daiso – do Nhật Bản nhượng quyền. Tháng 6/2009, Hapro mở bán khai trương 2 nhà hàng Hapro Mart tại chợ Bưởi và khu chung cưKim Chung, Đông Anh, Thành Phố Hà Nội, nâng tổng số ẩm thực ăn uống, shop tiện ích của đơn vị chức năng lên30 điểm kinh doanh thương mại tại TP. Hà Nội và 4 tỉnh phía Bắc. Hệ thống siêu thị nhà hàng Saigon Corp từđầu năm 2009 đến nay, đã mở 2 ẩm thực ăn uống tại Bình Phước và Vũng Tàu, nâng tổng sốđiểm bán lẻ lên 37. Tuy nhiên, quy mô ẩm thực ăn uống Hapro và Saigon Corp vẫn ở dạng nhỏ, nguồn hàng không thật sự phong phú và đa dạng. 1.3 Hệ thống shop bán lẻ tự chọnHiện nay, mô hình shop bán lẻ tự chọn ngày càng ngày càng tăng về số lương, quymô và phương pháp hoạt động giải trí theo hướng chuyên nghiệp. Cửa hàng tự chọn là loại quy mô shop bán lẻ theo phương pháp tự phục vụnhằm cung ứng nhu yếu shopping thuận tiện của người mua, kinh doanh thương mại hầu hết làthực phẩm, đồ uống, đồ đóng hộp. Diện tích bán hàng từ 30 mđến 250 m. Loại hìnhbán lẻ này có ưu điểm là quy mô nhỏ, góp vốn đầu tư không lớn, thường là những hộ mái ấm gia đình tựlập ra những shop nhỏ ở ngay trong nhà mình, thuận tiện cho việc Giao hàng nhucầu tiêu dùng của người dân hơn là những nhà hàng. Từ gốc là những tiệm tạp hoá, nhiềungười bán đã tăng cấp lên thành shop tự chọn, nhưng hình thức dịch vụ vẫn mangsự thân thiện, tính tiền thủ công bằng tay như tiệm tạp hoá cũ, nờn khỏch thấy tiện hơn màngười bán cũng tiết kiệm ngân sách và chi phí được nhiều ngân sách. Nhiều shop tạp hoỏ cú diện tích quy hoạnh rộng đã tích hợp với những nhà sản xuất thayđổi trình diễn, trang bị máy trữ lạnh, tính tiền bằng mỏy … và hình thành những siêu thịmini. Cửa hàng trước đây khá xập xệ, người mua và người bán được ngăn cách nhaubằng cái tủ to, khách muốn mua gì phải hỏi người bán, và mất thời hạn lục tìm mặthàng cần mua. Còn nay shop được phong cách thiết kế lại theo dạng tự chọn nên lượng kháchđến mua đông hơn, doanh thu cũng tăng lên rất nhiều. 1.4 Hệ thống bán lẻ do những nhà phân phối tổ chức triển khai và điều phốiHiện nay, rất nhiều công ty đã thiết lập mạng lưới hệ thống bán lẻ mẫu sản phẩm của riêng mình, ví dụ công ty Sony, Biti’s, Vinatex, Mobifone Hệ thống bán lẻ trực tiếp này ngoàichức năng bán hàng thường nhằm mục đích vào hai mục tiêu chính : – Sử dụng điểm bán lẻ làm kênh tiếp thị quảng cáo tương tác với người tiêu dùng. Những điểm bán lẻ do đơn vị sản xuất trực tiếp tổ chức triển khai thường chọn ở những vị trí rấtquan trọng và được góp vốn đầu tư rất lớn về mạng lưới hệ thống nhận diện tên thương hiệu. Cửa hàng đượcxem như thể một điểm quảng cáo cố định và thắt chặt, hầu hết diện tích quy hoạnh mặt tiền được sử dụng vớimục đích tiếp thị quảng cáo thiết kế xây dựng tên thương hiệu. – Làm kênh kiểm chứng giá và chất lượng loại sản phẩm kiêm dịch vụ người mua. Giá bán ở những shop do đơn vị sản xuất trực tiếp tổ chức triển khai là giá chuẩn cố định và thắt chặt vàthường cao hơn giá do những nhà bán lẻ khác. Do vậy người mua đến mua loại sản phẩm từnhững shop này thường là những phân khúc người mua mua sự yên tâm, họ chấpnhận giá cao để được yên tâm là chất lượng mẫu sản phẩm và dịch vụ hậu mãi được bảođảm. Hoặc là những người mua ưu thích công nghệ tiên tiến mới vì những mẫu sản phẩm mớithường được đưa ra trình làng ở những shop này trước khi tung ra bán rộng rãitrên thị trường. Ở những điểm bán lẻ này, hầu hết loại sản phẩm đều là loại sản phẩm mang thương hiệu củacông ty. Cửa hàng bán lẻ sẽ nhận được những tặng thêm, tương hỗ nhất định từ phía công ty, như cung ứng nguồn hàng, bảng hiệu quảng cáo, Chi tiêu tặng thêm, có chiết khấu và thưởngtrên mỗi mẫu sản phẩm bán ra, và thưởng nếu đạt được mức lệch giá cao, … Điển hình là công ty Sony Nước Ta với việc lựa chọn trên 100 nhà kinh doanhsản phẩm điện tử khắp cả nước, thành lập Hội đại lý bán lẻ Sony Nước Ta. Tiêuchuẩn để lựa chọn nhà kinh doanh là tọa lạc mẫu sản phẩm của công ty trong shop ítnhất là 50 % trên tổng số mẫu sản phẩm, tuân thủ những chủ trương của công ty về chỉ tiêumua hàng, giữ giá thị trường, tránh cạnh tranh đối đầu không lành mạnh, thực thi những chiếndịch bán hàng, quảng cáo, khuyến mói, … Đây là những thành việc quan trọng trong hệthống phân phối của Sony, và ngược lại, công ty cũng tương hỗ những thành viên nàymột cách tích cực, như cung ứng bảng hiệu, loại sản phẩm tọa lạc với giá khuyễn mãi thêm đặcbiệt, cung ứng nhu yếu về đặt hàng, bồi thường thiệt hại khi giảm giá, tương hỗ về tàichính, dành riêng chiết khấu và thưởng cho những shop, … 1.5 Hệ thống bán hàng trực tuyếnTrong thời đại mà công nghệ thông tin tăng trưởng như vũ bão lúc bấy giờ, thì mộthình thức bán hàng nữa đã sinh ra và chứng tỏ được tính thuận tiện, hiệu suất cao của nó, đó là hình thức bán hàng trực tuyến, trải qua những website hoặc kênh shopping. Chính bởi tính hiệu suất cao, doanh thu khá cao lại ít tốn kém ngân sách, nên ngày càngxuất hiện nhiều những website bán hàng trực tuyến. Các website này thường là của cáccông ty mở ra, phối hợp với bán hàng trải qua cỏc kờnh bán lẻ khác, để tăng doanhthu, tăng tầm phủ sóng của kênh phân phối. Với mô hình bán hàng trực tuyến này phảikể tới những doanh nghiệp bỏn cỏc mẫu sản phẩm điện tử, điện máy, ví dụ những siêu thị nhà hàng điệnmáy, quốc tế di động, mobile mart, … Công ty sách vinabook cũng có một website bỏnsỏch qua internet, hoạt động giải trí khá hiệu suất cao. Một số shop bán lẻ những mẫu sản phẩm thờitrang cũng tự lập ra cá website để bán hàng qua mạng cho những người mua ở xa, không tiện ghé qua shop, hoặc không có thời hạn. Ngoài ra cũng có những website chuyên bán hàng trực tuyến, hoạt động giải trí giốngnhư một nhà hàng siêu thị, với nhiều chủng loại loại sản phẩm, mẫu mã, thương hiệu khác nhau chokhách hàng lựa chọn, như muabanhangngay.com, denthan.com, sieuthinhanh.com, … Không chỉ dừng lại ở bán hàng trải qua mạng internet, mà một hình thứctruyền thông khác cũng vào cuộc, đó là truyền hình, trải qua cỏc kờnh shopping. Người xem truyền hình đã không còn lạ lẫm với những chương trình ra mắt sảnphẩm và mua hàng trực tiếp Best Buy. Hiện nay, đài truyền hình còn kiến thiết xây dựng một sốkờnh chuyên cung ứng thông tin về những loại sản phẩm có chất lượng tốt, Giao hàng cho hoạtđộng shopping, bán lẻ những loại sản phẩm tiêu dùng. Ví dụ như kênh shopping của đài truyềnhình Thành Phố Hà Nội 2, kênh Home Shopping trên mạng lưới hệ thống truyền hình cáp Thành Phố Hà Nội, … Mộtđặc điểm của kênh shopping trực tiếp này, đó là những mẫu sản phẩm được trình làng thườngít Open trên thị trường, mà được phân phối độc quyền bởi một công ty nào đó, trải qua kênh shopping, người tiêu dùng mới biết đến những tính năng nổi trội củasản phẩm và đặt mua. Như vậy kênh shopping trực tiếp này là cầu nối trực tiếp giữangười sản xuất và người tiêu dùng, kích thích nhu yếu của người tiêu dùng về sảnphẩm được trình làng. Thông qua những kênh bán hàng trực tuyến và trên truyền hình, người tiêu dùngcó thể thấy được tính năng của loại sản phẩm, giá tiền, mẫu mã, và hoàn toàn có thể đặt mua hàngtrực tiếp, được giao hàng tận nhà, rất thuận tiện cho những người không có nhiều thờigian dành cho shopping, hoặc những người muốn mua hàng nhưng lại ở xa. 2. Các chủ thể tham gia bán lẻ2. 1 Các công ty phân phối trong nướcBao gồm những doanh nghiệp nhà nước và ngoài nhà nước như : Saigon Co. opMart, Intimex, Maximart, Nguyễn Kim, Phỳ Thỏi, … Đõy là những nhà phân phối cótrình độ khỏ chuyờn nghiệp và mạng lưới mạng lưới hệ thống phân phối khá thoáng rộng trờn nhiềutỉnh, thành phố thường trực TW trong cả nước. Trong đó những doanh nghiệp nhànước nhìn chung có tiềm lực về kinh tế tài chính và lợi thế về cơ sở sản xuất hơn nên đóng vaitrò vừa là nhà phân phối, vừa là đơn vị sản xuất và thu mua sản phẩm & hàng hóa để kinh doanh thương mại tronghệ thống phân phối của mình. Trong khi đó những doanh nghiệp ngoài nhà nước chủ yếutập trung vào hoạt động giải trí phân phối để tạo nên những mạng lưới hệ thống chuyên doanh phânphối. Hiện tại những doanh nghiệp bán lẻ trong nước đang không ngừng lan rộng ra quy môvà đã xuất hiện ở hầu khắp cả nước. Tuy nhiên nếu xét về mạng lưới hệ thống bán lẻ văn minh nhưsiêu thị, TT thương mại, chuỗi shop tiện ích mà những doanh nghiệp này thiếtlập thì mới chỉ bảo phủ được khoảng chừng 30 trên 64 tỉnh, thành phố. Trong đó, gần 80 % những ẩm thực ăn uống, TT thương mại tập trung chuyên sâu ở những tỉnh, thành phố lớn như Thành Phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Thành Phố Đà Nẵng, … Cỏc doanh nghiệp kinh doanh thương mại dịch vụ phân phốitrong nước còn nhiều hạn chế về năng lượng kinh tế tài chính, công nghệ tiên tiến, kiến thức và kỹ năng tổ chức triển khai quảnlý kinh doanh thương mại, … so với những doanh nghiệp có vốn góp vốn đầu tư quốc tế hoạt động giải trí trongcùng nghành nghề dịch vụ này. 2.2 Các tập đoàn lớn phân phối quốc tế hoạt động giải trí tại Việt NamTrong những năm qua, những tập đoàn lớn phân phối quốc tế đã khởi đầu đổ xô vàothị trường Nước Ta và nhanh gọn trở thành một chủ thể quan trọng trong quá trìnhphân phối sản phẩm & hàng hóa. Rất nhiều những tập đoàn lớn phân phối bán lẻ của quốc tế đã có mặttại Nước Ta và hoạt động giải trí rất hiệu suất cao như Metro Cash và Carry, chợ giao thương Big C, Parkson, … Các công ty phân phối của quốc tế với nguồn vốn góp vốn đầu tư lớn, công nghệ cao, kỹnăng quản trị chuyên nghiệp và kinh nghiệm tay nghề hoạt động giải trí lâu năm, đã thiết kế xây dựng nênnhững mạng lưới hệ thống bán lẻ chuyên nghiệp, văn minh và tân tiến, nổi trội hơn hẳn so vớicác doanh nghiệp trong nước. Các tập đoàn lớn này thường tập trung chuyên sâu vào khâu phân phốidựa trên sự ký kết hợp đồng thu mua loại sản phẩm từ nhiều nguồn khác nhau mà khôngtrực tiếp sản xuất ra mẫu sản phẩm để phân phối như 1 số ít doanh nghiệp trong nước. Sựcó mặt của những tập đoàn lớn bán lẻ này tại Nước Ta, một mặt tạo nên sự cạnh tranh đối đầu gaygắt, làm đa dạng hóa hình thức bán lẻ, phong phú và đa dạng về chủng loại mẫu sản phẩm với giá cảcạnh tranh, tạo thời cơ tốt để hình thành một thị trường trong nước hoạt động giải trí lành mạnh, tăng trưởng phong phú và tiếp cận được với trình độ tân tiến của quốc tế trong hoạt độngbán lẻ sản phẩm & hàng hóa. Mặt khác tạo nên sức ép lớp yên cầu những nhà bán lẻ trong nước phảikhông ngừng cải tổ mạng lưới hệ thống bán lẻ của mình để không bị những tập đoàn lớn bán lẻ quốctế bỏ xa và sở hữu thị trường trong nước. 2.3 Các doanh nghiệp bán lẻ, những hộ kinh doanhĐây là một trong những thành phần quan trọng tham gia vào thị trường bán lẻcủa Nước Ta và tạo ra việc làm cho khoảng chừng 5 triệu lao động trong cả nước. Tuynhiên, hoạt động giải trí kinh doanh thương mại của nhóm này còn mang nặng tính tự phát, hầu hết đều lànhững lao động đại trà phổ thông, không được đào tạo và giảng dạy về kiến thức và kỹ năng kinh doanh thương mại, do đó thiếukiến thức và kỹ năng và kiến thức để chống đỡ những rủi ro đáng tiếc, dịch chuyển hoàn toàn có thể xảy ra trên thịtrường. 3. Kết quả tìm hiểu, khảo sát những doanh nghiệp bán lẻ của Nước Ta trên 4 thành phố lớn là Thành Phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, TP. Hải Phòng và TP. Đà Nẵng. ( Nguồn : Báo cáo tác dụng tìm hiểu của Bộ Công Thương về thị trường bán lẻ ở 4 thànhphố lớn là TP. Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng Đất Cảng và TP. Đà Nẵng ) Thành Phố Hà Nội, Hải Phòng Đất Cảng, TP. Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh là 4 thành phố lớn nhấtcủa cả nước. Như đã nói ở trên, những doanh nghiệp bán lẻ tập trung chuyên sâu phần nhiều ở 4 tỉnh, thành phố này, đặc biệt quan trọng là những mạng lưới hệ thống bán lẻ văn minh như nhà hàng, TT thươngmại, chuỗi shop tiện ích. Dưới đây là tác dụng của cuộc tìm hiểu khảo sát những doanh nghiệp bán lẻ của ViệtNam trên 4 thành phố lớn này. 3.1 Cơ cấu doanh nghiệp bán lẻ của 4 địa phận được khảo sátMặc dù là 4 thành phố lớn nhưng cơ cấu tổ chức những doanh nghiệp bán lẻ cũng có sựkhác nhau rõ ràng. Các doanh nghiệp bán lẻ vẫn tập trung chuyên sâu nhiều nhất ở 2 thành phốchính là Thành Phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, chiếm tới 68,25 %. Thành phố Hồ ChíMinh với vai trò là TT kinh tế tài chính của cả nước, đã có số doanh nghiệp bán lẻ chiếmtới 41,13 %, gấp 1,5 lần số doanh nghiệp bán lẻ ở TP.HN, và gấp khoảng chừng 2,5 lần sốdoanh nghiệp ở Hải Phòng Đất Cảng và TP. Đà Nẵng. Biểu đồ 3 : Cơ cấu doanh nghiệp bán lẻ của 4 thành phố : TP. Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, TP. Hải Phòng, TP. Đà Nẵng ( Nguồn : Báo cáo tác dụng tìm hiểu của Bộ Công Thương về thị trường bán lẻ ở 4 thànhphố lớn là TP. Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng Đất Cảng và Thành Phố Đà Nẵng ) 3.2 Cơ cấu doanh nghiệp bán lẻ phân theo mô hình doanh nghiệpBiểu đồ 4 : Cơ cấu doanh nghiệp bán lẻ phân theo mô hình doanh nghiệp ( Nguồn : Báo cáo tác dụng tìm hiểu của Bộ Công Thương về thị trường bán lẻ ở 4 thànhphố lớn là TP. Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng Đất Cảng và TP. Đà Nẵng ) 3.3 Nguồn phân phối hàng hầu hết cho doanh nghiệp bán lẻBiểu đồ 5 : Cơ cấu về nguồn phân phối hàng đa phần cho doanh nghiệp bán lẻ ( Nguồn : Báo cáo hiệu quả tìm hiểu của Bộ Công Thương về thị trường bán lẻ ở 4 thànhphố lớn là TP.HN, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng Đất Cảng và Thành Phố Đà Nẵng ) Đơn vị : % 3.4 Hình thức Giao hàng bán hàngBiểu đồ 6 : Hình thức Giao hàng bán hàng ( Nguồn : Báo cáo hiệu quả tìm hiểu của Bộ Công Thương về thị trường bán lẻ ở 4 thànhphố lớn là Thành Phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng Đất Cảng và TP. Đà Nẵng ) Đơn vị : % 4. Thị trường bán lẻ của Nước Ta sau khi gia nhập WTOTừ tháng 1 năm 2007, Nước Ta đã chính thức trở thành thành viên của tổ chứcthương mại quốc tế WTO. Điều này mở ra vô vàn thời cơ cũng như thử thách mà nềnkinh tế nước ta phải đương đầu, thị trường bán lẻ cũng không phải là ngoại lệ. Việc gia nhập WTO đã tạo một bước ngoặt lớn cho ngành bán lẻ của Nước Ta. Theo nghiên cứu và phân tích của giới kinh doanh thương mại và phân phối hàng tiêu dùng, với một thị trườngkhoảng 86 triệu dân, tổng mức tiêu dùng những năm gần đây đã đạt mức từ 25-30 tỉUSD / năm, Nước Ta được nhìn nhận là thị trường bán lẻ mê hoặc nhất quốc tế ( theobáo cáo về chỉ số tăng trưởng mảng kinh doanh thương mại bán lẻ ( GRDI ) năm 2009 của hãng tưvấn Mỹ A.T. Kearney ). Do đó Nước Ta là điểm đến lý tưởng của những tập đoàn lớn phânphối đa vương quốc. Đây cũng là điều lý giải vì sao khi đàm phán để Nước Ta gia nhậpTổ chức Thương mại quốc tế, những đối tác chiến lược luôn đưa ra yêu sách Nước Ta phải mở cửalĩnh vực dịch vụ phân phối hàng hoá. Và đúng như cam kết, ngay sau khi trở thànhthành viên của WTO, Nước Ta đã thực thi Open thị trường bán lẻ, theo đó, cácnhà góp vốn đầu tư quốc tế được góp vốn đầu tư và hoạt động giải trí theo hình thức liên kết kinh doanh, trong đónhà góp vốn đầu tư quốc tế chiếm không quá 49 % vốn điều lệ doanh nghiệp. Từ 1/1/2008, không hạn chế tỷ suất góp vốn của nhà đầu tư quốc tế ( nhưng vẫn phải lập công tydưới hình thức góp vốn liên kết kinh doanh ). Và mới gần đây, từ 1/1/2009, Nước Ta lại tiếp tụcthực hiện bước nữa của lộ trình đã cam kết, đó là những nhà đầu tư quốc tế được đầutư theo hình thức 100 % vốn quốc tế. Điều này tạo điều kiện kèm theo thuận tiện cho những nhàbán lẻ quốc tế góp vốn đầu tư vào Nước Ta ngày càng nhiều như Metro Cash và Carry ( Đức ), chợ giao thương Big C của Bourbon ( Pháp ), Parkson thuộc tập đoàn lớn Lion ( Malaysia ), Zen Plaza ( Nhật Bản ), Diamond Plaza ( Nước Hàn ). Cỏc tập đoàn lớn này đã và đang tiến hành chiếnlược tăng trưởng mạng lưới nhà hàng siêu thị, TT thương mại đầy tham vọng của mỡnh trờnphạm vi toàn nước. Công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Metro Cash và Carry ( Đức ) với 6 ẩm thực ăn uống hoạt động giải trí tại thành phốHồ Chí Minh, TP. Hà Nội, Hải Phòng Đất Cảng, Thành Phố Đà Nẵng, Cần Thơ với hình thức bán sỉ và bánlẻ khoảng chừng 10.000 – 15.000 mẫu sản phẩm những loại. Giá bán thấp hơn 10 % – 15 % so với cácsiêu thị khỏc. Đó cú trờn 90.000 hội viên được cấp thẻ vào mua hàng tại Metro. Mặcdù góp vốn đầu tư vào Nước Ta với quy mô bán sỉ nhưng thật ra Metro lại kinh doanh thương mại cảtheo dạng bán lẻ vì việc cấp thẻ hội viên diễn ra khá đại trà phổ thông, khách mua hàng không bịhạn chế về số lượng và đơn vị chức năng sản phẩm & hàng hóa hầu hết là nhỏ lẻ, kiếm lời khoảng chừng 500 triệuUSD / năm và tăng trưởng hàng năm đạt 45 %. Bênh cạnh đó, Parkson đã vạch một kếhoạch tăng trưởng 10 TT shopping trong vòng 5 năm. Tập đoàn Bourbon cũng đãmở 10 đại siêu thị nhà hàng tại Nước Ta … Đầu năm 2009, tập đoàn lớn Lotte Mart ( Nước Hàn ) chính thức tham gia vào thị trường bán lẻ của Việt Nam bằng việc liên kết kinh doanh với đốitác trong nước mở siêu thị nhà hàng Lotte Mart Nam Sài Gũn, cú tổng vốn góp vốn đầu tư 70 triệu đô laMỹ tại Q. 7, thành phố Hồ Chí Minh. Và sắp tới là những tập đoàn lớn phân phối hàngđầu khu vực và quốc tế khác nữa như Carefour ( Pháp ), Tesco ( Anh ) và những tập đoànbán lẻ số 1 châu Á như : Dairy Farm ( Hồng Kụng ), South Asia Investment Pte ( Nước Singapore ) chưa kể đến một tập đoàn lớn phân phối số 1 quốc tế mà từng bướcchân của họ đi đến vương quốc nào thì được nhìn nhận là làm biến hóa nền kinh tế tài chính của quốcgia đó – đó là WalMart. Người ta cho rằng khi Walmart đặt khu vực ở đâu, thì trongvòng nửa đường kính 3 km sẽ không còn một cửa hiệu bán lẻ nào sống sót nổiCác tập đoàn lớn bán lẻ quốc tế có lợi thế hơn hẳn do họ từng hoạt động giải trí tronglĩnh vực bán lẻ trước Nước Ta hàng chục năm. Họ có quy trình tích góp vốn, tích lũykinh nghiệm, có thế mạnh của mạng lưới hệ thống toàn thế giới với nhiều phương pháp, mô hình kinhdoanh và có tên thương hiệu mạnh, cơ sở vật chất kỹ thuật tân tiến, trình độ quản trị tiêntiến theo mạng lưới hệ thống thông suốt từ TT đến cơ sở, năng lực nghiên cứu và điều tra và nắm bắtthị trường nhạy bén, đúng mực, trình độ khoa học công nghệ tiên tiến tiên tiến và phát triển. Chính sự cómặt của những tập đoàn lớn này đã đẩy hoạt động giải trí kinh doanh thương mại bán lẻ trên địa phận cả nước đivào bước ngoặt mới của cuộc cạnh tranh đối đầu. Trong khi những tập đoàn lớn bán lẻ quốc tế được biết đến với hình ảnh những đạisiêu thị thì hầu hết shop truyền thống lịch sử của Nước Ta đều ở trong thực trạng chunglà có diện tích quy hoạnh nhỏ, trang thiết bị thô sơ và hầu hết sử dụng lao động đại trà phổ thông. Cácdoanh nghiệp thương mại trong nước phần nhiều cũng là doanh nghiệp có quy mô nhỏvà vừa. Sự chênh lệch khá lớn về trình độ cũng như kinh tế tài chính này đã đẩy những doanhnghiệp bán lẻ Nước Ta vào tình thế cạnh tranh đối đầu quyết liệt, có rủi ro tiềm ẩn phá sản nếu nhưkhông tìm ra một hướng đi mới. Nhận thức rõ mối nguy đú, đó cú những người kinh doanh đưa ra giải pháp phá vỡthế bế tắc, mà đi đầu trong việc đối phó với rủi ro tiềm ẩn bành trướng của mạng lưới hệ thống phânphối hàng hoá mà những tập đoàn lớn phân phối đa vương quốc sẽ xâm nhập vào thị trườngViệt Nam, những người kinh doanh kinh doanh thương mại trong nghành nghề dịch vụ phân phối hàng hoá hàng đầutrong nước đã khẩn trương lập ra Cty TNHH thương mại và dịch vụ G7 ( G7 Mart ) đểxây dựng mạng lưới hệ thống phân phối hàng hoá trên khắp thị trường Nước Ta. G7 Mart đượchình thành trên cơ sở tập hợp những shop tạp hóa nhỏ lẻ với tiềm năng là trang bị, tăng cấp, biến hóa phương pháp quản trị, cung cách Giao hàng để hướng những cửa hàngnày thành chuỗi shop kinh doanh thương mại tiện nghi theo quy mô phân phối văn minh kinhdoanh 24 giờ của tập đoàn lớn 7 – Eleven tại Vương Quốc của nụ cười. Các nhà hàng G7 lại lựa chọn từnhững shop bán lẻ tầm trung đang hoạt động giải trí hiệu suất cao, theo nhiều tiêu chuẩn đánh giácủa công ty này như lệch giá tháng, quy mô shop, diện tích quy hoạnh, vị trí Với hìnhthức hợp tác kinh doanh thương mại, nhượng quyền tên thương hiệu, chủ những shop bán lẻ sẽ kýhợp đồng với G7 để trở thành thành viên của chuỗi tên thương hiệu này. G7 sẽ góp vốn đầu tư cửahàng theo một phong cách thiết kế trang trí độc quyền, phân phối và phân phối hàng tập trung chuyên sâu, đồngthời thiết lập những dịch vụ giá trị ngày càng tăng như phát hành thẻ mua hàng trả trướckhuyến mãi 10 % trên giá trị thẻ, thanh toán giao dịch ngân sách những dịch vụ hoạt động và sinh hoạt như điệnnước, điện thoại thông minh để ship hàng người tiêu dùng. Với tổng giá trị góp vốn đầu tư lên tới 395 triệuUSD, theo dự kiến đến năm 2010 G7 Mart sẽ có khoảng chừng 7.000 shop tiện nghi, 200 TT phân phối, 100 TT phân phối sỉ, 7 TT thương mại và 7 siêu thịlẻ tại việt nam khắp 65 tỉnh, thành. Không chỉ có G7, lúc bấy giờ công ty Intimex đang đề ra kế hoạch thiết kế xây dựng mộthệ thống ẩm thực ăn uống và thương mại 3 cấp tại Thành Phố Hà Nội và những tỉnh thành khác gồm có cáccửa hàng tự chọn, mạng lưới hệ thống siêu thị nhà hàng và những TT thương mại. Đặc biệt Intimex dựđịnh sẽ kiến thiết xây dựng những TT dự trữ phân phối lớn để hoàn toàn có thể dữ thế chủ động nguồn hàngcho mạng lưới hệ thống bán lẻ của mình. Theo dự tính, Intimex sẽ thiết kế xây dựng mạng lưới hệ thống của mìnhtrong vòng 10 năm với vận tốc tăng trưởng trung bình 30 % / năm. Một mạng lưới hệ thống nhà hàng siêu thị hiện cũng đang tăng trưởng khá mạnh, đó là Hapro. Hệ thốngsiêu thị và shop tiện ích mang tên Hapro mart được thiết kế xây dựng khá ngặt nghèo dựatrên 4 qui chuẩn : 1. shop từ 70 mét vuông trở lên ; 2. mầu xanh đặc trưng của tên thương hiệu ; 3. chuẩn hoá nguồn hàng ; 4. chuẩn hoá đội ngũ nhân viên cấp dưới từ phục trang đến phongcách. Chỉ sau hơn 1 tháng đi vào hoạt động giải trí, Hapro mart đã có 19 khu vực, trong đó có3 nhà hàng và 16 shop tiện ích. Tháng 2 năm 2009, Hapro cùng với Công ty TNHHTrớ Phúc đã khai trương mở bán siêu thị nhà hàng đồng giá tiên phong mang tên thương hiệu Daiso ( đây làthương hiệu được Tập đoàn ẩm thực ăn uống đồng giá Daiso Nhật Bản nhượng quyền ) tại HàNội. Đây là bước tiến mới mẻ và lạ mắt, bộc lộ sự nhạy bén của những nhà bán lẻ Việt Namtrước khuynh hướng mới. Hiện tại Hapro đã khai trương mở bán 10 ẩm thực ăn uống mang tên thương hiệu nàytrên toàn nước. Không chỉ có vậy, Hapro còn chú trọng tăng trưởng mạng lưới hệ thống nhà hàng