Giải pháp khắc phục khó khăn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội – Tài liệu text
Giải pháp khắc phục khó khăn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (270.74 KB, 52 trang )
Bạn đang đọc: Giải pháp khắc phục khó khăn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội – Tài liệu text
Page | 1
Giải pháp khắc phục khó khăn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
LỜI MỞ ĐẦU
Năm 1986 trở về trước nền kinh tế nước ta là nền kinh tế sản xuất nhỏ, mang
tính tự cung tự cấp vận hành theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Mặt khác do
những sai lầm trong nhận thức về mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế nước
ta ngày càng tụt hậu, khủng hoảng trầm trọng kéo dài, đời sống nhân dân thấp. Muốn
thoát khỏi tình trạng đó con đường duy nhất là phải đổi mới kinh tế.
Sau đại hôị Đảng VI năm 1986 nền kinh tế nước ta chuyển sang một hướng đi
mới :phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa- đó chính là nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Việc nghiên cứu về kinh tế thị trường-sự hình thành và phát triển có ý nghĩa vô
cùng to lớn cả về lý thuyết lẫn thực tế. Một mặt, cho ta thấy được tính khách quan của
nền kinh tế thị trường, và sự cần thiết phải phát triển kinh tế Thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước ở nước ta hiện nay, thấy được những gì
đã đạt được và chưa đạt được của Việt nam. Mặt khác, giúp chúng ta có cái nhìn tổng
quan về nền kinh tế nước nhà, đồng thời thấy được vai trò to lớn của quản lý nhà nước
đối với nền kinh tế thị trường, những giải pháp nhằm đưa nước ta tiến nhanh lên nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ở Việt Nam, phát triển kinh tế thị trường trong thực tế không những là nội
dung của công cuộc đổi mới mà lớn hơn thế còn là công cụ, là phương thức để nước
ta đi tới mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhưng vấn đề đặt ra là: Thực hiện mô
hình này bằng cách nào để hạn chế tiêu cực, tăng tích cực giúp cho kinh tế nước ta
ngày càng phát triển sánh vai cùng các cường quốc năm châu khác?
Page | 2
Giải pháp khắc phục khó khăn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Chính vì vậy, việc nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện những quan điểm, biện
pháp để nền kinh tế nước ta phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa và giữ vững
định hướng đó là công việc vô cùng thiết thực và cần thiết, có ý nghĩa to lớn đối với
mỗi nhà nghiên cứu và phân tích kinh tế. Xuất phát từ tầm quan trọng đó nên tôi quyết
định chọn đề tài nghiên cứu: “Giải pháp khắc phục khó khăn phát triển nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”
Đây là một đề tài rất rộng mang tính khái quát cao, mặc dù rất cố gắng, song
bài viết của tôi sẽ không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót về nội dung cũng như
hình thức. Kính mong các thầy cô xem xét và góp ý để bài viết của tôi được hoàn
thiện hơn.
Page | 3
Giải pháp khắc phục khó khăn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
PHẦN 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
I. Quá trình hình thành nền kinh tế thị trường.
1. Kinh tế thị trường.
Kinh tế thị trường không phải là một chế độ kinh tế – xã hội. Kinh tế thị trường
là hình thức và phương pháp vận hành kinh tế. Các qui luật của thị trường chi phối
việc phân bổ các tài nguyên, qui định sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, và sản
xuất cho ai. Đây là một kiểi tổ chức kinh tế hình thành và phát triển do những đòi hỏi
khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất. Nó là phương thức sinh hoạt kinh tế
của sự phát triển.
Kinh tế thị trường là hình thức phát triển cao nhất của kinh tế hàng hoá. Khái
niệm kinh tế thị trường phản ánh trạng thái tồn tại vận động của nền kinh tế theo cơ
chế thị trường, thật ra kinh tế thị trường là sản phẩm của sự phát triển khách quan của
xã hội loài người. Nền kinh tế thị trường có khả năng “tự động” tập hợp trí tuệ và
tiềm lực của hàng triệu con người hướng tới lợi ích chung của xã hội, do đó nó thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng năng suất lao động, hiệu quả sản xuất, góp phần thúc
đẩy sự phát triển của một xã hội.
Quá trình hình thành và phát triển kinh tế thị trường là quá trình mở rộng phân
công lao động xã hội, phát triển khoa học – công nghệ mới và ứng dụng chúng vào
thực tiễn sản xuất – kinh doanh. Sự phát triển của kinh tế thị trường gắn liền với quá
trình phát triển của nền văn minh nhân loại, của khoa học – kĩ thuật, của lực lượng sản
xuất.
Page | 4
Giải pháp khắc phục khó khăn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
2. Quá trình hình thành kinh tế thị trường gắn với quá trình xã hội hoá sản xuất
thông qua các quá trình:
2.1. Quá trình tổ chức phân công và phân công lại đối với lao động xã hội.
Sản xuất bao giờ cũng mang tính chất xã hội.Tính xã hội của sản xuất không
chỉ tồn tại trong buổi đầu hình thành xã hội con người, mà còn phát triển cao hơn
trong điều kiện của xã hội hiện đại.
Xã hội hoá sản xuất là sự liên kết nhiều quá trình kinh tế riêng biệt thành quá
trình kinh tế – xã hội, tồn tại, hoạt động và phát triển liên tục như một quá hệ thống
hữu cơ, đó là quá trình kinh tế khách quan phù hợp với trình độ phát triển cao của lực
lượng sản xuất, phản ánh xu thế phát triển tất yếu mang tính chất xã hội của sản xuất.
Xã hội hoá được biểu hiện ở trình độ phát triển của sự phân công và phân công
lại lao động xã hội. Phân công lao động xã hội là việc phân chia người sản xuất vào
những nghành nghề khác nhau của xã hội, là cơ sở của sản xuất và lưu thông hàng
hoá. Theo dòng lịch sử, phân công lao động phát triển cùng với sự phát triển của lực
lượng sản xuất xã hội, phân công lao động tạo ra sự hợp tác và trao đổi lao động, hình
thức đầu tiên là hiệp tác giản đơn. Với hình thức này, lần đầu tiên lao động được xã
hội hoá, “ người lao động tổng hợp” xuất hiện, tiếp đến là sự phân công trong công
trường thủ công gắn liền với sự chuyên môn hoá công cụ thủ công dựa trên tay nghề
của người lao động. Máy móc ra đời là một nấc thang mới của sự phát triển lực lượng
sản xuất là nền sản xuất dựa trên cơ khí, khi mà hiệp tác lao động thực sự trở thành ”
tất yếu kỹ thuật” lấy máy móc làm chủ thể. Đến lượt mình, đại công nghiệp cơ khí
thúc đẩy sự phân công lao động và hiệp tác lao động trên độ mới cao hơn.
2.2. Quá trình đa dạng hoá các hình thức sở hữu đối với tư liệu sản xuất.
Quá trình này gắn liền với điều kiện sản xuất hàng hoá. Các hình thức từ sở hữu
phát triển từ thấp đến cao, từ sở hữu riêng độc lập tới sở hữu chung, sở hữu tập thể, sở
Page | 5
Giải pháp khắc phục khó khăn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
hữu nhà nước, của các hình thức tổ chức sản xuất từ công ty tư nhân tới công ty liên
doanh đến công ty trách nhiệm hữu hạn từ hình thức cac-ten tới xanh-đi-ca, tơrớt,
công-xac-xi-on, từ những công ty quốc gia đến công ty đa quốc gia, xuyên quốc gia
có các chi nhánh ở nhiều nước.
Sở hữu về tư liệu sản xuất là hình thái xã hội của sự chiếm hữu về tư liệu sản
xuất, một nội dung chủ yếu trong hệ thống các quan hệ sản xuất. Vì vậy hình thức,
quy mô, phạm vi cũng như tính đa dạng của sở hữu không phải do ý muốn chủ quan
của con người quyết định mà là một quá trình phát triển lịch sử tự nhiên.
2.3. Quá trình tiến hành cách mạng công nghệ làm xuất hiện thị trường
mới
Xã hội hoá sản xuất biểu hiện ở mối liên hệ giữa các ngành, các nghề, các vùng
ngày càng cao và chặt chẽ. Mối liên hệ này không chỉ diễn ra trên lĩnh vực lưu thông
mà còn diễn ra trong lĩnh vực đầu tư, hợp tác khoa học- công nghệ và dưới các hình
thức liên doanh liên kết đa dạng, phong phú. Quá trình hình thành kinh tế thị trường
gắn liền với quá trình cách mạng khoa học-công nghệ làm xuất hiện thị trường đầu
vào sản xuất. Công nghệ là tinh hoa trí tuệ, là lao động sáng tạo của con người để
phục vụ con người. Chính công nghệ là chìa khoá cho sự phát triển, là cơ sở và là
động lực thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội dựa trên nèn tảng phát triển công nghệ bền
vững và tăng trưởng cao. Công nghệ làm biến đổi cơ cấu xã hội đồng thời nó cũng là
kết quả của sự thay đổi xã hội, sự phát triển khoa học- công nghệ làm xuất hiện thị
trường vốn, thị trường lao động kỹ thuật.
Ngoài ra, xã hội hoá sản xuất còn biểu hiện ở tính chất xã hội hoá của sản
phẩm. Trong nền sản xuất xã hội hoá, sản phẩm làm ra phải qua tay nhiều người,
nhiều công đoạn. Tính đa dạng của nhu cầu phổ biến và sự khác nhau trong điều kiện
thuận lợi cho sản xuất ở các nuức đòi hỏi bất cứ nền kinh tế nào cũng phải có sự trao
Page | 6
Giải pháp khắc phục khó khăn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
đổi kết quả hoạt động lao động với bên ngoài với mức độ và phạm vi khác nhau. Sự
tham gia vào phân công lao động quốc tế dưới nhiều hình thức sẽ ra tăng sự thích ứng
và phù hợp về cơ cấu của nền kinh tế với bên ngoài. Ngày nay trong điều kiện phân
công chuyên môn hoá và hợp tác quốc tế thì một sản phẩm không chỉ một công ty hay
một quốc gia sản xuất ra mà có thể do nhiều công ty thuộc nhiều quốc gia sản xuất ra.
II. Các bước phát triển kinh tế thị trường.
Kinh tế thị trường phát triển qua 3 bước: Từ kinh tế tự nhiên sang nền kinh tế
hàng hoá giản đơn; từ kinh tế hàng hoá giản đơn sang kinh tế thị trường tự do; từ kinh
tế thị trường tự do sang kinh tế hỗn hợp.
1.Từ kinh tế tự nhiên phát triển sang kinh tế hàng hoá giản đơn.
Trong nền kinh tế tự nhiên, sản xuất nhỏ chiếm ưu thế. Nền kinh tế tự
nhiên do nhiều đơn vị kinh tế thuần nhất hợp thành(các gia đình nông dân gia trưởng,
các công xã nông nông thôn, các lãnh địa phong kiến) và mỗi đơn vị kinh tế ấy làm đủ
mọi công việc đẻ tạo ra sản phẩm cuối cùng.
Trong các nền kinh tế tự nhiên, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu; nông
nghiệp là ngành sản xuất cơ bản, công cụ kỹ thuật canh tác lạc hậu dựa vào chân tay
là chủ yếu chỉ có một số trang trại của địa chủ hoặc phường hội mới có hiệp tác lao
động giản đơn. Đây chính là mô hình kinh tế đóng kín, không có sự giao lưu sản
phẩm với bên ngoài, nó tồn tại suốt một thời kỳ dài cho đến chế độ phong kiến.
Bước đi chủ yếu của sản xuất tự cung, tự cấp là tiến lên sản xuất hàng hoá giản
đơn. Điều kiện cho quá trình chuyển hoá này là sự phát triển của kinh tế hàng hoá.
Phân công xã hội là cơ sở của kinh tế hàng hoá.
Page | 7
Giải pháp khắc phục khó khăn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Những người sản xuất ở những vùng khác nhau có những điều kiện tự nhiên
khác nhau, có khả năng và ưu thế trong sản xuất ra những sản phẩm khác nhau đạt
hiệu quả cao hơn. Ngay trong một vùng, một địa phương những người sản xuất cũng
có những khả năng, điều kiện và kinh nghiệm sản xuất khác nhau. Mỗi người chỉ tập
trung sản xuất những sản phẩm nào mà mình có ưu thế, đem sản phẩm của mình trao
đổi lấy những sản phẩm cần thiết cho sản xuất và đời sống của mình, họ trở thành
những người sản xuất hàng hoá cùng trao đổi mua bán hàng hoá với nhau, trên cơ sở
đó thị trường, tiền tệ cũng ra đời và phát triển.
Sản xuất hàng hoá ra đời lúc đầu dưới hình thức sản xuất nhỏ, giản đơn nhưng
là một bước tiến trong lịch sử phát triển xã hội. Sản xuất hàng hoá giản đơn là sản
xuất dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất trong điều kiện kỹ thuật thủ công lạc
hậu. Khi trình độ lực lượng sản xuất phát triển cao hơn, sản xuất hàng hoá giản đơn
chuyển sang sản xuất hàng hoá quy mô lớn hơn. Quá trình đó diễn ra trong thời kỳ
quá độ từ xã hội phong kiến lên xã hội tư bản.
2.Từ kinh tế hàng hoá giản đơn lên kinh tế thị trường tự do.
Nền kinh tế thị trường tự do ra đời từ từ nền kinh tế hàng hoá giản đơn nhưng
có những đặc điểm cơ bản khác với nền kinh tế hàng hoá giản đơn. Ở đây người sản
xuất trực tiếp là công nhân làm thuê, không phải là người sở hữu tư liệu sản xuất mà
tư liệu sản xuất là của nhà tư bản. Sản phẩm lao động do những công nhân làm ra
thuộc về nhà tư bản.
Trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn, tác động của qui luật giá trị dẫn tới sự
phát triển tự phát của lực lượng sản xuất. Do tác động tự phát đó, do sự biến động của
giá cả, cạnh tranh đã làm phân hoá những người sản xuất hàng hoá và trong giai đoạn
phát triển lịch sử nhất định làm nảy sinh chủ nghĩa tư bản. Kinh tế hàng hoá giản đơn
đẻ ra chủ nghĩa tư bản, sản xuất hàng hoá trong thời kỳ này cạnh tranh gay gắt. Trong
Page | 8
Giải pháp khắc phục khó khăn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
điều kiện sản xuất qui mô lớn, các nguồn lực tự nhiên ngày càng khan khiếm buộc
người sản xuất phải không ngừng cải tiến đổi mơí kỹ thuật, công nghệ, nâng cao năng
suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất, sử dụng tiết kiệm các yếu tố sản xuất. Đây là
động lực mạnh mẽ cho sự phát triển nền sản xuất hàng hoá.
3.Từ kinh tế thị trường tự do sang kinh tế hỗn hợp
Xuất phát của quan điểm “kinh tế hỗn hợp” có từ cuối những năm của thế kỷ
XIX. Sau khi thời kỳ chiến tranh, nó được các nhà kinh tế học Mỹ, như A.Hasen, tiếp
tục nghiên cứu. Tư tưởng này được phát triển trong “kinh tế học” của P.A.Samuelson.
Nếu các nhà kinh tế học Cổ điển và Cổ điển mới say sưa với “bàn tay vô hình”
và “cân bằng tổng quát”, trường phái Keynes và Keynes mới say sưa với “bàn tay
nhà nước”, thì P.A.Samuelson chủ trương phát triển kinh tế phải dựa vào cả “hai bàn
tay”, là cơ chế thị trường và nhà nước. Ông cho rằng diều hành một nền kinh tế không
có chính phủ hoặc thị trường thì cũng như vỗ tay bằng một bàn tay”.
Cơ chế thị trường là một hình thức tổ chức kinh tế, trong đó, cá nhân người tiêu
dùng và các nhà kinh doanh tác động lẫn nhau qua thị trường để xác định ba vấn đề
trung tâm của tổ chức kinh tế là: cái gì? Như thế nào? Và cho ai? Cơ chế thị trường
“không phải là một sự hỗn hợp mà là trật tự kinh tế”. Một nền kinh tế thị trường là
một cơ chế tinh vi để phối hợp một cách không tự giác nhân dân và doanh nghiệp
thông qua hệ thống giá cả thị trường. Nó là một phương tiện giao tiếp để tập hợp tri
thức và hành động của hàng triệu cá nhân khác nhau, không có bộ não trung tâm, nó
vẫn giải được bài toán mà máy tính lớn nhất ngày nay không thể giải nổi. Không ai
thiết kế ra nó. Nó tự nhiên, và cũng như xã hội loài người, nó đang thay đổi.
Thị trường là một quá trình mà trong đó, người bán một thứ hàng hoá tác động
qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và số lượng hàng hoá. Như vậy, nói đến thị trường
Page | 9
Giải pháp khắc phục khó khăn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
và cơ chế thị trường là phải nói tới hành hoá, người bán và người mua, giá cả hàng
hoá. Hàng hoá bao gồm tiêu dùng, dịch vụ và yếu tố sản xuất như lao động, đất đai, tư
bản. Từ đó hình thành nên thị trường hàng tiêu dùng và thị trường các yếu tố sản xuất.
Trong hệ thống thị trường, mỗi hàng hoá, mỗi loại dịch vụ đều có giá cả của nó. Giá
cả mang lại thu nhập cho hàng hoá mang đi bán. Và mỗi người lại dùng thu nhập đó
để mua hàng mình cần. Nếu một loại hàng hoá nào đó có nhiều người mua, thì người
bán sẽ tăng giá lên để phân phối một lượng cung hạn chế. Giá lên cao sẽ thúc đẩy
người sản xuất làm ra nhiều hàng hoá hơn. Khi có nhiều hàng hoá, người bán muốn
mua nhanh để giải quyết hàng của mình nên hạ giá xuống. Khi hạ giá, số người mua
hàng đó tăng lên. Do đó, người bán lại tăng giá lên. Như vậy, trong cơ chế thị trường
có một hệ thống tự tạo ra sự cân đối giữa giá cả và sản xuất. “Giá cả là phương tiện
tín hiệu của xã hội”. Nó chỉ cho người sản xuất biết sản xuất cái gì và như thế nào và
cũng thông qua đó thực hiện phân phối cho ai.
Nói đến cơ chế thị trường là ta phải nói đến cung – cầu hàng hoá, đó là sự khái
quát của hai lực lượng người bán và người mua trên thị trường. Sự biến động của giá
cả đã làm cho trạng thái cân bằng cung – cầu thường xuyên biến đổi và đó cũng chính
là nội dung của quy luật cung – cầu hàng hoá.
Nền kinh tế thị trường chịu sự điều khiển của hai ông vua: Người tiêu dùng và
kỹ thuật. Người tiêu dùng thống trị thị trường, vì họ là người bỏ tiền ra để mua hàng
hoá do doanh nghiệp sản xuất. Song, kỹ thuật hạn chế người tiêu dùng vì nền sản xuất
bằng tiền của người mua, không thể quyết định vấn đề phải sản xuất hàng gì. Như
vậy, nhu cầu phải chịu theo cung ứng của người kinh doanh. Vì người sản xuất phải
định giá hàng của mình theo chi phí sản xuất. Nên họ sẵn sàng chuyển sang lĩnh vực
nhiều lợi nhuận hơn. Như vậy thị trường chịu sự chi phối của cả chi phí kinh doanh,
lẫn các quyết định cung-cầu của người tiêu dùng quy định. Ở đây, thị trường đóng vai
trò môi giới trung gian hoà giải sở thích người tiêu dùng và hạn chế kỹ thuật.
Page |
10
Giải pháp khắc phục khó khăn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Cũng trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận là động lực chi phối hoạt động của
người kinh doanh. Lợi nhuận đưa các nhà doanh nghiệp đến các khu vực sản xuất
hàng hoá mà người tiêu dùng cần nhiều hơn, bỏ qua các khu vực ít có người tiêu
dùng. Lợi nhuận đưa các nhà doanh nghiệp đến việc sử dụng kỹ thuật sản xuất hiệu
quả nhất. Như vậy, hệ thống thị trường luôn phải là một hệ thống hỗn hợp để giải
quyết tốt nhất ba vấn đề có bản của nền kinh tế.
IIICơ chế thị trường
1.Hàng hoá.
Hàng hoá là sản phẩm của lao động, một là nó có thể thoả mãn được nhu cầu
nào đó của con người, hai là nó được sản xuất ra không phải để người sản xuất ra nó
tiêu dùng mà là để đem ra trao đổi. Hàng hoá có hai thuộc tính: Bao gồm thuộc tính
giá trị và giá trị sử dụng.
Giá trị là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá.
Sản phẩm nào mà không chứa đựng lao động của con người thì không có giá trị, khi
giá trị thay đổi thì giá trị trao đổi cũng thay đổi. Giá trị trao đổi chính là hình thức
biểu hiện của giá trị. Giá trị là một phạm trù lịch sử nó gắn liền với nền sản xuất hàng
hoá, khi nào còn sản xuất và trao đổi hàng hoá thì còn tồn tại phạm trù giá trị.
Giá trị sử dụng là công dụng của sản phẩm có thể thoả mãn một nhu cầu nào đó
của con người. Công dụng của sản phẩm do thuộc tính tự nhiên của sản phẩm đó qui
định. Giá trị sử dụng thể hiện ở việc sử dụng hay tiêu dùng nó là nội dung của của cải,
không kể hình thức xã hội của cải đó như thế nào. Với ý nghĩa như vậy thì giá trị sử
dụng là một phạm trù vĩnh viễn. Một sản phẩm đã là hàng hoá thì nhất thiết phải có
giá trị sử dụng nhưng không phải bất cứ sản phẩm gì có giá trị sử dụng cũng đều là
hàng hoá. Trong kinh tế hàng hoá, giá trị sử dụng là cái mang giá trị trao đổi.
Page |
11
Giải pháp khắc phục khó khăn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
2.Tiền tệ
Trong giai đoạn đầu của trao đổi hàng hoá, người ta đổi trực tiếp một vật này
lấy một vật khác, với sự phát triển tiếp tục của phân công lao động xã hội và trao đổi
hàng hoá trong thời kì suy tàn của chế độ công xã nguyên thuỷ, những nhược điểm
của hình thái giá trị toàn bộ hay mở rộng càng thể hiện rõ rệt.Trong quá trình troa đổi
hàng hoá xuất hiện một nhu cầu là những người chủ hàng hoá phải tìm được một loại
hàng hoá nào mà được nhiều người ưa thích để đổi hàng hoá của mình lấy hàng hoá
đó. Sau đó dùng hàng hoá ấy đổi lấy thứ hàng hoá mà mình cần. Như vậy việc trao
đổi không còn là trực tiếp mà phải qua một bước trung gian. Lực lượng sản xuất tiếp
tục phát triển cuộc phân công lao động xã hội lớn lần thứ hai thúc đẩy mạnh sự phát
triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá, điều đó đòi hỏi phải có vật ngang giá chung
thống nhất giữa các vùng, như vậy tiền tệ đã xuất hiện. Tiền tệ xuất hiện là kết quả lâu
dài và tất nhiên của trao đổi hàng hoá. Tiền tệ có khả năng trao đổi trực tiếp với mọi
hàng hoá,nó trở thành phương tiện biểu hiện giá trị của các hàng hoá. Tiền tệ là thứ
hàng hoá đặc biệt được tạo ra là vật ngang giá chung cho các hàng hoá khác. Nó thể
hiện giá trị lao động xã hội và biểu hiện quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá.
Từ sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất và trao đổi đã ra đời một loại hàng hoá
đặc biệt đóng vai trò vật ngang giá chung. Đó là tiền tệ. Trong lịch sử tiền tệ, nhiều
loại hàng hoá đã được sử dụng cho vai trò này như vỏ ốc, gia súc, sắt, đồng, bạc,
vàng Bản thân chúng là những yếu tố vật chất và có giá trị. Sự ra đời của tiền giấy
đánh dấu một sự thay đổi to lớn trong quá trình phát triển của chúng tính bằng bạc,
hoặc vàng. Nhưng ngày nay mọi nền kinh tế hiện đại đều không có bất kỳ một sự hứa
hẹn đảm bảo “giá trị thực” của chúng.
Nhu cầu trao đổi đã phát triển đến mức cần có những loại tiền mới không chỉ là
tiền giấy, séc mà còn thẻ tín dụng, tiền điện tử v.v Nó được chuyển nhượng thông
qua các máy tính, đường điện thoại và thậm chí có thể tồn tại trên giấy tờ.
Page |
12
Giải pháp khắc phục khó khăn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Như vậy ngày nay, tiền được coi là mọi thứ được xã hội chấp nhận dùng làm
phương tiện thanh toán và trao đổi. Bản thân chúng có thể có hoặc không có giá trị
riêng.
3. Giá cả.
Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá. Trong nền kinh tế hàng hoá
nói chung cũng như nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trong thời kì quá độ ở
nước ta, giá cả là công cụ vô cùng quan trọng không những đẻ bảo đảm cho lưu thông
hàng hoá cũng tứ là cho sinh hoạt hoạt động thương nghiệp được thuận lợi mà còn để
điều tiết sản xuất và tiêu dùng theo hướng có lợi cho lao động. Giá cả trong thời kì
quá độ thể hiện những lợi ích khác nhau, cho nên phải có chính sách đúng đắn để tạo
ra một sự nhất trí giữa các lợi ích đa dạng đó.
Giá cả phản ánh tình hình cung-cầu, có thể nhận biết sự khan hiếm tương đối
của hàng hoá qua sự biến đổi giá cả. Tin tức về giá cả có thể hướng dẫn đơn vị kinh tế
có liên quan định ra những quyết sách đúng đắn, không có những thông tin về giá cả
quyết sách sẽ không chuẩn xác thậm trí có những quyết sách mù quáng.Trong lĩnh
vực phân phối,lưu thông và tiêu dùng, sự biến đổi giá cả cũng cung cấp những thông
tin cần thiết để chính phủ, xí nghiệp và cá nhân định ra những quyết định.
Sự biến động của giá cả có thể dẫn tới sự biến động của cung cầu, sản xuất và
tiêu dùng, biến động về lưu chuyển tài nguyên. Khi giá cả của một loại hàng hoá nào
đó tăng lên thì người sản xuất nói chung có thể tăng sản xuâts mặt hàng đó và tất
nhiên sẽ thu hút tài nguyên xã hội lưu chuyển vào ngành đó nhưng giá cả tăng có thể
làm cho tiêu dùng giảm nhu cầu về loại hàng hoá đó. Khi giá cả giảm người sản xuất
nói chung có thể giảm sản xuất loại hàng hoá ấy và do đó một phần tài nguyên có thể
không lưu chuyển vào ngành ấy, tiêu dùng lại có thể tăng lên. Chính trong quá trình
Page |
13
Giải pháp khắc phục khó khăn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
này mà giá cả điều tiết qui mô sản xuất của xí nghiệp sự bố trí tài nguyên giữa các
ngành và cân đối giữa tổng cầu và tổng cung của xã hội.
Giá cả lên xuống như một bàn tay vô hình điều tiết lợi ích của mọi người, chỉ
huy hành động của người sản xuất, điều tiết hành vi của người tiêu dùng.Giá cả còn
có chức năng thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, giảm lượng lao động xã hội trung bình cần
thiết và chức năng phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân, thu nhập cá nhân.
Giá cả chỉ có thể phát huy các chức năng trên dựa vào tiền tệ. Giá cả có đầy đủ tính
đàn hồi, thị trường phải có tính cạnh tranh đầy đủ nếu không sẽ làm thiệt hại chức
năng của giá cả.
Trước đây do cơ chế kinh tế kế hoạch tập trung quan liêu nên tác dụng của qui
luật giá trị bị xem nhẹ, vì thế hệ thống giá cả của nước ta rất bất hợp lí. Giá cả không
phản ánh được giá trị cũng không phản ánh được cung- cầu, tỷ giá giữa các hàng hoá
khác nhau cũng như giữa các hàng hoá cùng loại cũng bất hợp lí. Sự bất hợp lí trên
làm cho giá cả không phát huy được vai trò là đòn bẩy kinh tế mạnh mẽ đối với sự
phát triển của sản xuất và phát huy tính tích cực của người lao động.
Để chuyển sang cơ chế thị trường, điều đầu tiên đặt ra đối với sự hình thành giá
cả là phải lấy giá trị làm cơ sở và dựa vào yêu cầu của qui luật giá trị Đồng thời sự
hình thành giá cả hàng hoá còn phải chịu quan hệ của qui luật cung – cầu hàng hoá, số
lượng phát hành tiền giấy với chính sách kinh tế của nhà nước ở mỗi thời kì nhất
định Qui luật giá trị quyết định giá cả thông qua cung cầu có ý nghĩa quan trọng
trong nền kinh tế thị trường. Cho nên vận dụng qui luật giá trị, tình hình cung cầu trên
thị trường để hình thành giá cả là phương tiện và là con đường quan trọng thúc đẩy
tiến bộ xã hội.
Page |
14
Giải pháp khắc phục khó khăn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Mặc dù cơ chế thị trường ở nước ta trong thời kì quá độ lên CNXH là cơ chế có
sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, song cơ chế hình thành
giá cả phải từ thị trường là chủ yếu, người sản xuất kinh doanh có quyền định giá.Cơ
chế hình thành giá này đòi hỏi nhà nước trong khi chỉ đạo và quản lý giá cả phải làm
cho tuyệt đại đa số hàng hoá phù hợp với giá thị truờng do các tổ chức kinh tế căn cứ
vào quan hệ cung cầu của thị trường qui định, thông qua giá cả nhà nước điều tiết,
hướng dẫn việc đầu tư một cách hợp lý.
4. Lợi nhuận.
Do có sự chênh lệch giữa giá trị hàng hoá và chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa,
nên khi bán hàng hoá theo giá cả thị thường (bằng giá trị hàng hoá) nhà tư bản thu
được một khoản tiền lời gọi là lợi nhuận. So sánh lợi nhuận với giá trị thặng dư cho
thấy:
Về lượng, nếu cung bằng cầu và do đó giá hàng hoá bán ra theo đúng giá trị của
nó thì số lượng lợi nhuận thu được bằng giá trị thặng dư. Nếu cung nhỏ hoặc lớn hơn
cầu giá cả hàng hoá có thể sẽ cao hơn lượng hay thấp hơn giá trị của nó thì từng tư
bản cá biệt có thể thu được một lượng lợi nhuận lớn hơn hoặc nhỏ hơn lượng giá trị
thặng dư. Nhưng trong toàn xã hội, tổng số giá cả ngang bằng với tổng số giá trị của
hàng hoá, tổng số lợi nhuận ngang bằng với tổng số giá trị thặng dư.
Về chất, giá trị thặng dư là bộ phận giá trị mới do lao động mà công nhân tạo ra
trong lĩnh vực sản xuất dôi ra ngoài phânf bù lại giá trị trung bình khả biến mà nhà tư
bản đã trả cho công nhân, còn lợi nhuận là hình thức biểu hiện bên ngoài của giá trị
thặng dư, là giá trị thặng dự khi nó đưịc quan niệm là con đẻ của toàn bộ tư bản ứng
ra, là kết quả hoạt động của toàn tue bản đầu tư vào sản xuất và kinh doanh.
Page |
15
Giải pháp khắc phục khó khăn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
C.Mác viết: “giá trị thặng dư hay là lợi nhuận, chính là phần giá trị dôi ra ấy
của giá trị hàng hoá so với chi phí sản xuất của nó, nghĩa là phần dôi ra của tổng
số lượng lao động chứa đựng trong hàng hoá so với số lượng lao động được trả
công chứa đựng trong hàng hoá”.
Phạm trù lợi nhuận phản ánh sai lệch bản chất quan hệ sản xuất giữa tư bản và
lao động, vì nó làm cho người ta tưởng rằng giá trị thặng dư không phải chỉ do lao
động làm thuê tạo ra. Thực chất lợi nhuận và giá trị thặng dư cũng là một, lợi nhuận
chẳng qua chỉ là một hình thái thần bí của giá trị thặng dư ‘
5.Quy luật giá trị.
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và trao đổi hàng hoá.
Chừng nào còn trao đổi hàng hoá thì chừng đó còn quy luật giá trị.
Theo quy luật này, sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở lượng giá
trị hàng hoá hay thời gian lao động cần thiết. Trong nền kinh tế hàng hoá, vấn đề quan
trọng là hàng hoá sản xuất ra có bán được hay không? Để hàng hoá có thể bán được
thì hao phí lao động cá biệt để sản xuất ra hàng hoá phải phù hợp với mức hao phí lao
động xã hội cần thiết, tức là phải phù hợp với mức hao phí mà xã hội có thể chấp nhận
được. Trong trao đổi hàng hoá cũng phải dựa vào hao phí lao động xã hội cần thiết.
Hai hàng hoá có giá trị sử dụng khác nhau có thể trao đổi với nhau được khi lượng giá
trị của chúng ngang nhau. Theo nghĩa đó thì trao đổi phản ánh theo nguyên tắc ngang
giá. Quy luật giá trị là trừu tượng. Nó thể hiện sự vận động thông qua sự biến động
của giá cả hàng hoá.
Trong sản xuất, quy luật giá trị điều tiết việc phân phối tư liệu sản xuất vá sức
lao động giữa các ngành sản xuất thông qua sự bién động của giá cả hàng hoá. Như dã
nói trên, do ảnh hưởng của quan hệ cung – cầu, giá cả hàng hoá trên thị trường lên
Page |
16
Giải pháp khắc phục khó khăn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
xuống xoay quanh giá trị của nó. Nếu có ngành nào đó cung không đáp ứng cầu, giá
cả hàng hoá lên cao thì sản xuất đổ xô vào ngành đó. Ngược lại, khi ngành đó thu hút
quá nhiều lao động xã hội, cung vượt quá cầu, giá cả hàng hoá hạ xuống thì người sản
xuất sẽ phải chuyển bớt tư liệu sản xuất và sức lao động ra khỏi ngành này để đầu tư
vào nơi có giá cả hàng hoá cao. Nhờ vậy, tư liệu sản xuất và sức lao động được phân
phối qua lại một cách tự phát vào các ngành sản xuất khác nhau. Sự biến động xung
quanh giá trị không những chỉ rõ sự biến động về kinh tế mà còn có tác dụng điều tiết
nguồn hàng từ nơi giá thấp đến nơi giá cao.
Trong nền sản xuất hàng hoá, ngưòi nào có hao phí lao động cá biệt ít hơn hoặc
bằng hao phí lao động xã hội cần thiết để sản xuất hàng hoá thì người đó có lợi, còn
người nào có hao phí cá biệt lớn hơn hao phí lao động xã hội cần thiết thì sẽ bị thiệt,
vì không thu được toàn được lao động đã hao phí. Muốn đứng vững và thắng trong
cạnh tranh mỗi người sản xuất đều luôn luôn tìm cách cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất
lao động. Vì thế, trong nền kinh tế hàng hoá, lực lượng sản xuất được kích thích và
phát triển nhanh hơn nhiều so với trong nền kinh tế tự cấp, tự túc.
Trong cuộc cạnh tranh chạy theo giá trị, lao động cá biệt của mỗi người sản
xuất không nhất trí với lao động xã hội cần thiết. Như vậy, quy luật giá trị có ý nghĩa
bình tuyển, đánh giá người sản xuất. Về phương diện này quy luật giá trị bảo đảm sự
bình đẳng đối với người sản xuất.
6.Quy luật cung-cầu
Cầu là khối lượng hàng hoá và dịch vụ mà người tiêu dùng mua trong một thời
kỳ tương ứng với giá cả, thu nhập và các biến số kinh tế xác định. Người tiêu dùng ở
đây bao gồm dân cư, các doanh nghiệp nhà nước và cả nước ngoài. Tiêu dùng bao
gồm cả tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng cá nhân.
Page |
17
Giải pháp khắc phục khó khăn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Lượng cầu phụ thuộc vào các yếu tố chủ yếu như: thu nhập, sức mua của tiền
tệ, giá cả hàng hoá, lãi suất, thị hiếu của người tiêu dùng. Trong đó, giá cả hàng hoá là
nhân tố tác động trực tiếp và tỷ lệ nghịch với lượng cầu, giá cả càng cao thì cầu về
hàng hoá đó thấp, ngược lại giá cả hàng hoá thấp, lượngcầu sẽ cao.
Cung là khối lượng hàng hoá và dịch vụ mà chủ thể kinh tế đem bán ra thị
trường trong một thời kỳ nhất định, tương ứng với mức giá cả, khả năng sản xuất, chi
phí sản xuất xác định.
Lượng cung phụ thuộc vào khả năng sản xuất, vào số lượng và chất lượng các
nguồn lực, các yếu tố sản xuất được sử dụng, năng suất lao động và chi phí sản xuất.
Giá cả của hàng hoá và dịch vụ trên thị trường là yếu tố trực tiếp ảnh hưởng tới lượng
cung về hàng hoá, dịch vụ đó. Cung tỷ lệ thuận với giá. Giá cả cao thì cung lớn và
ngược lại, giá cả thấp thì cung giảm.
Quan hệ cung cầu là quan hệ giữa những người bán và những người mua, giữa
những người sản xuất và người tiêu dùng; là những quan hệ có vai trò quan trọng
trong nền kinh tế hàng hoá. Không phải chỉ có giá cả ảnh hưởng tới cung cầu mà quan
hệ cung cầu ảnh hưởng tới việc xác định giá cả trên thị trường.
Khi cung lớn hơn cầu, người bán phải giảm gía, giá cả có thể thấp hơn giá trị
hàng hoá. Khi cung nhỏ hơn cầu, người bán có thể tăng giá, giá cả có thể cao hơn giá
trị. Khi cung bằng cầu, người bán sẽ bán hàng hoá theo đúng giá trị giá cả bằng giá
trị. Khi đó cân bằng thị trường xuất hiện tại mức giá mà tại đó lượng cung và cầu
bằng nhau. Mức giá đó gọi là giá cân bằng, sản lượng đó gọi là sản lượng cân bằng.
Page |
18
Giải pháp khắc phục khó khăn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Page |
19
Giải pháp khắc phục khó khăn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
PHẦN 2
SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG THEO ĐỊNH
HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM.
I.Sự cần thiết khách quan hình thành và phát triển kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở Việt Nam
1.Cơ chế cũ và hạn chế của nó.
Cơ chế cũ là cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Đó là cơ chế mà ở đó Nhà
nước quản lý nền kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính là chủ yếu, thể hiện ở sự chi tiết
hoá các nhiệm vụ do Trung ương giao bằng một hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh từ một
Page |
20
Giải pháp khắc phục khó khăn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
trung tâm. Các doanh nghiệp căn cứ vào chỉ tiêu kế hoạch của nhà nước từ đó lập kế
hoạch sản xuất kinh doanh cho mình.
Trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, các cơ quan nhà nước can thiệp qúa
sâu vào các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhưng lại không
chịu trách nhiệm gì đối với các quyết định của mình, từ đó làm cho các doanh nghiệp
thụ động không phát huy được tính sáng tạo, các quan hệ kinh tế bị hiện vật hoá.
Quan hệ hàng hoá tiền tệ chỉ mang tính hình thức, bỏ qua hiệu quả kinh tế, quản lý
kinh tế và kế hoạch hoá bằng chế độ cấp phát, giao nộp. Bộ máy quản lý cồng kềnh,
nhiều khâu trung gian nhưng kém năng lực.
Cơ chế tập trung bao cấp đã góp phần cho thắng lợi giải phóng đất nước, nhưng
sau khi điều kiện kinh tế xã hội đã thay đổi. Đặc biệt khi trình độ phát triển kinh tế đã
nâng cao lên rất nhiều, cơ cấu càng phức tạp thì những khuyết điểm bên trong nền
kinh tế kế hoạch ngày càng bộc lộ. Cuộc chạy đua theo mục tiêu chế độ quốc hữu hoá
làm loại bỏ hoặc hạn chế chế độ kinh tế phi quốc hữu, kiềm chế cạnh tranh nên khó
làm sống động nền kinh tế.
Trên thực tế kinh tế kế hoạch lấy chủ nghĩa bình quân làm phương châm phân
phối cho nên đã kìm hãm tích cực và sáng tạo của người sản xuất kinh doanh. Chúng
ta thực hiện phân phối theo lao động trong điều kiện chưa cho phép. Trong hoạt động
kinh tế việc nhà nước quản lý hành chính bằng mệnh lệnh trực tiếp, chính quyền và xí
nghiệp không tách riêng, đầu vào cao đầu ra thấp đã trở thành những căn bệnh cũ của
nền kinh tế kế hoạch.Những điều trên đã gây trở ngại cho sự phát triển sản xuất xã
hội. Trước tình hình đó việc chuyển đổi nền kinh té nước ta sang nền kinh tế thị
trường là đúng đắn phù hợp với thực tế, qui luật kinh tế và xu thế của thời đại
Page |
21
Giải pháp khắc phục khó khăn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
2.chủ trương phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội
chủ nghĩa.
Trong khi các nước trong khu vực đã đạt được những bước phát triển nhảy vọt
dựa vào cơ chế kinh tế thị trường, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, xây dựng cơ
cấu kinh tế hướng bên ngoài, thì Việt Nam trong nhiều năm qua vẫn theo đổi cơ chế
kế hoạch hoá tập trung bằng mệnh lệnh hành chính, quan liêu từ trung ương và cơ cấu
kinh tế hướng nội là chủ yếu, đã kìm hãm khả năng hoà nhập vào trào lưu phát triển
của khu vực.
Sau đại hội 6(1986), do đổi mới nói chung và sự đổi mới trong nhận thức xã
hội, Đảng ta nhận định rằng để phát triển theo kịp các nước trong khu vực và thế giới
thì phải phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ
nghĩa có sụ quản lý của nhà nước.
Bởi vì hiện nay ở nước ta, các điều kiện của sản xuất hàng hoá vẫn còn đang
tồn tại. Phân công lao động: ở nước ta đang tồn tại hệ thống phân công lao động do
lịch sử để lại với nhiều ngành nghề. Với sự phát triển khoa học kỹ thuật hiện đại,
nhiều ngành nghề mới xuất hiện làm cho sự phân công lao động ở nước ta trở nên
phong phú hơn, nó tạo điều kiện cho hàng hoá phát triển. Ở nước ta cũng đang tồn tại
quan hệ sở hữu đa dạng về tư liệu sản xuất và ứng với nó là nền kinh tế nhièu thành
phần. Điều đó tạo nên sự độc lập về mặt kinh tế giữa các thành viên, doanh nghiệp.
Nó cũng có tác dụng làm cho hàng hoá phát triển.
Mặt khác, kinh tế hàng hoá phát triển, nó thúc đẩy quá trình phân công lao
động, quá trình chuyên môn hoá và hiện đại hoá. Qua đó thiết lập được mối quan hệ
kinh tế giữa các vùng xoá bỏ tình trạng tự cung, tự cấp. Đẩy mạnh quá trình xã hội
hoá sản xuất. Nó thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn và lao động thể hiện ở
quy mô của các doanh nghiệp, quy mô về kinh tế ngày càng tăng.
Page |
22
Giải pháp khắc phục khó khăn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Kinh tế hàng hoá góp phần tăng năng suất lao động thực hiện dân chủ hoá đời
sống kinh tế. Nó khai thác được thế mạnh từng ngành, từng địa phương để làm ra
nhiều sản phẩm cho xã hội, tạo tiền đề cho việc mở rộng liên kết, liên doanh cả trong
nước và nước ngoài. Mở rộng phạm vi giao lưu hàng hoá giữa nước ta và các nứơc
khác. Là điều kiện thúc đẩy sự phát triển của một số ngành, lĩnh vực khác.
Trong bất cứ hình thái kinh tế – xã hội nào cũng có phương thức sản xuất giữ vị
trí chi phối. Ngoài ra, còn có phương thức sản xuất tàn dư của xã hội trước và phương
thức sản xuất mầm mống của xã hội tương lai. Các phương thức sản xuất này ở vào
địa vị lệ thuộc, bị chi phối bởi phương thức sản xuất thống trị.
Tronh một hình thái kinh tế xã hội có nhiều phương thức sản xuất biểu hiện
thành phần kinh tế. Trong thời kỳ quá độ, chưa có thành phần kinh tế nào giữ vai trò
thống trị, chi phối các thành phần kinh tế khác, mà chúng chỉ là những mảnh, những
bộ phận hợp thành kết cấu kinh tế xã hội trong một hệ thống thống nhất biện chứng.
Mỗi thành phần kinh tế có kiểu tổ chức sản xuất kinh doanh của nó hợp thành nền
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần.
Nền kinh tế thời kỳ quá độ tồn tại nhiều thành phần kinh tế là vì:
Thứ nhất, khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động dành chính quyền, tiếp
quản nền kinh tế chủ yếu dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất. Thực tế có hai
loại tư hữu: tư hữu lớn:nhà máy, hầm mỏ, doanh nghiệp, đồn điền của các chủ tư bản
trong và ngoài nước-đó là kinh tế tư bản chủ nghĩa, và tư hữu nhỏ: gồm những người
nông dân cá thể, những người buôn bán nhỏ, đó là sản xuất nhỏ cá thể.
Thái độ của chính quyền mới đối với hai loại tư hữu trên là khác nhau. Đối với
tư hữu lớn kinh tế tư bản tư nhân, chỉ có phương pháp duy nhất là quốc hữu hoá. Lý
Page |
23
Giải pháp khắc phục khó khăn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
luận về quốc hữu hoá của chủ nghĩa Mac-Lênin khẳng định không nên quốc hữu hoá
ngay một lúc mà phải được tiến hành từ từ theo từng giai đoạn và và bằng hình thức,
bằng phương pháp nào là từy điều kiện cụ thể, cho nên những doanh nghiệp thuộc
thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa còn tồn tại như một tất yếu. Đồng thời hướng chủ
nghĩa tư bản vào con đường tư bản Nhà nước, hình thành thành phần kinh tế tư bản
nhà nước.
Đối với tư hữu nhỏ thì chỉ có thông qua con đường hợp tác hoá, theo các
nguyên tắc mà Lênin vạch ra là tự nguyện, quản lý dân chủ, cùng có lợi tuân theo
các quy luật khách quan. Do đó trong thời kỳ quá độ còn tồn tại thành phần kinh tế cá
thể. Hơn nữa các thành phần kinh tế cũ do lịch sử để lại, chúng còn có vai trò, chức
năng, nhiệm vụ, còn có khả năng phát triển Vì thế nhà nước bằng các chính sách
biện pháp sử sụng các thành phần kinh tế tư nhân phục vụ cho sự nghiệp xây dựng xã
hội mới.
Thứ hai, sự phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia, do đặc điểm lịch sử, điều kiện
chủ quan, khách quan nên tất yếu có sự phát triển không đều về lực lượng sản xuất
giữa các ngành, các vùng, các doanh nghiệp. Chính sự phát triển không đều đó quyết
định quan hệ sản xuất, trước hết là hình thức, quy mô và quan hệ sở hữu phải phù hợp
với nó nghĩa là tồn tại những quan hệ sản xuất không giống nhau. Đó là cơ sở hình
thành các thành phần kinh tế khác nhau.
Thứ ba, để phát triển kinh tế, củng cố và phát triển hệ thống chính trị, xã hội,
nhà nước xây dựng hệ thống những có sở kinh tế mới, hình thành thành phần kinh tế
nhà nước. Mặt khác, trong điều kiện quốc tế hoá đời sống kinh tế, quốc hữu hoá hợp
tác và đầu tư nước ngoài, nhà nước cùng các nhà nước cùng các nhà tư bản, các công
ty trong và ngoài nước, hình thành kinh tế tư bản nhà nước.
Page |
24
Giải pháp khắc phục khó khăn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Việc nhận thức và tổ chức thực hiện trên thực tế các thành phần kinh tế trong
thời kỳ quá độ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn.
Hiện nay, ở nước ta đang tồn tại nhiều trình độ khác nhau của lực lượng sản
xuất (thủ công, trình độ cơ khí, tự động hoá, tin học hoá ). Vì vậy khi thiết lập quan
hệ sở hữu thì cũng phải đa dạng phù hợp ở nước ta hiện nay có thể làm xuất hiện thêm
một số thành phần kinh tế khác.
Ở nước ta tồn tại một nền kinh tế nhiều thành phần là một tất yếu khách quan.
Vì kinh tế nhiều thành phần, đây là tồn tại khách quan do lịch sử để lại trong thời kỳ
quá độ và có nhiều thành phần kinh tế mà sụ tồn tại của nó vẫn có lợi cho sự phát
triển đất nước. Phát triển kinh tế nhiều thành phần nhằm thực hiện cái quy luật: Quan
hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Phát
triển kinh tế nhiều thành phần nhằm để cho sản xuất nước ta phát triển liên tục không
bị gián đoạn. Phát triển kinh tế nhiều thành phần nhằm tạo ra sự cạnh tranh giữa các
thành phần kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta.
Tóm lại: Trong thời kỳ quá độ tồn tại một nền kinh tế nhiều thành phần không
chỉ là một tất yếu khách quan mà còn có một tác dụng tích cực tolớn đối với sự phát
triển của nền kinh tế.Cụ thể là:
Sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần cũng có ý nghĩa là tồn tại nhiều hình
thức quan hệ sản xuất, do đó nó sẽ phù hợp với các trình độ phát triển khác nhau về
lực lượng sản xuất từ đó mà có thể tăng năng suất lao động, tăng tốc độ phát triển
kinh tế, tăng hiệu quả kinh tế trong mỗi thành phần cũng như trong toàn bộ nền kinh
tế .
Page |
25
Giải pháp khắc phục khó khăn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Góp phần khôi phục kinh tế cho sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá. Phát
triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần chính là đảm bảo quyền tự do kinh
doanh, quyền dân chủ về kinh tế cho mọi công dân. Một công dân đều có quyền hoạt
độngtrong nền kinh tế thị trường (theo đúng pháp luật) để làm giài cho mình và cho
xã hội.
Nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần không những tạo điều kiện sử dụng sức
mạnh tổng hợp của mọi thành phần kinh tế trong nước mà còn tạo ra môi trường
thông thoáng ,thích hợp cho sự thu hút vốn, khoa học kĩ thuật tiên tiến của thế giới .
Nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần không những tạo điều kiện thực hiện và
mở rộng các hình thức kinh tế quá độ, đặc biệt là hình thức kinh tế tư bản nhà nước, là
“cầu nối” là trung gian cần thiết để chuyển nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ nên
sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa
Từ những tác động tích cực mà hội nghị trung ương lần thứ VI khoá VI đã chỉ
rõ: “chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính
quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội và thể hiện tinh thần dân chủ về
kinh tế, đảm bảo cho mọi người làm ăn theo pháp luật”.
Khi cơ chế cũ kìm hãm sự phát triển kinh tế Việt Nam trong nhiều năm. Điều
đó đặt ra một yêu cầu khách quan là phải đổi mới cơ chế kinh tế, thay thế cơ chế mới
vào cơ chế cũ. Trong khi đó, cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước đang được
áp dụng rộng rãi, phổ biến ở nhiều nước trên thế giới và đã đạt được những thành tựu
rất đáng quan tâm. Vì vậy, chuyển đổi từ cơ chế cũ sang cơ chế thị trường có sự quản
lý nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa là cần thiết, khách quan.
định chọn đề tài nghiên cứu và điều tra : “ Giải pháp khắc phục khó khăn vất vả tăng trưởng nền kinh tếthị trường khuynh hướng xã hội chủ nghĩa ” Đây là một đề tài rất rộng mang tính khái quát cao, mặc dầu rất nỗ lực, songbài viết của tôi sẽ không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót về nội dung cũng nhưhình thức. Kính mong những thầy cô xem xét và góp ý để bài viết của tôi được hoànthiện hơn. Page | 3G iải pháp khắc phục khó khăn vất vả tăng trưởng nền kinh tế thị trường khuynh hướng xã hội chủ nghĩaPHẦN 1NH ỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNGI. Quá trình hình thành nền kinh tế thị trường. 1. Kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường không phải là một chế độ kinh tế – xã hội. Kinh tế thị trườnglà hình thức và giải pháp vận hành kinh tế. Các qui luật của thị trường chi phốiviệc phân chia những tài nguyên, qui định sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, và sảnxuất cho ai. Đây là một kiểi tổ chức triển khai kinh tế hình thành và tăng trưởng do những đòi hỏikhách quan của sự tăng trưởng lực lượng sản xuất. Nó là phương pháp hoạt động và sinh hoạt kinh tếcủa sự tăng trưởng. Kinh tế thị trường là hình thức tăng trưởng cao nhất của kinh tế hàng hoá. Kháiniệm kinh tế thị trường phản ánh trạng thái sống sót hoạt động của nền kinh tế theo cơchế thị trường, thật ra kinh tế thị trường là mẫu sản phẩm của sự tăng trưởng khách quan củaxã hội loài người. Nền kinh tế thị trường có năng lực “ tự động hóa ” tập hợp trí tuệ vàtiềm lực của hàng triệu con người hướng tới quyền lợi chung của xã hội, do đó nó thúcđẩy tăng trưởng kinh tế, tăng hiệu suất lao động, hiệu suất cao sản xuất, góp thêm phần thúcđẩy sự tăng trưởng của một xã hội. Quá trình hình thành và tăng trưởng kinh tế thị trường là quy trình lan rộng ra phâncông lao động xã hội, tăng trưởng khoa học – công nghệ tiên tiến mới và ứng dụng chúng vàothực tiễn sản xuất – kinh doanh thương mại. Sự tăng trưởng của kinh tế thị trường gắn liền với quátrình tăng trưởng của nền văn minh trái đất, của khoa học – kĩ thuật, của lực lượng sảnxuất. Page | 4G iải pháp khắc phục khó khăn vất vả tăng trưởng nền kinh tế thị trường xu thế xã hội chủ nghĩa2. Quá trình hình thành kinh tế thị trường gắn với quy trình xã hội hoá sản xuấtthông qua những quy trình : 2.1. Quá trình tổ chức triển khai phân công và phân công lại so với lao động xã hội. Sản xuất khi nào cũng mang đặc thù xã hội. Tính xã hội của sản xuất khôngchỉ sống sót trong buổi đầu hình thành xã hội con người, mà còn tăng trưởng cao hơntrong điều kiện kèm theo của xã hội tân tiến. Xã hội hoá sản xuất là sự link nhiều quy trình kinh tế riêng không liên quan gì đến nhau thành quátrình kinh tế – xã hội, sống sót, hoạt động giải trí và tăng trưởng liên tục như một quá hệ thốnghữu cơ, đó là quy trình kinh tế khách quan tương thích với trình độ tăng trưởng cao của lựclượng sản xuất, phản ánh xu thế tăng trưởng tất yếu mang đặc thù xã hội của sản xuất. Xã hội hoá được bộc lộ ở trình độ tăng trưởng của sự phân công và phân cônglại lao động xã hội. Phân công lao động xã hội là việc phân loại người sản xuất vàonhững nghành nghề khác nhau của xã hội, là cơ sở của sản xuất và lưu thông hànghoá. Theo dòng lịch sử vẻ vang, phân công lao động tăng trưởng cùng với sự tăng trưởng của lựclượng sản xuất xã hội, phân công lao động tạo ra sự hợp tác và trao đổi lao động, hìnhthức tiên phong là hiệp tác giản đơn. Với hình thức này, lần tiên phong lao động được xãhội hoá, “ người lao động tổng hợp ” Open, tiếp đến là sự phân công trong côngtrường thủ công bằng tay gắn liền với sự chuyên môn hoá công cụ thủ công bằng tay dựa trên tay nghềcủa người lao động. Máy móc sinh ra là một nấc thang mới của sự tăng trưởng lực lượngsản xuất là nền sản xuất dựa trên cơ khí, khi mà hiệp tác lao động thực sự trở thành ” tất yếu kỹ thuật ” lấy máy móc làm chủ thể. Đến lượt mình, đại công nghiệp cơ khíthúc đẩy sự phân công lao động và hiệp tác lao động trên độ mới cao hơn. 2.2. Quá trình đa dạng hoá những hình thức chiếm hữu so với tư liệu sản xuất. Quá trình này gắn liền với điều kiện kèm theo sản xuất hàng hoá. Các hình thức từ sở hữuphát triển từ thấp đến cao, từ sở hữu riêng độc lập tới chiếm hữu chung, chiếm hữu tập thể, sởPage | 5G iải pháp khắc phục khó khăn vất vả tăng trưởng nền kinh tế thị trường khuynh hướng xã hội chủ nghĩahữu nhà nước, của những hình thức tổ chức triển khai sản xuất từ công ty tư nhân tới công ty liêndoanh đến công ty nghĩa vụ và trách nhiệm hữu hạn từ hình thức cac-ten tới xanh-đi-ca, tơrớt, công-xac-xi-on, từ những công ty vương quốc đến công ty đa vương quốc, xuyên quốc giacó những Trụ sở ở nhiều nước. Sở hữu về tư liệu sản xuất là hình thái xã hội của sự chiếm hữu về tư liệu sảnxuất, một nội dung đa phần trong mạng lưới hệ thống những quan hệ sản xuất. Vì vậy hình thức, quy mô, khoanh vùng phạm vi cũng như tính phong phú của chiếm hữu không phải do ý muốn chủ quancủa con người quyết định hành động mà là một quy trình tăng trưởng lịch sử vẻ vang tự nhiên. 2.3. Quá trình thực thi cách mạng công nghệ tiên tiến làm Open thị trườngmớiXã hội hoá sản xuất bộc lộ ở mối liên hệ giữa những ngành, những nghề, những vùngngày càng cao và ngặt nghèo. Mối liên hệ này không riêng gì diễn ra trên nghành nghề dịch vụ lưu thôngmà còn diễn ra trong nghành nghề dịch vụ góp vốn đầu tư, hợp tác khoa học – công nghệ và dưới những hìnhthức liên kết kinh doanh link phong phú, phong phú và đa dạng. Quá trình hình thành kinh tế thị trườnggắn liền với quy trình cách mạng khoa học-công nghệ làm Open thị trường đầuvào sản xuất. Công nghệ là tinh hoa trí tuệ, là lao động phát minh sáng tạo của con người đểphục vụ con người. Chính công nghệ là chìa khoá cho sự tăng trưởng, là cơ sở và làđộng lực thôi thúc tăng trưởng kinh tế-xã hội dựa trên nèn tảng tăng trưởng công nghệ tiên tiến bềnvững và tăng trưởng cao. Công nghệ làm đổi khác cơ cấu tổ chức xã hội đồng thời nó cũng làkết quả của sự biến hóa xã hội, sự tăng trưởng khoa học – công nghệ làm Open thịtrường vốn, thị trường lao động kỹ thuật. Ngoài ra, xã hội hoá sản xuất còn bộc lộ ở đặc thù xã hội hoá của sảnphẩm. Trong nền sản xuất xã hội hoá, loại sản phẩm làm ra phải qua tay nhiều người, nhiều quy trình. Tính phong phú của nhu yếu thông dụng và sự khác nhau trong điều kiệnthuận lợi cho sản xuất ở những nuức yên cầu bất kể nền kinh tế nào cũng phải có sự traoPage | 6G iải pháp khắc phục khó khăn vất vả tăng trưởng nền kinh tế thị trường khuynh hướng xã hội chủ nghĩađổi tác dụng hoạt động giải trí lao động với bên ngoài với mức độ và khoanh vùng phạm vi khác nhau. Sựtham gia vào phân công lao động quốc tế dưới nhiều hình thức sẽ ra tăng sự thích ứngvà tương thích về cơ cấu tổ chức của nền kinh tế với bên ngoài. Ngày nay trong điều kiện kèm theo phâncông chuyên môn hoá và hợp tác quốc tế thì một loại sản phẩm không chỉ một công ty haymột quốc gia sản xuất ra mà hoàn toàn có thể do nhiều công ty thuộc nhiều quốc gia sản xuất ra. II. Các bước tăng trưởng kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường tăng trưởng qua 3 bước : Từ kinh tế tự nhiên sang nền kinh tếhàng hoá giản đơn ; từ kinh tế hàng hoá giản đơn sang kinh tế thị trường tự do ; từ kinhtế thị trường tự do sang kinh tế hỗn hợp. 1. Từ kinh tế tự nhiên tăng trưởng sang kinh tế hàng hoá giản đơn. Trong nền kinh tế tự nhiên, sản xuất nhỏ chiếm lợi thế. Nền kinh tế tựnhiên do nhiều đơn vị chức năng kinh tế thuần nhất hợp thành ( những mái ấm gia đình nông dân gia trưởng, những công xã nông nông thôn, những lãnh địa phong kiến ) và mỗi đơn vị chức năng kinh tế ấy làm đủmọi việc làm đẻ tạo ra loại sản phẩm sau cuối. Trong những nền kinh tế tự nhiên, ruộng đất là tư liệu sản xuất đa phần ; nôngnghiệp là ngành sản xuất cơ bản, công cụ kỹ thuật canh tác lỗi thời dựa vào chân taylà hầu hết chỉ có một số ít trang trại của địa chủ hoặc phường hội mới có hiệp tác laođộng giản đơn. Đây chính là quy mô kinh tế đóng kín, không có sự giao lưu sảnphẩm với bên ngoài, nó sống sót suốt một thời kỳ dài cho đến chính sách phong kiến. Bước đi hầu hết của sản xuất tự cung tự túc, tự cấp là tiến lên sản xuất hàng hoá giảnđơn. Điều kiện cho quy trình chuyển hoá này là sự tăng trưởng của kinh tế hàng hoá. Phân công xã hội là cơ sở của kinh tế hàng hoá. Page | 7G iải pháp khắc phục khó khăn vất vả tăng trưởng nền kinh tế thị trường xu thế xã hội chủ nghĩaNhững người sản xuất ở những vùng khác nhau có những điều kiện kèm theo tự nhiênkhác nhau, có năng lực và lợi thế trong sản xuất ra những loại sản phẩm khác nhau đạthiệu quả cao hơn. Ngay trong một vùng, một địa phương những người sản xuất cũngcó những năng lực, điều kiện kèm theo và kinh nghiệm tay nghề sản xuất khác nhau. Mỗi người chỉ tậptrung sản xuất những loại sản phẩm nào mà mình có lợi thế, đem mẫu sản phẩm của mình traođổi lấy những mẫu sản phẩm thiết yếu cho sản xuất và đời sống của mình, họ trở thànhnhững người sản xuất hàng hoá cùng trao đổi mua và bán hàng hoá với nhau, trên cơ sởđó thị trường, tiền tệ cũng sinh ra và tăng trưởng. Sản xuất hàng hoá sinh ra lúc đầu dưới hình thức sản xuất nhỏ, giản đơn nhưnglà một bước tiến trong lịch sử dân tộc tăng trưởng xã hội. Sản xuất hàng hoá giản đơn là sảnxuất dựa trên chính sách tư hữu về tư liệu sản xuất trong điều kiện kèm theo kỹ thuật thủ công bằng tay lạchậu. Khi trình độ lực lượng sản xuất tăng trưởng cao hơn, sản xuất hàng hoá giản đơnchuyển sang sản xuất hàng hoá quy mô lớn hơn. Quá trình đó diễn ra trong thời kỳquá độ từ xã hội phong kiến lên xã hội tư bản. 2. Từ kinh tế hàng hoá giản đơn lên kinh tế thị trường tự do. Nền kinh tế thị trường tự do sinh ra từ từ nền kinh tế hàng hoá giản đơn nhưngcó những đặc thù cơ bản khác với nền kinh tế hàng hoá giản đơn. Ở đây người sảnxuất trực tiếp là công nhân làm thuê, không phải là người chiếm hữu tư liệu sản xuất màtư liệu sản xuất là của nhà tư bản. Sản phẩm lao động do những công nhân làm rathuộc về nhà tư bản. Trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn, ảnh hưởng tác động của qui luật giá trị dẫn tới sựphát triển tự phát của lực lượng sản xuất. Do ảnh hưởng tác động tự phát đó, do sự dịch chuyển củagiá cả, cạnh tranh đối đầu đã làm phân hoá những người sản xuất hàng hoá và trong giai đoạnphát triển lịch sử dân tộc nhất định làm phát sinh chủ nghĩa tư bản. Kinh tế hàng hoá giản đơnđẻ ra chủ nghĩa tư bản, sản xuất hàng hoá trong thời kỳ này cạnh tranh đối đầu nóng bức. TrongPage | 8G iải pháp khắc phục khó khăn vất vả tăng trưởng nền kinh tế thị trường khuynh hướng xã hội chủ nghĩađiều kiện sản xuất qui mô lớn, những nguồn lực tự nhiên ngày càng khan khiếm buộcngười sản xuất phải không ngừng nâng cấp cải tiến đổi mơí kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, nâng cao năngsuất, chất lượng và hiệu suất cao sản xuất, sử dụng tiết kiệm ngân sách và chi phí những yếu tố sản xuất. Đây làđộng lực can đảm và mạnh mẽ cho sự tăng trưởng nền sản xuất hàng hoá. 3. Từ kinh tế thị trường tự do sang kinh tế hỗn hợpXuất phát của quan điểm “ kinh tế hỗn hợp ” có từ cuối những năm của thế kỷXIX. Sau khi thời kỳ cuộc chiến tranh, nó được những nhà kinh tế học Mỹ, như A.Hasen, tiếptục nghiên cứu và điều tra. Tư tưởng này được tăng trưởng trong “ kinh tế học ” của P.A.Samuelson.Nếu những nhà kinh tế học Cổ điển và Cổ điển mới say sưa với “ bàn tay vô hình dung ” và “ cân đối tổng quát ”, phe phái Keynes và Keynes mới say sưa với “ bàn taynhà nước ”, thì P.A.Samuelson chủ trương tăng trưởng kinh tế phải dựa vào cả “ hai bàntay ”, là cơ chế thị trường và nhà nước. Ông cho rằng diều hành một nền kinh tế khôngcó chính phủ nước nhà hoặc thị trường thì cũng như vỗ tay bằng một bàn tay ”. Cơ chế thị trường là một hình thức tổ chức triển khai kinh tế, trong đó, cá thể người tiêudùng và những nhà kinh doanh ảnh hưởng tác động lẫn nhau qua thị trường để xác lập ba vấn đềtrung tâm của tổ chức triển khai kinh tế là : cái gì ? Như thế nào ? Và cho ai ? Cơ chế thị trường “ không phải là một sự hỗn hợp mà là trật tự kinh tế ”. Một nền kinh tế thị trường làmột chính sách phức tạp để phối hợp một cách không tự giác nhân dân và doanh nghiệpthông qua mạng lưới hệ thống Chi tiêu thị trường. Nó là một phương tiện đi lại tiếp xúc để tập hợp trithức và hành vi của hàng triệu cá thể khác nhau, không có bộ não TT, nóvẫn giải được bài toán mà máy tính lớn nhất ngày này không hề giải nổi. Không aithiết kế ra nó. Nó tự nhiên, và cũng như xã hội loài người, nó đang đổi khác. Thị trường là một quy trình mà trong đó, người bán một thứ hàng hoá tác độngqua lại lẫn nhau để xác lập Chi tiêu và số lượng hàng hoá. Như vậy, nói đến thị trườngPage | 9G iải pháp khắc phục khó khăn vất vả tăng trưởng nền kinh tế thị trường khuynh hướng xã hội chủ nghĩavà cơ chế thị trường là phải nói tới hành hoá, người bán và người mua, giá thành hànghoá. Hàng hoá gồm có tiêu dùng, dịch vụ và yếu tố sản xuất như lao động, đất đai, tưbản. Từ đó hình thành nên thị trường hàng tiêu dùng và thị trường những yếu tố sản xuất. Trong mạng lưới hệ thống thị trường, mỗi hàng hoá, mỗi loại dịch vụ đều có Chi tiêu của nó. Giácả mang lại thu nhập cho hàng hoá mang đi bán. Và mỗi người lại dùng thu nhập đóđể mua hàng mình cần. Nếu một loại hàng hoá nào đó có nhiều người mua, thì ngườibán sẽ tăng giá lên để phân phối một lượng cung hạn chế. Giá lên cao sẽ thúc đẩyngười sản xuất làm ra nhiều hàng hoá hơn. Khi có nhiều hàng hoá, người bán muốnmua nhanh để xử lý hàng của mình nên hạ giá xuống. Khi hạ giá, số người muahàng đó tăng lên. Do đó, người bán lại tăng giá lên. Như vậy, trong cơ chế thị trườngcó một mạng lưới hệ thống tự tạo ra sự cân đối giữa Ngân sách chi tiêu và sản xuất. “ Giá cả là phương tiệntín hiệu của xã hội ”. Nó chỉ cho người sản xuất biết sản xuất cái gì và như thế nào vàcũng trải qua đó triển khai phân phối cho ai. Nói đến cơ chế thị trường là ta phải nói đến cung – cầu hàng hoá, đó là sự kháiquát của hai lực lượng người bán và người mua trên thị trường. Sự biến động của giácả đã làm cho trạng thái cân đối cung – cầu liên tục đổi khác và đó cũng chínhlà nội dung của quy luật cung – cầu hàng hoá. Nền kinh tế thị trường chịu sự tinh chỉnh và điều khiển của hai ông vua : Người tiêu dùng vàkỹ thuật. Người tiêu dùng thống trị thị trường, vì họ là người bỏ tiền ra để mua hànghoá do doanh nghiệp sản xuất. Song, kỹ thuật hạn chế người tiêu dùng vì nền sản xuấtbằng tiền của người mua, không hề quyết định hành động yếu tố phải sản xuất hàng gì. Nhưvậy, nhu yếu phải chịu theo đáp ứng của người kinh doanh thương mại. Vì người sản xuất phảiđịnh giá hàng của mình theo chi phí sản xuất. Nên họ sẵn sàng chuẩn bị chuyển sang lĩnh vựcnhiều doanh thu hơn. Như vậy thị trường chịu sự chi phối của cả ngân sách kinh doanh thương mại, lẫn những quyết định hành động cung-cầu của người tiêu dùng lao lý. Ở đây, thị trường đóng vaitrò môi giới trung gian hoà giải sở trường thích nghi người tiêu dùng và hạn chế kỹ thuật. Page | 10G iải pháp khắc phục khó khăn vất vả tăng trưởng nền kinh tế thị trường khuynh hướng xã hội chủ nghĩaCũng trong nền kinh tế thị trường, doanh thu là động lực chi phối hoạt động giải trí củangười kinh doanh thương mại. Lợi nhuận đưa những nhà doanh nghiệp đến những khu vực sản xuấthàng hoá mà người tiêu dùng cần nhiều hơn, bỏ lỡ những khu vực ít có người tiêudùng. Lợi nhuận đưa những nhà doanh nghiệp đến việc sử dụng kỹ thuật sản xuất hiệuquả nhất. Như vậy, mạng lưới hệ thống thị trường luôn phải là một mạng lưới hệ thống hỗn hợp để giảiquyết tốt nhất ba yếu tố có bản của nền kinh tế. IIICơ chế thị trường1. Hàng hoá. Hàng hoá là loại sản phẩm của lao động, một là nó hoàn toàn có thể thoả mãn được nhu cầunào đó của con người, hai là nó được sản xuất ra không phải để người sản xuất ra nótiêu dùng mà là để đem ra trao đổi. Hàng hoá có hai thuộc tính : Bao gồm thuộc tínhgiá trị và giá trị sử dụng. Giá trị là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá. Sản phẩm nào mà không tiềm ẩn lao động của con người thì không có giá trị, khigiá trị biến hóa thì giá trị trao đổi cũng biến hóa. Giá trị trao đổi chính là hình thứcbiểu hiện của giá trị. Giá trị là một phạm trù lịch sử dân tộc nó gắn liền với nền sản xuất hànghoá, khi nào còn sản xuất và trao đổi hàng hoá thì còn sống sót phạm trù giá trị. Giá trị sử dụng là hiệu quả của mẫu sản phẩm hoàn toàn có thể thoả mãn một nhu yếu nào đócủa con người. Công dụng của loại sản phẩm do thuộc tính tự nhiên của mẫu sản phẩm đó quiđịnh. Giá trị sử dụng bộc lộ ở việc sử dụng hay tiêu dùng nó là nội dung của của cải, không kể hình thức xã hội của cải đó như thế nào. Với ý nghĩa như vậy thì giá trị sửdụng là một phạm trù vĩnh viễn. Một mẫu sản phẩm đã là hàng hoá thì nhất thiết phải cógiá trị sử dụng nhưng không phải bất kể loại sản phẩm gì có giá trị sử dụng cũng đều làhàng hoá. Trong kinh tế hàng hoá, giá trị sử dụng là cái mang giá trị trao đổi. Page | 11G iải pháp khắc phục khó khăn vất vả tăng trưởng nền kinh tế thị trường xu thế xã hội chủ nghĩa2. Tiền tệTrong tiến trình đầu của trao đổi hàng hoá, người ta đổi trực tiếp một vật nàylấy một vật khác, với sự tăng trưởng liên tục của phân công lao động xã hội và trao đổihàng hoá trong thời kì suy tàn của chính sách công xã nguyên thuỷ, những nhược điểmcủa hình thái giá trị hàng loạt hay lan rộng ra càng bộc lộ rõ ràng. Trong quy trình troa đổihàng hoá Open một nhu yếu là những người chủ hàng hoá phải tìm được một loạihàng hoá nào mà được nhiều người ưa thích để đổi hàng hoá của mình lấy hàng hoáđó. Sau đó dùng hàng hoá ấy đổi lấy thứ hàng hoá mà mình cần. Như vậy việc traođổi không còn là trực tiếp mà phải qua một bước trung gian. Lực lượng sản xuất tiếptục tăng trưởng cuộc phân công lao động xã hội lớn lần thứ hai thúc đẩy mạnh sự pháttriển của sản xuất và lưu thông hàng hoá, điều đó yên cầu phải có vật ngang giá chungthống nhất giữa những vùng, như vậy tiền tệ đã Open. Tiền tệ Open là hiệu quả lâudài và tất yếu của trao đổi hàng hoá. Tiền tệ có năng lực trao đổi trực tiếp với mọihàng hoá, nó trở thành phương tiện đi lại bộc lộ giá trị của những hàng hoá. Tiền tệ là thứhàng hoá đặc biệt quan trọng được tạo ra là vật ngang giá chung cho những hàng hoá khác. Nó thểhiện giá trị lao động xã hội và bộc lộ quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá. Từ sự tăng trưởng can đảm và mạnh mẽ của sản xuất và trao đổi đã sinh ra một loại hàng hoáđặc biệt đóng vai trò vật ngang giá chung. Đó là tiền tệ. Trong lịch sử dân tộc tiền tệ, nhiềuloại hàng hoá đã được sử dụng cho vai trò này như vỏ ốc, gia súc, sắt, đồng, bạc, vàng Bản thân chúng là những yếu tố vật chất và có giá trị. Sự sinh ra của tiền giấyđánh dấu một sự biến hóa to lớn trong quy trình tăng trưởng của chúng tính bằng bạc, hoặc vàng. Nhưng ngày này mọi nền kinh tế tân tiến đều không có bất kể một sự hứahẹn bảo vệ “ giá trị thực ” của chúng. Nhu cầu trao đổi đã tăng trưởng đến mức cần có những loại tiền mới không chỉ làtiền giấy, séc mà còn thẻ tín dụng thanh toán, tiền điện tử v.v Nó được chuyển nhượng ủy quyền thôngqua những máy tính, đường điện thoại cảm ứng và thậm chí còn hoàn toàn có thể sống sót trên sách vở. Page | 12G iải pháp khắc phục khó khăn vất vả tăng trưởng nền kinh tế thị trường khuynh hướng xã hội chủ nghĩaNhư vậy ngày này, tiền được coi là mọi thứ được xã hội đồng ý dùng làmphương tiện giao dịch thanh toán và trao đổi. Bản thân chúng hoàn toàn có thể có hoặc không có giá trịriêng. 3. Giá cả. Giá cả là biểu lộ bằng tiền của giá trị hàng hoá. Trong nền kinh tế hàng hoánói chung cũng như nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trong thời kì quá độ ởnước ta, Chi tiêu là công cụ vô cùng quan trọng không những đẻ bảo vệ cho lưu thônghàng hoá cũng tứ là cho hoạt động và sinh hoạt hoạt động giải trí thương nghiệp được thuận tiện mà còn đểđiều tiết sản xuất và tiêu dùng theo hướng có lợi cho lao động. Giá cả trong thời kìquá độ bộc lộ những quyền lợi khác nhau, vì vậy phải có chủ trương đúng đắn để tạora một sự nhất trí giữa những quyền lợi phong phú đó. Giá cả phản ánh tình hình cung-cầu, hoàn toàn có thể nhận ra sự khan hiếm tương đốicủa hàng hoá qua sự biến hóa giá thành. Tin tức về Ngân sách chi tiêu hoàn toàn có thể hướng dẫn đơn vị chức năng kinh tếcó tương quan định ra những quyết sách đúng đắn, không có những thông tin về giá cảquyết sách sẽ không chuẩn xác thậm trí có những quyết sách mù quáng. Trong lĩnhvực phân phối, lưu thông và tiêu dùng, sự đổi khác Chi tiêu cũng cung ứng những thôngtin thiết yếu để cơ quan chính phủ, nhà máy sản xuất và cá thể định ra những quyết định hành động. Sự biến động của Ngân sách chi tiêu hoàn toàn có thể dẫn tới sự dịch chuyển của cung và cầu, sản xuất vàtiêu dùng, dịch chuyển về lưu chuyển tài nguyên. Khi giá thành của một loại hàng hoá nàođó tăng lên thì người sản xuất nói chung hoàn toàn có thể tăng sản xuâts mẫu sản phẩm đó và tấtnhiên sẽ lôi cuốn tài nguyên xã hội lưu chuyển vào ngành đó nhưng Ngân sách chi tiêu tăng có thểlàm cho tiêu dùng giảm nhu yếu về loại hàng hoá đó. Khi giá thành giảm người sản xuấtnói chung hoàn toàn có thể giảm sản xuất loại hàng hoá ấy và do đó một phần tài nguyên có thểkhông lưu chuyển vào ngành ấy, tiêu dùng lại hoàn toàn có thể tăng lên. Chính trong quá trìnhPage | 13G iải pháp khắc phục khó khăn vất vả tăng trưởng nền kinh tế thị trường khuynh hướng xã hội chủ nghĩanày mà Chi tiêu điều tiết qui mô sản xuất của xí nghiệp sản xuất sự sắp xếp tài nguyên giữa cácngành và cân đối giữa tổng cầu và tổng cung của xã hội. Giá cả lên xuống như một bàn tay vô hình dung điều tiết quyền lợi của mọi người, chỉhuy hành vi của người sản xuất, điều tiết hành vi của người tiêu dùng. Giá cả còncó tính năng thôi thúc văn minh kỹ thuật, giảm lượng lao động xã hội trung bình cầnthiết và công dụng phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân, thu nhập cá thể. Giá cả chỉ hoàn toàn có thể phát huy những công dụng trên dựa vào tiền tệ. Giá cả có vừa đủ tínhđàn hồi, thị trường phải có tính cạnh tranh đối đầu khá đầy đủ nếu không sẽ làm thiệt hại chứcnăng của giá thành. Trước đây do chính sách kinh tế kế hoạch tập trung chuyên sâu quan liêu nên tính năng của quiluật giá trị bị xem nhẹ, vì thế hệ thống Chi tiêu của nước ta rất phi lí. Giá cả khôngphản ánh được giá trị cũng không phản ánh được cung – cầu, tỷ giá giữa những hàng hoákhác nhau cũng như giữa những hàng hoá cùng loại cũng phi lí. Sự phi lí trênlàm cho Ngân sách chi tiêu không phát huy được vai trò là đòn kích bẩy kinh tế can đảm và mạnh mẽ so với sựphát triển của sản xuất và phát huy tính tích cực của người lao động. Để chuyển sang cơ chế thị trường, điều tiên phong đặt ra so với sự hình thành giácả là phải lấy giá trị làm cơ sở và dựa vào nhu yếu của qui luật giá trị Đồng thời sựhình thành Ngân sách chi tiêu hàng hoá còn phải chịu quan hệ của qui luật cung – cầu hàng hoá, sốlượng phát hành tiền giấy với chủ trương kinh tế của nhà nước ở mỗi thời kì nhấtđịnh Qui luật giá trị quyết định hành động Ngân sách chi tiêu trải qua cung và cầu có ý nghĩa quan trọngtrong nền kinh tế thị trường. Cho nên vận dụng qui luật giá trị, tình hình cung và cầu trênthị trường để hình thành giá thành là phương tiện đi lại và là con đường quan trọng thúc đẩytiến bộ xã hội. Page | 14G iải pháp khắc phục khó khăn vất vả tăng trưởng nền kinh tế thị trường khuynh hướng xã hội chủ nghĩaMặc dù cơ chế thị trường ở nước ta trong thời kì quá độ lên CNXH là chính sách cósự quản trị của nhà nước theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa, tuy nhiên chính sách hình thànhgiá cả phải từ thị trường là hầu hết, người sản xuất kinh doanh thương mại có quyền định giá. Cơchế hình thành giá này yên cầu nhà nước trong khi chỉ huy và quản trị Ngân sách chi tiêu phải làmcho tuyệt đại đa số hàng hoá tương thích với giá thị truờng do những tổ chức triển khai kinh tế căn cứvào quan hệ cung và cầu của thị trường qui định, trải qua Ngân sách chi tiêu nhà nước điều tiết, hướng dẫn việc góp vốn đầu tư một cách hài hòa và hợp lý. 4. Lợi nhuận. Do có sự chênh lệch giữa giá trị hàng hoá và chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa, nên khi bán hàng hoá theo Ngân sách chi tiêu thị thường ( bằng giá trị hàng hoá ) nhà tư bản thuđược một khoản tiền lời gọi là doanh thu. So sánh doanh thu với giá trị thặng dư chothấy : Về lượng, nếu cung bằng cầu và do đó giá hàng hoá bán ra theo đúng giá trị củanó thì số lượng doanh thu thu được bằng giá trị thặng dư. Nếu cung nhỏ hoặc lớn hơncầu giá thành hàng hoá hoàn toàn có thể sẽ cao hơn lượng hay thấp hơn giá trị của nó thì từng tưbản riêng biệt hoàn toàn có thể thu được một lượng doanh thu lớn hơn hoặc nhỏ hơn lượng giá trịthặng dư. Nhưng trong toàn xã hội, tổng số Chi tiêu ngang bằng với tổng số giá trị củahàng hoá, tổng số doanh thu ngang bằng với tổng số giá trị thặng dư. Về chất, giá trị thặng dư là bộ phận giá trị mới do lao động mà công nhân tạo ratrong nghành nghề dịch vụ sản xuất dôi ra ngoài phânf bù lại giá trị trung bình khả biến mà nhà tưbản đã trả cho công nhân, còn doanh thu là hình thức bộc lộ bên ngoài của giá trịthặng dư, là giá trị thặng dự khi nó đưịc ý niệm là con đẻ của hàng loạt tư bản ứngra, là hiệu quả hoạt động giải trí của toàn tue bản góp vốn đầu tư vào sản xuất và kinh doanh thương mại. Page | 15G iải pháp khắc phục khó khăn vất vả tăng trưởng nền kinh tế thị trường khuynh hướng xã hội chủ nghĩaC. Mác viết : “ giá trị thặng dư hay là doanh thu, chính là phần giá trị dôi ra ấycủa giá trị hàng hoá so với chi phí sản xuất của nó, nghĩa là phần dôi ra của tổngsố lượng lao động tiềm ẩn trong hàng hoá so với số lượng lao động được trảcông tiềm ẩn trong hàng hoá ”. Phạm trù doanh thu phản ánh rơi lệch thực chất quan hệ sản xuất giữa tư bản vàlao động, vì nó làm cho người ta tưởng rằng giá trị thặng dư không phải chỉ do laođộng làm thuê tạo ra. Thực chất doanh thu và giá trị thặng dư cũng là một, lợi nhuậnchẳng qua chỉ là một hình thái thần bí của giá trị thặng dư ‘ 5. Quy luật giá trị. Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và trao đổi hàng hoá. Chừng nào còn trao đổi hàng hoá thì chừng đó còn quy luật giá trị. Theo quy luật này, sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở lượng giátrị hàng hoá hay thời hạn lao động thiết yếu. Trong nền kinh tế hàng hoá, yếu tố quantrọng là hàng hoá sản xuất ra có bán được hay không ? Để hàng hoá hoàn toàn có thể bán đượcthì hao phí lao động riêng biệt để sản xuất ra hàng hoá phải tương thích với mức hao phí laođộng xã hội thiết yếu, tức là phải tương thích với mức hao phí mà xã hội hoàn toàn có thể chấp nhậnđược. Trong trao đổi hàng hoá cũng phải dựa vào hao phí lao động xã hội thiết yếu. Hai hàng hoá có giá trị sử dụng khác nhau hoàn toàn có thể trao đổi với nhau được khi lượng giátrị của chúng ngang nhau. Theo nghĩa đó thì trao đổi phản ánh theo nguyên tắc nganggiá. Quy luật giá trị là trừu tượng. Nó biểu lộ sự hoạt động trải qua sự biến độngcủa Chi tiêu hàng hoá. Trong sản xuất, quy luật giá trị điều tiết việc phân phối tư liệu sản xuất vá sứclao động giữa những ngành sản xuất trải qua sự bién động của giá thành hàng hoá. Như dãnói trên, do ảnh hưởng tác động của quan hệ cung – cầu, giá thành hàng hoá trên thị trường lênPage | 16G iải pháp khắc phục khó khăn vất vả tăng trưởng nền kinh tế thị trường xu thế xã hội chủ nghĩaxuống xoay quanh giá trị của nó. Nếu có ngành nào đó cung không cung ứng cầu, giácả hàng hoá lên cao thì sản xuất đổ xô vào ngành đó. Ngược lại, khi ngành đó thu hútquá nhiều lao động xã hội, cung vượt quá cầu, giá thành hàng hoá hạ xuống thì người sảnxuất sẽ phải chuyển bớt tư liệu sản xuất và sức lao động ra khỏi ngành này để đầu tưvào nơi có Ngân sách chi tiêu hàng hoá cao. Nhờ vậy, tư liệu sản xuất và sức lao động được phânphối qua lại một cách tự phát vào những ngành sản xuất khác nhau. Sự biến động xungquanh giá trị không những chỉ rõ sự dịch chuyển về kinh tế mà còn có công dụng điều tiếtnguồn hàng từ nơi giá thấp đến nơi giá cao. Trong nền sản xuất hàng hoá, ngưòi nào có hao phí lao động riêng biệt ít hơn hoặcbằng hao phí lao động xã hội thiết yếu để sản xuất hàng hoá thì người đó có lợi, cònngười nào có hao phí riêng biệt lớn hơn hao phí lao động xã hội thiết yếu thì sẽ bị thiệt, vì không thu được toàn được lao động đã hao phí. Muốn đứng vững và thắng trongcạnh tranh mỗi người sản xuất đều luôn luôn tìm cách nâng cấp cải tiến kỹ thuật, tăng năng suấtlao động. Vì thế, trong nền kinh tế hàng hoá, lực lượng sản xuất được kích thích vàphát triển nhanh hơn nhiều so với trong nền kinh tế tự cấp, tự cung tự túc. Trong cuộc cạnh tranh đối đầu chạy theo giá trị, lao động riêng biệt của mỗi người sảnxuất không nhất trí với lao động xã hội thiết yếu. Như vậy, quy luật giá trị có ý nghĩabình tuyển, nhìn nhận người sản xuất. Về phương diện này quy luật giá trị bảo vệ sựbình đẳng so với người sản xuất. 6. Quy luật cung-cầuCầu là khối lượng hàng hoá và dịch vụ mà người tiêu dùng mua trong một thờikỳ tương ứng với giá thành, thu nhập và những biến số kinh tế xác lập. Người tiêu dùng ởđây gồm có dân cư, những doanh nghiệp nhà nước và cả quốc tế. Tiêu dùng baogồm cả tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng cá thể. Page | 17G iải pháp khắc phục khó khăn vất vả tăng trưởng nền kinh tế thị trường xu thế xã hội chủ nghĩaLượng cầu phụ thuộc vào vào những yếu tố hầu hết như : thu nhập, nhu cầu mua sắm của tiềntệ, Ngân sách chi tiêu hàng hoá, lãi suất vay, thị hiếu của người tiêu dùng. Trong đó, Ngân sách chi tiêu hàng hoá lànhân tố ảnh hưởng tác động trực tiếp và tỷ suất nghịch với lượng cầu, giá thành càng cao thì cầu vềhàng hoá đó thấp, ngược lại Ngân sách chi tiêu hàng hoá thấp, lượngcầu sẽ cao. Cung là khối lượng hàng hoá và dịch vụ mà chủ thể kinh tế đem bán ra thịtrường trong một thời kỳ nhất định, tương ứng với mức giá thành, năng lực sản xuất, chiphí sản xuất xác lập. Lượng cung phụ thuộc vào vào năng lực sản xuất, vào số lượng và chất lượng cácnguồn lực, những yếu tố sản xuất được sử dụng, hiệu suất lao động và chi phí sản xuất. Giá cả của hàng hoá và dịch vụ trên thị trường là yếu tố trực tiếp ảnh hưởng tác động tới lượngcung về hàng hoá, dịch vụ đó. Cung tỷ suất thuận với giá. Giá cả cao thì cung lớn vàngược lại, giá thành thấp thì cung giảm. Quan hệ cung và cầu là quan hệ giữa những người bán và những người mua, giữanhững người sản xuất và người tiêu dùng ; là những quan hệ có vai trò quan trọngtrong nền kinh tế hàng hoá. Không phải chỉ có giá cả ảnh hưởng tác động tới cung và cầu mà quanhệ cung và cầu ảnh hưởng tác động tới việc xác lập giá thành trên thị trường. Khi cung lớn hơn cầu, người bán phải giảm gía, Ngân sách chi tiêu hoàn toàn có thể thấp hơn giá trịhàng hoá. Khi cung nhỏ hơn cầu, người bán hoàn toàn có thể tăng giá, Chi tiêu hoàn toàn có thể cao hơn giátrị. Khi cung bằng cầu, người bán sẽ bán hàng hoá theo đúng giá trị Chi tiêu bằng giátrị. Khi đó cân đối thị trường Open tại mức giá mà tại đó lượng cung và cầubằng nhau. Mức giá đó gọi là giá cân đối, sản lượng đó gọi là sản lượng cân đối. Page | 18G iải pháp khắc phục khó khăn vất vả tăng trưởng nền kinh tế thị trường khuynh hướng xã hội chủ nghĩaPage | 19G iải pháp khắc phục khó khăn vất vả tăng trưởng nền kinh tế thị trường xu thế xã hội chủ nghĩaPHẦN 2S Ự HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG THEO ĐỊNHHƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM.I.Sự thiết yếu khách quan hình thành và tăng trưởng kinh tế thị trường định hướngXHCN ở Việt Nam1. Cơ chế cũ và hạn chế của nó. Cơ chế cũ là chính sách tập trung chuyên sâu quan liêu bao cấp. Đó là chính sách mà ở đó Nhànước quản trị nền kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính là hầu hết, bộc lộ ở sự chi tiếthoá những trách nhiệm do Trung ương giao bằng một mạng lưới hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh từ mộtPage | 20G iải pháp khắc phục khó khăn vất vả tăng trưởng nền kinh tế thị trường xu thế xã hội chủ nghĩatrung tâm. Các doanh nghiệp địa thế căn cứ vào chỉ tiêu kế hoạch của nhà nước từ đó lập kếhoạch sản xuất kinh doanh thương mại cho mình. Trong chính sách tập trung chuyên sâu quan liêu bao cấp, những cơ quan nhà nước can thiệp qúasâu vào những hoạt động giải trí sản xuất kinh doanh thương mại của những doanh nghiệp nhưng lại khôngchịu nghĩa vụ và trách nhiệm gì so với những quyết định hành động của mình, từ đó làm cho những doanh nghiệpthụ động không phát huy được tính phát minh sáng tạo, những quan hệ kinh tế bị hiện vật hoá. Quan hệ hàng hoá tiền tệ chỉ mang tính hình thức, bỏ lỡ hiệu suất cao kinh tế, quản lýkinh tế và kế hoạch hoá bằng chính sách cấp phép, giao nộp. Bộ máy quản trị cồng kềnh, nhiều khâu trung gian nhưng kém năng lượng. Cơ chế tập trung chuyên sâu bao cấp đã góp thêm phần cho thắng lợi giải phóng quốc gia, nhưngsau khi điều kiện kèm theo kinh tế xã hội đã biến hóa. Đặc biệt khi trình độ tăng trưởng kinh tế đãnâng cao lên rất nhiều, cơ cấu tổ chức càng phức tạp thì những khuyết điểm bên trong nềnkinh tế kế hoạch ngày càng thể hiện. Cuộc chạy đua theo tiềm năng chính sách quốc hữu hoálàm vô hiệu hoặc hạn chế chế độ kinh tế phi quốc hữu, kiềm chế cạnh tranh đối đầu nên khólàm sôi động nền kinh tế. Trên thực tiễn kinh tế kế hoạch lấy chủ nghĩa trung bình làm mục tiêu phânphối cho nên vì thế đã ngưng trệ tích cực và phát minh sáng tạo của người sản xuất kinh doanh thương mại. Chúngta thực thi phân phối theo lao động trong điều kiện kèm theo chưa được cho phép. Trong hoạt độngkinh tế việc nhà nước quản trị hành chính bằng mệnh lệnh trực tiếp, chính quyền sở tại và xínghiệp không tách riêng, nguồn vào cao đầu ra thấp đã trở thành những căn bệnh cũ củanền kinh tế kế hoạch. Những điều trên đã gây trở ngại cho sự tăng trưởng sản xuất xãhội. Trước tình hình đó việc quy đổi nền kinh té nước ta sang nền kinh tế thịtrường là đúng đắn tương thích với trong thực tiễn, qui luật kinh tế và xu thế của thời đạiPage | 21G iải pháp khắc phục khó khăn vất vả tăng trưởng nền kinh tế thị trường xu thế xã hội chủ nghĩa2. chủ trương tăng trưởng kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo khuynh hướng xã hộichủ nghĩa. Trong khi những nước trong khu vực đã đạt được những bước tăng trưởng nhảy vọtdựa vào chính sách kinh tế thị trường, lan rộng ra quan hệ kinh tế đối ngoại, kiến thiết xây dựng cơcấu kinh tế hướng bên ngoài, thì Nước Ta trong nhiều năm qua vẫn theo đổi cơ chếkế hoạch hoá tập trung chuyên sâu bằng mệnh lệnh hành chính, quan liêu từ TW và cơ cấukinh tế hướng về trong là hầu hết, đã ngưng trệ năng lực hoà nhập vào trào lưu phát triểncủa khu vực. Sau đại hội 6 ( 1986 ), do thay đổi nói chung và sự thay đổi trong nhận thức xãhội, Đảng ta đánh giá và nhận định rằng để tăng trưởng theo kịp những nước trong khu vực và thế giớithì phải tăng trưởng kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo khuynh hướng xã hội chủnghĩa có sụ quản trị của nhà nước. Bởi vì lúc bấy giờ ở nước ta, những điều kiện kèm theo của sản xuất hàng hoá vẫn còn đangtồn tại. Phân công lao động : ở nước ta đang sống sót mạng lưới hệ thống phân công lao động dolịch sử để lại với nhiều ngành nghề. Với sự tăng trưởng khoa học kỹ thuật văn minh, nhiều ngành nghề mới Open làm cho sự phân công lao động ở nước ta trở nênphong phú hơn, nó tạo điều kiện kèm theo cho hàng hoá tăng trưởng. Ở nước ta cũng đang tồn tạiquan hệ chiếm hữu phong phú về tư liệu sản xuất và ứng với nó là nền kinh tế nhièu thànhphần. Điều đó tạo nên sự độc lập về mặt kinh tế giữa những thành viên, doanh nghiệp. Nó cũng có công dụng làm cho hàng hoá tăng trưởng. Mặt khác, kinh tế hàng hoá tăng trưởng, nó thôi thúc quy trình phân công laođộng, quy trình chuyên môn hoá và hiện đại hoá. Qua đó thiết lập được mối quan hệkinh tế giữa những vùng xoá bỏ thực trạng tự cung tự túc, tự cấp. Đẩy mạnh quy trình xã hộihoá sản xuất. Nó thôi thúc quy trình tích tụ và tập trung chuyên sâu vốn và lao động biểu lộ ởquy mô của những doanh nghiệp, quy mô về kinh tế ngày càng tăng. Page | 22G iải pháp khắc phục khó khăn vất vả tăng trưởng nền kinh tế thị trường khuynh hướng xã hội chủ nghĩaKinh tế hàng hoá góp thêm phần tăng hiệu suất lao động thực thi dân chủ hoá đờisống kinh tế. Nó khai thác được thế mạnh từng ngành, từng địa phương để làm ranhiều mẫu sản phẩm cho xã hội, tạo tiền đề cho việc lan rộng ra link, liên kết kinh doanh cả trongnước và quốc tế. Mở rộng khoanh vùng phạm vi giao lưu hàng hoá giữa nước ta và những nứơckhác. Là điều kiện kèm theo thôi thúc sự tăng trưởng của 1 số ít ngành, nghành nghề dịch vụ khác. Trong bất kỳ hình thái kinh tế – xã hội nào cũng có phương pháp sản xuất giữ vịtrí chi phối. Ngoài ra, còn có phương pháp sản xuất tàn dư của xã hội trước và phươngthức sản xuất mầm mống của xã hội tương lai. Các phương pháp sản xuất này ở vàođịa vị phụ thuộc, bị chi phối bởi phương pháp sản xuất thống trị. Tronh một hình thái kinh tế xã hội có nhiều phương pháp sản xuất biểu hiệnthành phần kinh tế. Trong thời kỳ quá độ, chưa có thành phần kinh tế nào giữ vai tròthống trị, chi phối những thành phần kinh tế khác, mà chúng chỉ là những mảnh, nhữngbộ phận hợp thành cấu trúc kinh tế xã hội trong một mạng lưới hệ thống thống nhất biện chứng. Mỗi thành phần kinh tế có kiểu tổ chức triển khai sản xuất kinh doanh thương mại của nó hợp thành nềnkinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Nền kinh tế thời kỳ quá độ sống sót nhiều thành phần kinh tế là vì : Thứ nhất, khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động dành chính quyền sở tại, tiếpquản nền kinh tế hầu hết dựa trên chính sách tư hữu về tư liệu sản xuất. Thực tế có hailoại tư hữu : tư hữu lớn : xí nghiệp sản xuất, hầm mỏ, doanh nghiệp, đồn điền của những chủ tư bảntrong và ngoài nước-đó là kinh tế tư bản chủ nghĩa, và tư hữu nhỏ : gồm những ngườinông dân thành viên, những người kinh doanh nhỏ, đó là sản xuất nhỏ thành viên. Thái độ của chính quyền sở tại mới so với hai loại tư hữu trên là khác nhau. Đối vớitư hữu lớn kinh tế tư bản tư nhân, chỉ có giải pháp duy nhất là quốc hữu hoá. LýPage | 23G iải pháp khắc phục khó khăn vất vả tăng trưởng nền kinh tế thị trường xu thế xã hội chủ nghĩaluận về quốc hữu hoá của chủ nghĩa Mac-Lênin khẳng định chắc chắn không nên quốc hữu hoángay một lúc mà phải được triển khai từ từ theo từng quy trình tiến độ và và bằng hình thức, bằng giải pháp nào là từy điều kiện kèm theo đơn cử, cho nên vì thế những doanh nghiệp thuộcthành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa còn sống sót như một tất yếu. Đồng thời hướng chủnghĩa tư bản vào con đường tư bản Nhà nước, hình thành thành phần kinh tế tư bảnnhà nước. Đối với tư hữu nhỏ thì chỉ có trải qua con đường hợp tác hoá, theo cácnguyên tắc mà Lênin vạch ra là tự nguyện, quản trị dân chủ, cùng có lợi tuân theocác quy luật khách quan. Do đó trong thời kỳ quá độ còn sống sót thành phần kinh tế cáthể. Hơn nữa những thành phần kinh tế cũ do lịch sử dân tộc để lại, chúng còn có vai trò, chứcnăng, trách nhiệm, còn có năng lực tăng trưởng Vì thế nhà nước bằng những chính sáchbiện pháp sử sụng những thành phần kinh tế tư nhân Giao hàng cho sự nghiệp thiết kế xây dựng xãhội mới. Thứ hai, sự tăng trưởng kinh tế ở mỗi vương quốc, do đặc thù lịch sử dân tộc, điều kiệnchủ quan, khách quan nên tất yếu có sự tăng trưởng không đều về lực lượng sản xuấtgiữa những ngành, những vùng, những doanh nghiệp. Chính sự tăng trưởng không đều đó quyếtđịnh quan hệ sản xuất, trước hết là hình thức, quy mô và quan hệ chiếm hữu phải phù hợpvới nó nghĩa là sống sót những quan hệ sản xuất không giống nhau. Đó là cơ sở hìnhthành những thành phần kinh tế khác nhau. Thứ ba, để tăng trưởng kinh tế, củng cố và tăng trưởng mạng lưới hệ thống chính trị, xã hội, nhà nước kiến thiết xây dựng mạng lưới hệ thống những có sở kinh tế mới, hình thành thành phần kinh tếnhà nước. Mặt khác, trong điều kiện kèm theo quốc tế hoá đời sống kinh tế, quốc hữu hoá hợptác và góp vốn đầu tư quốc tế, nhà nước cùng những nhà nước cùng những nhà tư bản, những côngty trong và ngoài nước, hình thành kinh tế tư bản nhà nước. Page | 24G iải pháp khắc phục khó khăn vất vả tăng trưởng nền kinh tế thị trường xu thế xã hội chủ nghĩaViệc nhận thức và tổ chức triển khai thực thi trên trong thực tiễn những thành phần kinh tế trongthời kỳ quá độ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn. Hiện nay, ở nước ta đang sống sót nhiều trình độ khác nhau của lực lượng sảnxuất ( thủ công bằng tay, trình độ cơ khí, tự động hoá, tin học hoá ). Vì vậy khi thiết lập quanhệ chiếm hữu thì cũng phải phong phú tương thích ở nước ta lúc bấy giờ hoàn toàn có thể làm Open thêmmột số thành phần kinh tế khác. Ở nước ta sống sót một nền kinh tế nhiều thành phần là một tất yếu khách quan. Vì kinh tế nhiều thành phần, đây là sống sót khách quan do lịch sử dân tộc để lại trong thời kỳquá độ và có nhiều thành phần kinh tế mà sụ sống sót của nó vẫn có lợi cho sự pháttriển quốc gia. Phát triển kinh tế nhiều thành phần nhằm mục đích thực thi cái quy luật : Quanhệ sản xuất phải tương thích với đặc thù, trình độ tăng trưởng của lực lượng sản xuất. Pháttriển kinh tế nhiều thành phần nhằm mục đích để cho sản xuất nước ta tăng trưởng liên tục khôngbị gián đoạn. Phát triển kinh tế nhiều thành phần nhằm mục đích tạo ra sự cạnh tranh đối đầu giữa cácthành phần kinh tế thị trường lúc bấy giờ ở nước ta. Tóm lại : Trong thời kỳ quá độ sống sót một nền kinh tế nhiều thành phần khôngchỉ là một tất yếu khách quan mà còn có một tính năng tích cực tolớn so với sự pháttriển của nền kinh tế. Cụ thể là : Sự sống sót nền kinh tế nhiều thành phần cũng có ý nghĩa là sống sót nhiều hìnhthức quan hệ sản xuất, do đó nó sẽ tương thích với những trình độ tăng trưởng khác nhau vềlực lượng sản xuất từ đó mà hoàn toàn có thể tăng hiệu suất lao động, tăng vận tốc phát triểnkinh tế, tăng hiệu suất cao kinh tế trong mỗi thành phần cũng như trong hàng loạt nền kinhtế. Page | 25G iải pháp khắc phục khó khăn vất vả tăng trưởng nền kinh tế thị trường xu thế xã hội chủ nghĩaGóp phần Phục hồi kinh tế cho sự tăng trưởng của nền kinh tế hàng hoá. Pháttriển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần chính là bảo vệ quyền tự do kinhdoanh, quyền dân chủ về kinh tế cho mọi công dân. Một công dân đều có quyền hoạtđộngtrong nền kinh tế thị trường ( theo đúng pháp lý ) để làm giài cho mình và choxã hội. Nền kinh tế có cơ cấu tổ chức nhiều thành phần không những tạo điều kiện kèm theo sử dụng sứcmạnh tổng hợp của mọi thành phần kinh tế trong nước mà còn tạo ra môi trườngthông thoáng, thích hợp cho sự lôi cuốn vốn, khoa học kĩ thuật tiên tiến và phát triển của quốc tế. Nền kinh tế có cơ cấu tổ chức nhiều thành phần không những tạo điều kiện kèm theo thực thi vàmở rộng những hình thức kinh tế quá độ, đặc biệt quan trọng là hình thức kinh tế tư bản nhà nước, là “ cầu nối ” là trung gian thiết yếu để chuyển nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ nênsản xuất lớn xã hội chủ nghĩaTừ những tác động ảnh hưởng tích cực mà hội nghị TW lần thứ VI khoá VI đã chỉrõ : “ chủ trương kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa kế hoạch lâu bền hơn, có tínhquy luật từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội và biểu lộ ý thức dân chủ vềkinh tế, bảo vệ cho mọi người làm ăn theo pháp lý ”. Khi chính sách cũ ngưng trệ sự tăng trưởng kinh tế Nước Ta trong nhiều năm. Điềuđó đặt ra một nhu yếu khách quan là phải thay đổi chính sách kinh tế, sửa chữa thay thế chính sách mớivào chính sách cũ. Trong khi đó, cơ chế thị trường có sự quản trị của nhà nước đang đượcáp dụng thoáng rộng, thông dụng ở nhiều nước trên quốc tế và đã đạt được những thành tựurất đáng chăm sóc. Vì vậy, quy đổi từ chính sách cũ sang cơ chế thị trường có sự quảnlý nhà nước theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa là thiết yếu, khách quan .
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Thị Trường






