news – Sở Nội vụ – Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Ninh

Hồ sơ địa chính là loại tài liệu đặc thù, đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai. Chính vì vậy, ở nước ta, hồ sơ địa chính được lập ở tất cả các đơn vị hành chính và các cấp hành chính, trải qua các thời kỳ lịch sử khác nhau. Hồ sơ địa chính được lập ra thông qua việc sử dụng nhiều phương tiện khoa học kỹ thuật khác nhau, bao gồm cả tài liệu giấy, tài liệu quản lý trên các phần mềm ứng dụng, văn bản quản lý và tài liệu kỹ thuật (bản đồ), bảng biểu. Do đó hồ sơ địa chính ở mỗi thời kỳ lại mang những đặc điểm riêng, đánh dấu sự phát triển trong khoa học kỹ thuật đo đạc bản đồ.

Hệ thống hồ sơ địa chính đóng vai trò quan trọng trong công tác làm việc quản trị nhà nước về đất đai. Hồ sơ địa chính được lập qua những thời kỳ và lưu giữ ở những cấp hành chính khác nhau của toàn bộ những tỉnh, thành phố. Theo Điều 96 Luật đất đai năm 2013 “ Hồ sơ địa chính gồm có những tài liệu dạng giấy hoặc dạng số bộc lộ thông tin chi tiết cụ thể về từng thửa đất, người được giao quản trị đất, người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, những quyền và đổi khác quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất ” .

Thành phần của hồ sơ địa chính được quy định tại Điều 4, Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ địa chính (sau đây gọi tắt là Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT), cụ thể là:

Đối với địa phương xây dựng, vận hành cơ sở dữ liệu địa chính, hồ sơ địa chính được lập dưới dạng số và lưu trong cơ sở dữ liệu đất đai, gồm: Tài liệu điều tra đo đạc địa chính gồm bản đồ địa chính và sổ mục kê đất đai; Sổ địa chính; Bản lưu Giấy chứng nhận (GCN).

Đối với địa phương chưa thiết kế xây dựng cơ sở tài liệu địa chính, hồ sơ địa chính gồm : Tài liệu tìm hiểu đo đạc địa chính và Bản lưu GCN lập dưới dạng giấy và dạng số ( nếu có ) ; Sổ địa chính được lập dưới dạng giấy hoặc dạng số ; Sổ theo dõi dịch chuyển đất đai lập dưới dạng giấy .

Nguyên tắc và trách nhiệm lập, cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính được quy định rất rõ tại Điều 5, Điều 6 của Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT: Hồ sơ địa chính được lập theo từng đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn; Việc lập, cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính phải theo đúng trình tự, thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật đất đai; Nội dung thông tin trong hồ sơ địa chính phải bảo đảm thống nhất với GCN được cấp (nếu có) và phù hợp với hiện trạng quản lý, sử dụng đất.

Sở Tài nguyên và Môi trường có nghĩa vụ và trách nhiệm tổ chức triển khai triển khai việc đo đạc lập map địa chính, sổ mục kê đất đai ; Chỉ đạo thực thi chỉnh lý, update dịch chuyển map địa chính, sổ mục kê đất đai ; lập, update và chỉnh lý dịch chuyển tiếp tục sổ địa chính và những tài liệu khác của hồ sơ địa chính ở địa phương .
Văn phòng ĐK đất đai chịu nghĩa vụ và trách nhiệm triển khai chỉnh lý dịch chuyển liên tục so với map địa chính, sổ mục kê đất đai ; tổ chức triển khai lập, update, chỉnh lý dịch chuyển hồ sơ địa chính so với những tài liệu còn lại ; phân phối bản sao map địa chính, sổ địa chính, sổ mục kê đất đai ( dạng số hoặc dạng giấy ) cho Ủy Ban Nhân Dân cấp xã sử dụng .
Chi nhánh Văn phòng ĐK đất đai triển khai những việc làm như Văn phòng ĐK đất đai so với những đối tượng người dùng sử dụng đất, được Nhà nước giao quản trị đất, sở hữu tài sản gắn liền với đất thuộc thẩm quyền xử lý thủ tục ĐK .
Ủy Ban Nhân Dân cấp xã update, chỉnh lý bản sao tài liệu đo đạc địa chính, sổ địa chính, sổ mục kê đất đai để sử dụng ship hàng cho nhu yếu quản trị đất đai ở địa phương .

Việc lập hồ sơ địa chính được quy định như sau:

Bản đồ địa chính là thành phần của hồ sơ địa chính, thể hiện vị trí, ranh giới, diện tích các thửa đất và các đối tượng chiếm đất không tạo thành thửa đất; được lập để đăng ký đất đai, cấp GCN và các nội dung khác của quản lý nhà nước về đất đai. Bản đồ địa chính được lập cho từng đơn vị hành chính cấp xã theo đúng quy định tại Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về bản đồ địa chính (sau đây gọi tắt là Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT). Trong công tác lập và quản lý hồ sơ địa chính, bản đồ địa chính là một trong những tài liệu quan trọng, được sử dụng, cập nhật thông tin thường xuyên.

Sổ mục kê đất đai là sản phẩm của việc điều tra, đo đạc địa chính, để tổng hợp các thông tin thuộc tính của thửa đất và các đối tượng chiếm đất không tạo thành thửa đất gồm: số hiệu tờ bản đồ, số hiệu thửa đất, diện tích, loại đất, tên người sử dụng đất và người được giao quản lý đất để phục vụ yêu cầu quản lý đất đai. Sổ mục kê đất đai được lập để quản lý đất đai trong phạm vi đơn vị hành chính cấp xã và theo đúng quy định tại Điều 20 Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT.

Bản đồ địa chính, sổ mục kê đất đai được lập dưới dạng số và được lưu giữ trong cơ sở dữ liệu địa chính để sử dụng cho quản lý đất đai ở các cấp; được in ra giấy để sử dụng ở những nơi chưa hoàn thành việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính hoặc chưa có điều kiện để khai thác sử dụng bản đồ địa chính, sổ mục kê đất đai dạng số. Việc đo đạc lập, chỉnh lý bản đồ địa chính, sổ mục kê đất đai được thực hiện theo quy định về bản đồ địa chính của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Bản đồ địa chính phải chỉnh lý trong các trường hợp sau: có thay đổi số hiệu thửa đất; tạo thửa đất mới; thửa đất bị sạt lở tự nhiên làm thay đổi ranh giới thửa; thay đổi loại đất; đường giao thông, công trình thủy lợi theo tuyến, sông, ngòi, kênh, rạch suối được tạo lập mới hoặc có thay đổi về ranh giới; có thay đổi về mốc giới và đường địa giới hành chính các cấp, địa danh và các ghi chú thuyết minh trên bản đồ; có thay đổi về mốc giới hành lang an toàn công trình. Tất cả các trường hợp biến động phải chỉnh lý trên bản đồ địa chính thì đều phải chỉnh lý trên sổ mục kê để tạo sự thống nhất thông tin.

Sổ địa chính được lập để ghi nhận kết quả đăng ký, làm cơ sở để xác định tình trạng pháp lý và giám sát, bảo hộ các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, người được Nhà nước giao quản lý đất theo quy định của pháp luật đất đai. Sổ địa chính được lập ở dạng số, được Thủ trưởng cơ quan đăng ký đất đai ký duyệt bằng chữ ký điện tử theo quy định và được lưu giữ trong cơ sở dữ liệu địa chính. Sổ địa chính bằng giấy được lập để quản lý đất đai trong phạm vi đơn vị hành chính cấp xã và theo hướng dẫn của Thông tư số 09/2007/TT-BTNMT ngày 02/8/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính.

Sổ theo dõi biến động đất đai được lập cho từng đơn vị xã, phường, thị trấn để theo dõi các trường hợp có thay đổi trong sử dụng đất gồm thay đổi kích thước và hình dạng thửa đất, người sử dụng đất, mục đích sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất và làm cơ sở để thực hiện thống kê diện tích đất đai hàng năm.

Bản lưu Giấy chứng nhận:

Bản lưu GCN dạng số được quét từ bản gốc GCN trước khi trao cho người sử dụng đất để lưu trong cơ sở tài liệu địa chính. Địa phương chưa thiết kế xây dựng cơ sở tài liệu địa chính thì lập mạng lưới hệ thống bản lưu GCN ở dạng giấy, gồm có : GCN quyền sử dụng đất ; GCN quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở ; GCN quyền sở hữu đất, quyền sở hữu nhà ở và gia tài khác gắn liền với đất ; GCN quyền sử dụng đất, GCN quyền sở hữu khu công trình thiết kế xây dựng. Khi thiết kế xây dựng cơ sở tài liệu địa chính mà chưa quét bản gốc GCN thì quét bản lưu GCN ; khi thực thi ĐK dịch chuyển thì quét bản gốc GCN để sửa chữa thay thế .
Các GCN này là chứng thư pháp lý để nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tại, gia tài khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất. GCN và những văn bản tương quan tạo thành hồ sơ về thủ tục ĐK đất đai, gia tài gắn liền với đất. Quá trình sử dụng đất sản sinh văn bản liên tục đến GCN thì được update vào hồ sơ này .

Hồ sơ thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất

Hồ sơ thủ tục ĐK được tập hợp để tàng trữ và tra cứu khi thiết yếu gồm có : những sách vở do người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất nộp khi ĐK lần đầu và ĐK dịch chuyển ; Các sách vở do những cơ quan có thẩm quyền lập trong quy trình thực thi những việc làm của thủ tục ( kiểm tra hồ sơ ; công khai minh bạch hồ sơ và thẩm tra, xác định theo quan điểm phản ánh so với nội dung công khai minh bạch ( so với trường hợp ĐK lần đầu ) ; xác lập và thu nghĩa vụ và trách nhiệm kinh tế tài chính tương quan đến ĐK lần đầu và ĐK dịch chuyển theo lao lý ) .

1.5. Giá trị, ý nghĩa hồ sơ địa chính

Hồ sơ địa chính có giá trị thực tiễn và giá trị lịch sử. Đây là công cụ quan trọng để nhà nước quản lý đất đai. Thông qua tài liệu này để nhà nước thống kê, kiểm kê đất đai, nắm được số lượng diện tích đất, chất lượng các loại đất để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phù hợp cho các mục đích sử dụng đất và tiết kiệm đất đai. Đây là căn cứ để nhà nước thu các loại thuế liên quan đến sử dụng đất của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, là căn cứ để nhà nước bồi thường cho người sử dụng đất khi bị nhà nước thu hồi đất.

Hồ sơ địa chính cũng là cơ sở pháp lý để người sử dụng đất chuyển nhượng ủy quyền đất, cho thuê đất, thế chấp ngân hàng đất, góp vốn kinh doanh thương mại, thừa kế, khuyến mãi, cho … ; dùng làm dẫn chứng để xử lý những vụ tranh chấp, khiếu kiện về đất đai giữa những đối tượng người dùng tương quan .
Hồ sơ địa chính được sử dụng làm công cụ đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Để đấu tranh phòng chống tham nhũng đất đai, những cơ quan pháp lý đã sử dụng tài liệu địa chính để tìm hiểu, xác định những sai phạm tham nhũng về đất đai .
Ngoài ra, hồ sơ địa chính là nguồn sử liệu quan trọng ship hàng điều tra và nghiên cứu lịch sử dân tộc tăng trưởng kinh tế tài chính, xã hội những thời kỳ lịch sử vẻ vang của dân tộc bản địa .