I. Triết học và đối tượng nghiên cứu của triết học

I. Triết học và đối tượng nghiên cứu của triết học

1. Khái niệm Triết học

Ngay từ thời nguyên thuỷ, để tồn tại, con người luôn hướng nhận thức của mình ra thế giới. Công cụ để nhận thức thế giới của họ lúc đầu là huyền thoại và thần thoại. Xã hội chiếm hữu nô lệ ra đời thay thế xã hội nguyên thuỷ nên việc giải thích thế giới bằng huyền thoại, thần thoại không còn đáp ứng nhu cầu hiểu biết ngày càng cao của con người. Một công cụ nhận thức mới của loài người thay thế huyền thoại, thần thoại là triết học

Triết học ra đời do kết quả của sự phân chia giữa lao động trí óc và lao động chân tay. Bên cạnh đó, triết học ra đời còn do tư duy nhân loại đã phát triển ở trình độ cao – trình độ hệ thống hoá, khái quát hoá và trừu tượng hoá

Triết học ra đời vào khoảng thế kỷ VIII-VI tr.c.n gắn liền với sự ra đời của các nền văn minh cổ đại như Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp v.v. Triết theo nghĩa chữ Hán là trí- sự hiểu biết của con người, là sự truy tìm bản chất của đối tượng trong quá trình nhận thức thế giới; theo nghĩa tiếng Ấn Độ là Darshna, là sự chiêm ngưỡng, suy ngẫm con đường đến chân lý, là sự hiểu biết nói chung; theo tiếng Hy Lạp là philosophya (yêu mến sự thông thái)

Như vậy, dù ở phương Đông hay phương Tây, triết học thời cổ đại đều có nghĩa là sự hiểu biết, sự nhận thức chung của con người về thế giới.

Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về triết học, song có thể hiểu rằng 1) triết học là khoa học bao gồm hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vị trí, vai trò của con người trong thế giới đó. 2) triết học là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội và chịu sự quy định của tồn tại xã hội. 3) triết học là một yếu tố của kiến trúc thượng tầng, là sự phản ánh cơ sở hạ tầng, chịu sự quy định của cơ sở hạ tầng.

2. Đối tượng nghiên cứu của triết học

Triết học Hy Lạp cổ đại được coi là khoa học của mọi khoa học với nghĩa triết học bao gồm mọi tri thức của con người về thế giới, đặc biệt là giới tự nhiên, do đó còn gọi là triết học tự nhiên. Ở Trung Quốc và Ấn Độ cổ đại, triết học gằn liền với những vấn đề chính trị, đạo đức, tôn giáo và thường biểu hiện dưới dạng học thuyết chính trị – xã hội hoặc tôn giáo.

Thời phong kiến ở tây Âu, do sự thống trị của thần học Cơ Đốc giáo trong lĩnh vực tinh thần, nên triết học chỉ là tôi tớ cho thần học và mang tính kinh viện.

Thời Phục hưng và Cận đại ở tây Âu, triết học không chỉ đề cập tới những vấn đề tự nhiên, mà còn đề cập tới những vấn đề con người và xã hội. Tính nhân đạo tư sản thể hiện rõ trong các trường phái triết học ở Anh, Pháp, Hà Lan, Đức, Italia v.v. Triết học cổ điển Đức đã đề cập tới mọi vấn đề của thế giới (tự nhiên, xã hội, tư duy). Hêghen là nhà triết học cuối cùng trong lịch sử triết học có tham vọng coi triết học là khoa học của mọi khoa học.

Từ thời Phục hưng đến Cận đại, các ngành khoa học tách khỏi triết học thành các khoa học độc lập. Các quy luật chung nhất của thế giới (tự nhiên, xã hội, tư duy) trở thành đối tượng nghiên cứu của triết học. Triết học còn khác với các ngành khoa học cụ thể ở chức năng thế giới quan và phương pháp luận của nó. Chính vì vậy, có thể nói triết học là khoa học về thế giới quan và phương pháp luận.

Triết học có vai trò hết sức to lớn trong đời sống xã hội, nó cung cấp cho chúng ta hệ thống quan điểm, tư tưởng về thế giới (thế giới quan); góp phần giải thích thế giới trong dạng một chỉnh thể gồm nhiều yếu tố tác động qua lại và chuyển hoá lẫn nhau tạo cho chúng ta có nhận thức chung nhất về thế giới. Không những thế, triết học còn góp phần hình thành và phát triển nhân sinh quan của con người (quan điểm, tư tưởng về con người, cuộc sống và hành vi ứng xử của con người trong cuộc sống)

3. Vấn đề cơ bản của triết học

Do nghiên cứu những quy luật chung nhất của thế giới nên triết học với tư cách là một khoa học đề cập tới rất nhiều vần đề. Trong những vấn đề ấy nổi lên vấn đề cơ bản là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại. “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại”[1]

Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt. Mặt thứ nhất trả lời câu hỏi: giữa tư duy với tồn tại, giữa ý thức với vật chất, giữa tinh thần với tự nhiên thì cái nào có trước cái nào có sau? và cái nào có vai trò quy định đối với cái nào? Mặt thứ hai trả lời câu hỏi: con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không?

Giải quyết vấn đề cơ bản của triết học là cơ sở lý luận để giải quyết mọi vấn đề khác của triết học, là tiêu chuẩn để phân biệt lập trường tư tưởng, quan điểm của các nhà triết học.

Trong lịch sử triết học, có cách khác nhau, thậm chí đối lập nhau khi giải quyết vấn đề cơ bản của triết học. Khi trả lời những câu hỏi thuộc mặt thứ nhất của vấn đề cơ bản; những người cho rằng tồn tại, vật chất, giới tự nhiên có trước và có vai trò quyết định đối với tư duy, ý thức, tinh thần, hợp thành trường phái duy vật (chủ nghĩa duy vật); ngược lại, những người cho rằng tư duy, ý thức, tinh thần là cái có trước, có vai trò quyết định đối với tồn tại, vật chất, giới tự nhiê, hợp thành trường phái duy tâm (chủ nghĩa duy tâm).

Chủ nghĩa duy vật có nhiều hình thức, song có ba hình thức cơ bản là chủ nghĩa duy vật thời cổ đại mang tính ngây thơ, chất phác; chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII-XVIII mang tính máy móc, siêu hình; chủ nghĩa duy vật biện chứng- đỉnh cao nhất của chủ nghĩa duy vật mang tính khách quan khoa học.

Chủ nghĩa duy tâm có hai hình thức cơ bản là chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ nghĩa duy tâm chủ quan. Chủ nghĩa duy tâm khách quan là trường phái triết học cho rằng, thế giới do thực thể đầu tiên thuộc ý thức, tinh thần khách quan tạo ra, thế giới do đó, chịu sự quy định của thực thể ý thức, tinh thần đó như “ý niệm” của Platôn, hay “ý niệm tuyệt đối” của Hêghen. Chủ nghĩa duy tâm chủ quan là trường phái triết học cho rằng, thế giới tồn tại phụ thuộc vào thực thể ý thức, tinh thần chủ quan của con người. Các đại biểu tiêu biểu cho chủ nghĩa duy tâm chủ quan là G.Béccơli, Đ.Hium.

Khi giải quyết mặt thứ hai của vấn đề cơ bản của triết học, đa số các nhà triết học đều thừa nhận khả năng nhận thức của con người hợp thành trường phái khả tri luận (có thể biết). Tuy nhiên các nhà triết học thuộc trường phái này cũng có sự khác nhau khi bàn tới các vấn đề như mục đích của nhận thức, con đường nhận thức chân lý, vai trò của các giai đoạn nhận thức v.v. Trong lịch sử triết học, những nhà triết học trực tiếp hoặc gián tiếp phủ nhận khả năng nhận thức của con người tạo nên trường phái bất khả tri. Đại biểu tiêu biểu cho trường phái này là Cantơ và Makhơ. Các nhà triết học thuộc phái bất khả tri cho rằng, chỉ có cảm giác và biểu tượng của con người là hiện thực và hiện thực duy nhất. Cantơ tuy thừa nhận thế giới tồn tại khách quan song lại cho rằng con người chỉ nhận thức được các hiện tượng chứ không thể nhận thức được bản chất của các hiện tượng trong thế giới “vật tự nó”.

Trong lịch sử triết học, những nhà triết học thuộc hai trường phái duy vật hoặc duy tâm thì gọi chung là nhất nguyên luận duy vật hoặc nhất nguyên luận duy tâm, bởi họ đều xuất phát từ một bản nguyên vật chất hoặc một bản nguyên tinh thần để giải thích thế giới. Có trường phái triết học lại xuất phát cùng một lúc từ cả hai bản nguyên trên để giải thích thế giới, rằng vật chất và ý thức cùng song song tồn tại, không có cái nào có trước, cái nào có sau, chúng đều có vai trò như nhau đối với quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của thế giới; rằng hai thực thể vật chất và tinh thần tồn tại đồng thời, độc lập không phụ thuộc và nhau và tồn tại vĩnh viễn. Đó chính là triết học nhị nguyên luận với các đại biểu tiêu biểu như Đềcáctơ, Xpinôda v.v. Về bản chất, những người theo phái nhị nguyên luận là những người chiết chung muốn dung hoà chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. V.I.Lênin cho rằng việc khắc phục lập trường nhị nguyên chỉ có thể thực hiện trên cơ sở duy vật hoặc duy tâm mà thôi.

Việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học cho đến nay vẫn có ý nghĩa tới cuộc sống của xã hội hiện đại. Những thành tựu của khoa học hiện đại đã khẳng định tính đúng đắn của triết học duy vật biện chứng, tuy nhiên những hiện tượng mang tính thần bí như ngoại cảm, thấu thị, trường sinh học v.v đang đặt ra đòi hỏi các khoa học trong đó có triết học tiếp tục phải giải quyết. Hiện nay giải quyết vấn đề cơ bản của triết học dựa trên những thành tựu mới nhất của khoa học hiện đại có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại của triết học với tư cách là khoa học về thế giới quan và phương pháp luận.

[1] C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập,  2004, t..21, tr.403

 

Share this:

Thích bài này:

Thích

Đang tải…