thực hành nghề nghiệp 1 năm 2018 trường ufm – ThucHanhNgheNghiep1 – – StuDocu
Nội Dung Chính
THỰC HÀNH NGHỀ NGHIỆP 1
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY CỔ
PHẦN SỮA TH
Lời mở đầu
Marketing – Mix ( Marketing hỗn hợp ) là sự phối hợp hay sắp xếp những thành phần của marketing sao cho tương thích với thực trạng kinh doanh thương mại thực tiễn của mỗi doanh nghiệp nhằm mục đích củng cố vững chãi vị trí của doanh nghiệp trên thương trường. Nếu sự phối hợp hoạt động giải trí những thành phần marketing được uyển chuyển và đồng nhất thích ứng với trường hợp của thị trường đang diễn ra thì công cuộc kinh doanh thương mại của doanh nghiệp sẽ trôi chảy, hạn chế sự Open những năng lực rủi ro đáng tiếc và do đó tiềm năng sẽ đạt được doanh thu tối đa. Marketing – Mix hầu hết hoàn toàn có thể quyết định hành động đến 70 % sự thành bại của một kế hoạch. Trong 4P ( Product, Price, Place, Promotion ) thì Product – kế hoạch loại sản phẩm có ý nghĩa rất lớn so với sự thành công xuất sắc của doanh nghiệp. Nó là nền tảng xương sống của kế hoạch chung marketing. Chiến lược loại sản phẩm là vũ khí sắt bén nhất trong cạnh tranh đối đầu trên thị trường. Chiến lược mẫu sản phẩm giúp doanh nghiệp xác lập phương hướng góp vốn đầu tư, phong cách thiết kế mẫu sản phẩm tương thích thị hiếu, hạn chế rủi ro đáng tiếc, chỉ huy thự hiện những P. còn lại trong marketing hỗn hợp. Tầm quan trọng của kế hoạch loại sản phẩm so với doah nghiệp là rất lớn vì thế tôi quyết định hành động chọn đề tài “ Phân tích kế hoạch mẫu sản phẩm của Công ty Cổ phần sữa TH so với mẫu sản phẩm sữa tươi tiệt trùng TH True Milk ” cho bài báo cáo giải trình thực hành nghề nghiệp 1 của mình .
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng với
nền kinh tế thế giới. Do đó, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước
diễn ra ngày càng gay gắt. Trong đó sữa là ngành có môt thị trường vô cùng rộng lớn
trên phương diện là thức uống cần thiết của con người.
Với hơn 90 triệu dân, cơ cấu dân số trẻ, thu nhập bình quân đầu người có xu
hướng tăng, thị trường Việt Nam thực sự là miếng bánh béo bở cho các hãng sữa.
Cùng với sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sản xuất và chế biến sữa trong nước
với các thương hiệu sữa nhập ngoại làm cho ngành sữa Việt Nam đứng trước những
thách thức lớn và cũng là cơ hội để phát triển và chiếm lĩnh thị trường. Không những
thế ngày nay người tiêu dùng ngày càng thông minh và khó tính hơn khi lựa chọn
những thương hiệu, những sản phẩm phục vụ cho đời sống.
Nhận thấy được thị trường sữa đầy tiềm năng. Năm 2012 bà Thái Hương quyết
định bước chân vào ngành sữa cùng tuyên bố táo bạo: “ Tôi không có đối thủ” với
sản phẩm sữa “ sạch” TH True Milk. Thực sự là vậy bởi ở thời điểm bấy giờ các loại
sữa uống trên thị trường chỉ đơn giản là nhập nguyên liệu từ nước ngoài về pha chế
chứ không phải là sữa tươi nguyên chất như TH True Milk. Khi sữa tươi TH True
Milk thâm nhập vào thị trường sữa Việt Nam được xem là “ sinh sau đẻ muộn” so với
cái thương hiệu nổi tiếng như Vinamilk, Dutch Lady,.. Không vì vậy mà TH true
Milk bị mờ nhạt so với các đối thủ lớn, chỉ sau bảy năm thành lập thương hiệu sữa
sạch TH True Milk được người Việt nhắc đến với đầy niềm tự hào.
Để đạt được thành công như ngày nay hiệu quả hoạt động marketing mà tập đoàn
TH đã thực hiện với sản phẩm sữa sạch TH True milk là vô cùng quan trọng và tất
yếu. Bài nghiên cứu được thực hiện để phân tích thực trạng chiến lược sản phẩm mà
TH True Milk đang sử dụng nhằm làm rõ những ưu thế và hạn chế của Công ty TH.
2. Mục tiêu nghiên cứu
– Hệ thống hóa lý thuyết về chiến lược sản phẩm trong Marketing.
– Nắm được tổng quan về ngành sữa tại thị trường Việt Nam.
– Phân tích chiến lược sản phẩm của Công ty Cổ phần sữa TH đối với sản phẩm
sữa tươi TH True Milk.
– Mối quan hệ của chiến lược sản phẩm với chiến lược giá, chiến lược phân phối
và chiến lược chiêu thị trong Marketing – Mix.
– Nhận xét và đề ra các biện pháp nâng cao hiệu quả chiến lược.
3. Nội dung nghiên cứu
– Cơ sở lý luận về chiến lược sản phẩm trong Marketing.
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MARKETING
1 Tổng quát Marketing
Marketing đã xuất hiện từ năm 1650 ở Nhật dưới hình thức sơ khai, một thương
gia người Nhật họ Mitsui đã ghi chép lại thông tin và ý kiến của khách hàng đối với
từng món hàng để cải tiến việc bán hàng cho phù hợp nhu cầu của khác hàng.
Đầu thế kỷ 19 (1809 – 1884) Cyrus H và Mc Lormick ( Công ty International
Harvester) là những người đấu tiên ở phương Tây bắt đầu nghiên cứu một cách có hệ
thống về Marketing.
Đầu thế kỉ 20 các nhà kinh tế đã hoàn thiện cơ sở lý luận của Marketing. Đồng
thời đưa Marketing vào giảng dạy tại các trường đại học ở Mỹ.
Năm 1910, Ralph Star Butler đã dạy một khóa “Phương pháp Marketing” ở
trường Đại học Tổng hợp Wisconsin (Mỹ). Marketing thực sự phát triển sau cuộc
khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1932)
Đặc biệt sau chiến tranh thế giới thứ 2. Việc nghiên cứu và ứng dụng marketing
trong doanh nghiệp đã có ở miền Nam Việt Nam từ trước những năm 1975.
Sau ngày thống nhất đất nước năm 1975, giai đoạn 1975 – 1985à nước độc
quyền trên mọi lĩnh vực, cạnh tranh không tồn tại nên hầu như không có khái niệm
marketing và marketing không có chỗ đứng trong nền kinh tế và tại các doanh
nghiệp.
Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986), với chủ trương
chuyển đổi cơ chế quản lý sang cơ chế thị trường dưới sự điều tiết của Nhà nước,
Marketing đã được nghiên cứu.
Năm 1989 Marketing được đưa vào giảng dạy tại một số Trường ĐH và dần dần
phổ biến và ứng dụng rộng rải cho đến ngày hôm nay.
1.1 Khái niệm và các quan điểm về Marketing
Khái niệm Marketing xuất hiện từ đầu thế kỷ 20 và được xem là một khâu trông
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Tuy nhiên vẫn còn nhiều người nhầm lẫn khi đồng nhất giữa Marketing và bán
hàng. Cách nghĩ này chỉ mới mô tả một phần khía cạnh của hoạt động Marketing. Vì
bán hàng chỉ tập trung vào số lượng sản phẩm bán còn Marketing là tạo ra sự thỏa
mãn nhu cầu khách hàng.
Hình 1 : Sự khác nhau giữa quan điểm bán hàng và quan điểm Marketing Nguồn : Marketing cơ bản Ngô Thị Thu 2011 Để hiểu rõ khái niệm Marketing ta sẽ xem xét những quan điểm về Marketing :
– Theo Marketing Glossary ( SWISS – AIT – Vietnam Management Development
Programme): “ Marketing là quá trình phát hiện ra các nhu cầu và thỏa mãn các nhu
cầu đó bằng những sản phẩm hoặc dịch vụ phù hợp thông qua việc xây dựng và thực
hiện chính sách sản phẩm, chính sách giá, chính sách phân phối và chính sách xúc
tiến bán hàng”.
– Theo Philip Kotler một chuyên gia hàng đầu về Marketing ở Mỹ, trong nhiều lần
xuất bản cuốn sách nổi tiếng “ Marketing Management” đã đưa ra nhận định khái
nhau về khái niệm này, trong lần xuất bản thứ 5 (1985) ông viết: “ Marketing là sự
phân tích, tổ chức, kế hoạch hóa và kiểm tra những khả năng thu hút khách hàng của
một công ty cũng như chính sách và hoạt động với quan điểm thỏa mãn nhu cầu và
mong muốn của nhóm khách hàng đã lựa chọn”.
– Theo hiệp hội Marketing Mỹ (1960): “Marketing là toàn bộ hoạt động kinh
doanh nhằm hướng các luồng hàng hóa và dịch vụ mà người cung ứng đưa ra về phía
người tiêu dùng và người sử dụng”.
– Theo John Crighton, một chuyên gia kinh tế Mỹ: “ Marketing là quá trình cung
cấp đúng sản phẩm, đúng kênh, đúng luồng, đúng thời gian và đúng vị trí”.
– Theo I. Ansoff, một chuyên gia nghiên cứu marketing của LHQ, một khái
niệm được nhiều nhà nghiên cứu hiện nay cho là khá đầy đủ, thể hiện tư duy
marketing hiện đại và đang được chấp nhận rộng rãi: “Marketing là khoa học điều
hành toàn bộ hoạt động kinh doanh kể từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ, nó căn cứ
vào nhu cầu biến động của thị trường hay nói khác đi là lấy thị trường làm định
hướng”.
– STP (Segmentation, targeting, positioning) Chiến lược S-T-P : Sau khi đã có
những thông tin thị trường ta tiến hành phân khúc thị trường (Segmentation) 10 theo
những tiêu thức như nhân khẩu học, phong cách lối sống, hành vi tiêu dùng ..
khi đã có những khúc thị trường rõ ràng các nhà Marketing tiến hành chọn thị trường
mục tiêu(Targeting) phù hợp với năng lực của doanh nghiệp. Cuối cùng là định vị sản
phẩm (Positioning) của mình để tạo sự khác biết với các sản phẩm cạnh tranh khác
trên thị trường và để khách hàng có thể nhận biết được lợi ích then chốt từ sản phẩm.
– MM (Marketing mix) Chiến lược Marketing mix: Sau khi đã định vị sản phẩm
vào thị trường mục tiêu các Doanh nghiệp tiếp tục xây dựng chiến lược Marketing
tổng hợp, theo 4 chiến lược cơ bản sau: Sản phẩm, Giá cả, Phân phối, Chiêu thị.
– I (Implementation) Triển khai thực hiện chiến lược Marketing : Đây là quá trình
đưa những chiến lược đã xây dựng vào trong chính doanh nghiệpức là doanh
nghiệp bắt đầu xây các chiến thuật – chương trình hành động cụ thể, bố trí vật lực-tài
lực, liên hệ nguồn nguyên liệu,..ằm cụ thể hóa chiến lược theo mục tiêu đã được
đề ra
– C (control) Kiểm tra, đánh giá : Bước cuối cùng là tổng hợp kết quả đạt được.
Thu thập thông tin phản hồi từ thị trường, so sánh đối chiếu với mục tiêu, nhiệm vụ
đề ra xem có hoàn thành hay không. Từ đó phân tích nguyên nhân thất bại, điểm
mạnh điểm yếu của chiến lược Marketing và rút ra bài học kinh nghiệm cho các
chiến lược sau. Bên cạnh đó công tác kiểm tra còn giúp Doanh nghiệp biết họ đã đi
đúng hướng chưa hay đi lệch mục tiêu, từ đó đề ra những biện pháp cụ thể để điều
chỉnh hoạt động theo mục tiêu đề ra.
1.1 Nguyên tắc và mục tiêu của Marketing
1.1.3 Nguyên tắc của marketing
Marketing có rất nhiều nguyên tắc, Capond & Hulbert đã đề nghị các nguyên tắc
cơ bản nhất của marketing gồm:
– Nguyên tắc chọn lọc: nguyên tắc mang tính chủ đạo trong marketing. Doanh
nghiệp cần xác định rõ thị trường, khách hàng mục tiêu chứ không phải toàn bộ thị
trường.
– Nguyên tắc tập trung: doanh nghiệp tập trung mọi nổ lực để đáp ứng thị trường
mục tiêu đã chọn để nâng cao hiệu quả hoạt động.
– Nguyên tắc giá trị khách hàng: thỏa mãn nhu cầu của khách hàng cả về chức
năng cũng như cảm xúc, nghĩa là khách hàng cảm nhận được giá trị của sản phẩm,
dịch vụ mang lại.
– Nguyên tắc lợi thế khác biệt hay dị biệt: : khách hàng phải nhận thấy rằng những
lợi ích đó khác biệt và mang nét đặc thù riêng so với các thương hiệu khác.
– Nguyên tắc phối hợp: : marketing không phải là công việc rieng của từng bộ
phận mà là công việc của tất cả các thành viên trong tổ chức, để cùng nhau tạo ra
khách hàng thông qua việc tạo ra giá trị.
– Nguyên tắc quá trình: thị trường luôn biến động, những gì tạo ra giá trị cho khách
hàng trong ngày hôm nay có thể sẽ thay đổi trong ngày mai. Vì vậy phải xác định
marketing là một quá trình (process) chứ không phải là một biến cố, sự kiện (event).
1.1.3 Mục tiêu của Marketing
– Tối đa hóa tiêu thụ: : Mục tiêu maketing là tạo điều kiện dễ dàng kích thích
khách hàng tối đa hóa việc tiêu dùng, điều này dẫn tới gia tăng năng suất sản lượng,
giúp doanh nghiệp phát triển sản xuất và xã hội có nhiều hàng hóa, dịch vụ. Mục tiêu
này dựa trên một giả thiết là khi con người mua sắm và tiêu dùng nhiều hơn thì họ
cảm thấy hạnh phúc hơn.
– Tối đa hóa sự thỏa mãn của khách hàng: : Quan điểm này cho rằng mục đích của
hệ thống marketing là làm cho người tiêu thụ được thỏa mãn tối đa chứ không phải
bản thân sự tiêu thụ. Sự thỏa mãng này là tiền đề cho việc mua lặp lại và sự trung
thành của khách hàng đối với nhãn hiệu, sự tin cậy, tín nhiệm đối với nhà sản xuất.
– Tối đa hóa sự lựa chọn của khách hàng: cung cấp cho khách hàng sự đa dạng,
phong phú vê chủng loại, về chất lượng, giá trị của sản phẩm hay dịch vụ phù hợp
với những nhu cầu cá biệt, thường uyên thay đổi của khách hàng
– Tối đa hóa chất lượng cuộc sống: Thông qua việc cung cấp cho xã hội những sản
phẩm,dịch vụ có giá trị, giúp người tiêu dùng và xã hội thỏa mãn ngày càng đầy đủ
hỏn, cao cấp hơn, và hướng tới mục tiêu cuối cùng là tối đa hóa chất lượng cuộc
sống.
1.1 Vai trò và chức năng của Marketing
1.1.4 Vai trò của Marketing
- Hướng dẫn các doanh nghiệp nghệ thuật phát hiện nhu cầu khách hàng cũng như
nghệ thuật làm hài lòng khách hàng, marketing định huowsng cho hoạt động kinh
doanh và tạo thế chủ động cho doanh nghiệp. - -* Cầu nối giúp doanh nghiệp giải quyết tốt các mối quan hệ và dung hòa lợi ích
của doanh nghiệp với lợi ích người tiêu dùng và xã hội. - -* Công cụ cạnh tranh giúp doanh nghiệp xác lập vị trí, uy tín của mình trên thị
trường. - -* “Trái tim” của mọi hoạt động trong doanh nghiệp, các quyết định khác về công
nghệ, tài chính, nhân lựa đều phụ thuộc phần lớn vào các quyết định marketing. - 1.1.4 Chức năng của Marketing*
Các thành tố của Marketing Mix là :
Hình 1 : Các thành tố của marketing mix Nguồn : Marketing cơ bản Ngô Thị Thu 2011
– Sản phẩm ( Product): những thứ mà doanh nghiệp đã xung cấp cho thị trường,
quyết định sản phẩm bao gồm: chủng loại, kích cỡ sản phẩm, chất lượng, thiết kế,
bao bì, nhãn hiệu, chức năng, dịch vụ,.ằm đáp ứng nhu cầu khách hàng.
– Giá cả ( Price): khoản tiền mà khách hàng bỏ ra để sở hữu và sử dụng sản
phẩm/dịch vụ, quyết định về giá bao gồm: phương pháp định giá, mức giá, chiến
thuật điều chỉnh giá theo sự biến động của thị trường và người tiêu dùng.
– Phân phối ( Place): hoạt động nhằm đưa sản phẩm đến tay khách hàng, quyết
định phân phối gồm các quyết định: lựa chọn, thiết lập kênh phân phối, thiết lập các
qan hệ và duy trì quan hệ với các trung gian, vận chuyển, bảo quản dự trữ hàng
hóa…
– Chiêu thị/Truyền thông marketing : hoạt động nhằm thông tin sản phẩm, thuyết
phục về đặc điểm sản phẩm, xây dựng hình ảnh doanh nghiệp và các chương trình
khuyến khích tiêu thụ.
1 Quan điểm Marketing – Mix nhìn từ góc độ 4 Cs của khách hàng
Marketing – Mix cũng được hiểu một cách đơn giản thông qua mô hình 4P đó là
quá trình sản xuất đúng sản phẩm, đúng giá cả, đúng kênh phân phối và đúng phương
thức chiêu thị đến thị trường và khách hàng mục tiêu.Ở góc độ khách hàng, khi mua
sản phẩm họ sẽ cí một cách nhìn Marketing – Mix theo hướng riêng, được thể hiện
qua mô hình 4C
Hình 1 Mô hình 4P của McCarthy (1960) và 4C của Robert Lautenborn
(1990)
Nguồn: Marketing căn bản TS Ngô Thị Thu 2011
1 Khái niệm sản phẩm
1.4 Khái niệm về sản phẩm
– Sản phẩm là những gì mà doanh nghiệp cung cấp, gắn liền với việc thỏa mãn nhu
cầu và ước muốn của khách hàng nhằm thu hút sự chú ý, mua sắm hay sử dụng.
– Sản phẩm của mỗi doanh nghiệp thường có những điểm khác biệt về yếu tố vật
chất và tâm lý ( tùy thuộc vào đặc điểm cảu ngành hàng, quan điểm của mỗi doanh
nghiệp mà họ tập trung vào những yếu tố này theo cách thức khác nhau.
– Các cấp độ của sản phẩm:
Hình 1 : Các Lever của mẫu sản phẩm Nguồn : Marketing can bản Ngô Thị Thu 2011
Sản phẩm tiêu dùng: được sử dụng cho mục đích tiêu dùng cá nhân
Sản phẩm tư liệu sản xuất: phụ vụ cho nhu cầu sản xuất và các hoạt
động khác ở tổ chức.
1.4.2 Sản phẩm tư liệu sản xuất
– Nguyên liệu và cấu kiện: được sử dụng thường xuyên, giá trị được tính vào quá
trình sản xuất sản phẩm
– Tài sản cố định: gồm những công trình cố định và trang thiết bị
– Vật tư phụ và dịch vụ: hỗ trợ cho quá trình hoạt động của doanh nghiệp.
1 Chiến lược sản phẩm
1.5 Khái niệm chiến lược sản phẩm
Chiến lược sản phẩm là định hướng và quyết định liên quan đến xản xuất và kinh
doanh sản phẩm trên cơ sở đảm bảo thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và các mục
tiêu marketing của doanh nghiệp.
1.5 Vai trò của chiến lược sản phẩm
– Công cụ cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp.
– Thực hiện tốt chiến lược sản phẩm thì các chiến lược định giá, phân phối và
chiêu thị mới triển khai và phối hợp một cách hiệu quả.
– Yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp thực hiện tốt các mục tiêu marketing được
đặt ra trong từng thời kỳ.
1.5 Nội dung chiến lược sản phẩm
1.5.3 Kích thước tập hợp sản phẩm
Khái niệm
– Là số loại sản phẩm cùng với số lượng chủng loại và mẫu mã sản phẩm. Gồm các
số đo:
Chiều rộng của tập hợp sản phẩm: số loại sản phẩm mà doanh
nghiệp cung ứng. Được xem là danh mục sản phẩm kinh doanh và
thể hiện mức độ đa dạng hóa sản phẩm.
Chiều dài của tập hợp sản phẩm: mỗi loại sản phẩm có nhiều chủng
loại khác nhau, số lượng chủ loại quyết định độ dài của tập sản
phẩm hay còn gọi là dòng sản phẩm.
Chiều sâu của tập hợp sản phẩm: mẫu mã sản phẩm gắn với từng
chủng loại sản phẩm.
Các quyết định liên quan đến kích thước tập hợp sản phẩm
– Quyết định về danh mục sản phẩm kinh doanh
- Hạn chế danh mục sản phẩm kinh doanh: phân tích thị trường và khả
năng của doanh nghiệp để loại các sản phẩm có ít hoặc không hiệu quả.
Mở rộng sản phẩm: mở rộng lĩnh vực kinh doanh hoặc danh mục sản
phẩm kinh doanh.
– Quyết định về dòng sản phẩm
Thu hẹp dòng sản phẩm: thu hẹp một số chủng loại sản phẩm không
đảm bảo thỏa mãn nhu cầu khách hàng và không đem lại lợi nhuận cho
doanh nghiệp.
Mở rộng dòng sản phẩm kinh doanh: tăng khả năng lựa chọn sản phẩm.
Hiện đại hóa dòng sản phẩm: loại trừ chủng loại sản phẩm lạc hậu, cải
tiến và giới thiệu sản phẩm mới.
1.5.3 Nhãn hiệu sản phẩm
Khái niệm
– Nhãn hiệu sản phẩm là tên gọi, thuật ngữ, dấu hiệu, biểu tượng hoặc tổng hợp
những yếu tố trên nhằm xác nhận sản phẩm/dịch vụ của một doanh nghiệp và phân
biệt với sản phẩm của đối thủ.
– Nhãn hiệu sản phẩm có thể nói lên:
Đặc tính sản phẩm
Lợi ích sản phẩm mang lại
Nhân cách và cá tính của người sử dụng.
Cam kết và quan điểm của doanh nghiệp.
Giá trị tài sản nhãn hiệu ( Brand equity)
– Các nhãn hiệu có giá trị khác nhau trên thị trường. Có những nhãn hiệu người
mua hoàn toàn không biết đến. Một số nhãn hiệu người tiêu dùng có thể nhận biết,
thậm chí rất ưu thích. Những nhãn hiệu nỏi tiếng và có uy tín, mức độ trung thành
với nhãn hiệu cao. Tất cả những yếu tố này tạo nên giá trị của nhãn hiệu.
– Giá trị nhãn hiệu là một tài sản có giá trị lớn, tuy nhiên giá trị này sẽ thay đổi tùy
thuộc vào uy tín nhãn hiệu và khả năng marketing của doanh nghiệp đối với nhãn
hiệu đó.
Các quyết định liên quan đến nhãn hiệu
– Quyết định về cách đặt tên nhãnĐặt tên theo từng sản phẩm riêng bi: Mỗi sản
phẩm sản xuất
ra đều được đặt dưới những tên gọi khác nhau. ệt
Đặt một tên cho tất cả sản phẩm.
Đặt tên sản phẩm theo từng nhóm hàng.
Đảm bảo đặc thù, mẫu mã, tác dụng và độ an toàn và đáng tin cậy của loại sản phẩm. Một loại sản phẩm có phong cách thiết kế tốt không riêng gì biểu lộ ở hình thức của nó mà còn giúp cho người mua cảm thấy bảo đảm an toàn, sử dụng thuận tiện, thuận tiện, hưởng được những dịch vụ tốt, doanh nghiệp đạt hiệu suất cao cao trong quy trình sản xuất, kinh doanh thương mại mẫu sản phẩm .
1.5.3 Thiết kế bao bì sản phẩm
– Thiết kế bao bì là những hoạt động liên quan đến việc thiết kế và sản xuất những
bao gói hay đồ đựng sản phẩm.
– Bao bì thường có 3 lớp:
Bao bì tiếp xúc: Lớp bao bì trực tiếp đựng hoặ gói sản phẩm.
Bao bì ngoài: Nhằm bảo vệ lớp bao bì tiếp xúc, đảm bảo an toàn cho
sản phẩm và gia tăng tính thẩm mỹ cho bao bì.
Bao bì vận chuyển: Được thiết kế để bảo quản, vận chuyển sản phẩm
thuận tiện.
– Bao bì là công cụ đắc lực trong hoạt động marketing với những chức năng cơ bản
sau:
Bao bì cung cấp cho khách hàng thông tin cần thiết về sản phẩm như
thông tin về nhà sản xuất, hướng dẫn sử dụng, thành phần sản phẩm,
thời hạn sử dụng,…
Bảo vệ sản phẩm tránh hư hỏng, biến chất trong quá trình vận chuyển,
tiêu thụ sản phẩm.
Thể hiện hình ảnh về nhãn hiệu, công ty và ý tưởng định vị sản phẩm
Tác động vào hành vi khách hàng thông qua hình thức, màu sắc và
thông tin trên bao bì.
1.5.3 Dịch vụ hỗ trợ sản phẩm
– Ảnh hưởng đến nhận thức của khách hàng về sản phẩm của doanh nghiệp. Đôi
khi doanh nghiệp còn lựa chọn hình thức này để cạnh tranh với đối thủ trên thị
trường. Một số dịch vụ hỗ trợ sản phẩm như là:
Bảo hành, bảo trì và sửa chữa sản phẩm.
Chuyên chở, lắp đặt sản phẩm
Cung ứng chi tiết và phụ tùng thay thế
Tư vấn tiêu dùng
Sử dụng thử sản phẩm
– Các nhà sản xuất có thể trực tiếp cung cấp dịch vụ hoặc chuyển dần cho những
nhà phân phối và bán hàng chính thức của mình để đảm bảo cung ứng kịp thời các
dịch vụ hỗ trợ cho khách hàng.
1.5.3 Phát triển sản phẩm mới
– Phát triển sản phẩm mới là một vấn đề cực kỳ quan trọng trong chiến lược sản
phẩm của doanh nghiệp. Để duy trì và phát triển doanh nghiệp phải có những chương
trình nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới nhằm thỏa mãn nhu cầu và thị hiếu của
khách hàng.
– Phát triển sản phẩm mới là yêu cầu cần tiết đối với doanh nghiệp nhưng lại
mang nhiều rủi ro, thậm chí thất bại. Do đó để giảm bớt những rủi ro doanh nghiệp
thường xem xét quá trình phát triển mới qua 6 giai đoạn:
Hình 1 : Quá trình tăng trưởng loại sản phẩm mới Nguồn : Tổng hợp từ Marketing cơ bản ĐH Tài Chính-Marketing
– Giai đoạn hình thành và lựa chọn ý tưởng sản phẩm: Hình thành ý tưởng về sản
phẩm mới là giai đoạn đầu tiên của quá trình thiết kế và phát triển sản phẩm mới. các
doanh nghiệp tìm kiếm ý tưởng sản phẩm qua các nguồn:
Khách hàng:Một số ý tưởng về sản phẩm mới xuất phát từ việc
quan sát, lắng nghe khách hàng, xu hướng tiêu dùng hoặc những
nhận xét, phàn nàn của họ về sản phẩm. Qua thu thập thông tin và
nghiên cứu hành vi khách hàng, doanh nghệp phát hiện những nhu
cầu mới làm cơ sở cho ý tưởng sản phẩm mới.
Nguồn thông tin nội bộ: Những ý tưởng về sản phẩm mới thường do
bộ phận nghiên cứu và phát triển trong nội bộ doanh nghiệp nghiên
cứu và đề xuất, hoặc đôi khi từ các bộ phận chức năng khác như bộ
phận bán hàng, bộ phận sản xuất,..
Các đối thủ cạnh tranh: qua thu thập thông tin về đối thủ csnhj trnh
và sản phẩm của họ.
nhận, doanh nghiệp sẽ triển khai phương án tổ chức triển khai sản xuất, kiến thiết xây dựng chương trình marketing trình làng mẫu sản phẩm mới Để tung loại sản phẩm ra thị trường có hiệu suất cao, doanh nghiệp cần xem xét những yếu tố sau : Thời điểm tung mẫu sản phẩm mới ra thị trường. Địa điểm ra mắt mẫu sản phẩm. Thị trường tiềm năng của mẫu sản phẩm Chiến lược marketing tăng trưởng mẫu sản phẩm mới .
1.5.3 Chu kỳ sống của sản phẩm
– Chu kỳ sống của sản phẩm mô tả sự biến đổi của sản lượng và doanh số trong
các giai đoạn khác nhau quả quá trinh fkinh doanh sản phẩm kể từ lúc sản phẩm được
giới thiệu đến khi rút lui khỏi thị trường.
– Về cơ bản chu kỳ sống của sản phẩm trải qua bốn giai đoạn:
Hình 1 : Chu kỳ sống mẫu sản phẩm Nguồn : Marketing cơ bản Ngô Thị Thu 2011 Giai đoạn tung mẫu sản phẩm vào thị trường : là thời gian mức tiêu thụ tăng chậm theo mức độ tung hàng ra thị trường. Do tốn kém nhiều trong việc tung hàng ra thị trường nên quá trình này chưa có lãi. Giai đoạn tăng trưởng : thời kỳ sản phẩm & hàng hóa được thị trường gật đầu nhanh gọn và doanh thu cũng tăng nhanh. Giai đoạn chín muồi : thời kỳ nhịp độ tiêu thụ chậm dần do hầu hết người mua tiềm ẩn đã mua. Lợi nhuận không thay đổi hay giảm do phải tăng ngân sách cho việc bảo vệ sản phẩm & hàng hóa trước những đối thủ cạnh tranh cạnh tranh đối đầu. Giai đoạn suy thoái và khủng hoảng : thời kỳ có nét đặc trưng là mức tiêu thụ giảm nhanh và doanh thu giảm .
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Thị Trường






