Thị trường xe máy việt nam – Tài liệu text
Thị trường xe máy việt nam
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (434.83 KB, 22 trang )
Bạn đang đọc: Thị trường xe máy việt nam – Tài liệu text
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN
BÀI TẬP NHÓM
MÔN: CĂN BẢN KINH TẾ VI MÔ
ĐỀ TÀI
XE MÁY CUỘC CHIẾN CHIẾM LĨNH
THỊ TRƯỜNG
GIẢNG VIÊN: THS. NGUYỄN NGỌC QUÝ
NHÓM SINH VIÊN:
1. Nguyễn Xuân Thành. (K17KDN4)
2. Nguyễn Trần Phú. (K17QTH2)
3. Nguyễn Đức Huy. (K17QTH1)
4. Phùng Tấn Bi. (K17QTH3)
5. Trần Anh Quy. (K17QTM)
6. Phan Quang Thông. (K17QTC1)
NGÀY 19 THÁNG 11 NĂM 2012
1
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
1. Lý do lựa chọn đề tài: 2
2. Mục tiêu nghiên cứu: 2
I – Tổng quan về thị trường xe máy Việt Nam: 4
1. Nhu cầu tiêu thụ xe máy ở Việt Nam: 4
2. Các nhà cung cấp xe máy ở Việt Nam 6
2.1. Honda Việt Nam: 6
2.2. Yamaha Motor Việt Nam: 8
2.3. SYM: 10
2.4. Việt Nam Suzuki: 12
2.5. Các hãng cung cấp xe máy khác: 14
II – Đặc trưng của thị trường xe máy tại Việt Nam trong năm gần đây: 16
1. Đảo chiều ngoạn mục 16
2. Nguy cơ cung sớm vượt cầu 18
KẾT LUẬN 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
2
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài:
Hiện nay trên thị trường tồn tại rất nhiều phương tiện khác nhau để đáp ứng nhu
cầu đi lại của người tiêu dùng. Và chúng ta không thể không kể đến một phương
tiện phổ biến đó chính là xe máy. Đối với mọi người nói chung cũng như sinh viên
nói riêng, xe máy là một phương tiện đi lại được xem là thuận tiện nhất, tương đối
phù hợp về giá cả cũng như về hình thức.
Trong những năm gần đây, thị trường xe máy Việt Nam đã có sự thay đổi rất
lớn. Cụ thể là: sau khi công ty liên doanh Honda Việt Nam được thành lập và đi
vào hoạt động thì người tiêu dùng Việt Nam giờ đây đã có thể sử dụng những chiếc
xe máy được sản xuất ngay tên lãnh thổ Việt Nam. Nhận thấy nhu cầu sử dụng xe
máy của người dân Việt Nam là rất lớn, một số hãng sản xuất xe máy khác cũng đã
tiến hành liên doanh với Việt Nam để thành lập công ty liên doanh sản xuất xe máy
như: Việt Nam Suzuki, Yamaha Motor Việt Nam,… Bên cạnh đó, trong 5 năm trở lại
đây, thị trường xe máy Việt Nam thêm đa dạng bởi những chiếc xe máy Trung Quốc
được nhập khẩu cũng như được sản xuất ồ ạt tại Việt Nam mà chất lượng của
nó thì không kiểm soát được.
Người tiêu dùng Việt Nam giờ đây có thể tự do lựa chọn những sản phẩm xe
máy mà mình yêu thích. Nhưng bên cạnh đó, họ cũng đối diện với những chiếc xe
máy có chất lượng không tốt. Vì thế khi quyết định mua xe cho mình, ngoài việc
quan tâm đến giá cả, hình dáng, kích thước, màu sắc của xe thì còn một vấn đề nữa
cũng không kém phần quan trọng đó chính là dịch vụ hậu mãi – đặc biệt là dịch vụ
bảo hành. Nhận thấy tầm quan trọng cũng như để có thể nghiên cứu sâu hơn về ảnh
hưởng của dịch vụ bảo hành tới quyết định mua xe máy của người tiêu dùng nên tôi
đã quyết định lựa chọn đề tài.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
3
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là sẽ nghiên cứu xem ảnh hưởng hay tác động
của dịch vụ bảo hành tới quyết định mua xe máy của sinh viên đại học Kinh tế
Quốc dân. Nó góp phần cải thiện cũng như giúp đỡ các hãng cung cấp xe máy trên
thị trường Việt Nam nhận ra được vai trò quan trọng của dịch vụ bảo hành cũng như
sẽ cải tiến các dịch vụ bảo hành nhằm đem lại cho khách hàng nhiều lợi ích và thu
hút được nhiều khách hàng hơn.
4
NỘI DUNG
I – Tổng quan về thị trường xe máy Việt Nam:
1. Nhu cầu tiêu thụ xe máy ở Việt Nam:
Trong gần 20 năm qua, nhờ những nỗ lực và quyết tâm của toàn Đảng và toàn
dân ta trong việc thực hiện các chủ trương và chính sách đúng đắn của Đảng, nền
kinh tế Việt Nam đã và đang đạt được những thành tựu quan trọng và có tính bước
ngoặt trên con đường xây dựng và đổi mới đất nước. Việc thực hiện chính sách mở
cửa hội nhập với nền kinh tế của các nước trong khu vực và trên thế giới đã làm cho
nền kinh tế Việt Nam phát triển và đạt được những thành tựu đáng kể. Tốc độ
tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân đạt trên 7%/năm trong
nhiều năm, đặc biệt là giai đoạn 1991 – 1995 (đạt trên 8,2%/năm). GDP bình
quân đầu người giai đoạn 1996 – 2000 là 462 USD, ước thực hiện giai đoạn 2001 –
2005 là 600 USD. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giai đoạn 2001 –
2005 cả cấp mới và bổ sung đạt 15 – 16 tỷ USD, tăng gấp 1,5 lần so với giai đoạn
1996 – 2000.
Bên cạnh những thành tựu về kinh tế, sau 20 năm tiến hành đổi mới, Việt Nam
đã đạt được một số thành tựu về xã hội, có tác động thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc mục tiêu giảm một nửa số người nghèo và một nửa
số người dân bị đói theo chuẩn quốc tế so với những năm đầu thập niên 90 chỉ nửa số
người dân bị đói theo chuẩn quốc tế so với những năm đầu thập niên 90 chỉ chi tiêu
của hộ gia đình, đã được cải thiện rõ rệt. Tính chung cả nước, chi tiêu hộ gia đình
theo giá so sánh thời kì 2003 – 2004 đạt 328000 đồng, tăng bình quân 12,1%/năm.
Như vậy sự phát triển của nền kinh tế đã có ảnh hưởng trực tiếp tích cực đến đời
sống của người dân. Đời sống của người dân từng bước được cải thiện và nâng
cao rõ rệt.
5
Cũng như những nhu cầu tự nhiên như ăn, mặc, ở thì một nhu cầu khác cũng
không thể thiếu được đối với con người trong cuộc sống hiện nay đó là phương tiện
đi lại hay còn gọi là phương tiện giao thông. Và để đáp ứng đựơc nhu cầu đó của
người dân thì hàng loạt các phương tiện giao thông đã đựơc nghiên cứu, sản xuất và
đưa vào sử dụng như ô tô, xe máy, xe đạp điện…
Nếu như ở Việt Nam khoảng một hai thập niên trước đây, xe máy mang tính
thiểu số, được vị nể với tư cách là một sản phẩm tân kỳ, một tài sản lớn hơn
là một phương tiện giao thông thì trong những năm gần đây, chiếc xe máy đã trở nên
phổ biến hơn và hầu như trở thành phương tiện giao thông chính của đại đa số
người dân. Hiện nay, có những hộ gia đình có 1, 2 thậm chí có đến 3, 4 chiếc xe máy
trong nhà.
Trong cơ cấu tham gia giao thông đô thị ở Việt Nam, các số liệu cho biết: tổng
lượng xe máy tại việt nam chiếm khoảng 33,5 triệu chiếc. Chỉ riêng thành phố Hồ
Chí Minh đã có gần 5 triệu xe máy (4.883.753 chiếc), ở Hà Nội thì con số này
khoảng gần 2 triệu xe máy, còn không kể đến một số lượng xe không nhỏ ở các vùng
khác. Ngoài ra, đối với thu nhập bình quân của người Việt Nam hiện nay, xe máy là
sự lựa chọn phù hợp nhất – nó có giá cả tương đối phù hợp (nhiều xe máy
của Trung Quốc còn có giá rẻ).
Nhận biết được nhu cầu khổng lồ về xe máy như vậy nên trong thời gian qua đã
có nhiều nhà cung cấp trên thị trường xe máy Việt Nam. Các hãng xe máy nổi
tiếng trên thế giới như: Honda, SYM, Suzuki, Yamaha… đã tiến hành liên doanh với
Việt Nam để sản xuất và cung cấp cho người tiêu dùng Việt Nam. Thêm vào đó,
trong 5 năm trở lại đây, thị trường xe máy đã đa dạng nay còn đa dạng hơn bởi những
chiếc xe máy Trung Quốc được nhập khẩu cũng như được sản xuất ồ ạt tại Việt Nam.
Sản phẩm xe máy Trung Quốc với ưu thế là giá rẻ, chủng loại phong phú đã thực sự
phù hợp với người tiêu dùng Việt Nam có nhu cầu sử dụng xe máy song thu nhập
6
thấp hoặc những người dân có nhu cầu đổi mới kiểu dáng xe nhưng không có
đủ tiền…
Qua phân tích trên ta thấy nhu cầu sử dụng xe máy trên thị trường Việt Nam là
rất lớn. Trước thực trạng đó, có rất nhiều cơ hội cũng như thách thức để có thể tiếp
tục tạo dựng và duy trì lòng tin của người tiêu dùng Việt Nam đối với các hãng sản
xuất xe máy về những sản phẩm mà công ty đã và đang tiến hành sản xuất – lắp ráp.
2. Các nhà cung cấp xe máy ở Việt Nam
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một vấn đề không thể tránh khỏi đối
với bất kỳ một doanh nghiệp nào. Cho dù doanh nghiệp đó đang tiến hành kinh doanh
ở bất kỳ một lĩnh vực nào thì vấn đề cạnh tranh luôn song hành với sự tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp đó. Đối với thị trường xe máy Việt Nam cũng vậy. Trong
những năm gần đây, trên thị trường xe máy Việt Nam có rất nhiều nhà cung cấp. Họ
có những điểm mạnh của riêng mình và đang từng bước khắc họa, khẳng định uy
tín của mình trên thị trường xe máy Việt Nam. Tiêu biểu đó là sự ra đời của các
công ty liên doanh xe máy. Sản phẩm của các công ty liên doanh này rất đa dạng và
phong phú.
2.1. Honda Việt Nam:
Công ty Honda Việt Nam là liên doanh giữa công ty Honda Motor Nhật Bản,
công ty Asian Honda Motor Thái Lan và Tổng công ty máy động lực và máy
nông nghiệp Việt Nam, được thành lập theo giấy phép đầu tư số 1521/GP cấp ngày
22 tháng 3 năm 1996. Từ đó đến nay Honda Việt Nam luôn được người tiêu dùng
Việt Nam biết đến với uy tín và chất lượng của một tập đoàn sản xuất xe máy lớn
nhất trên thế giới… Sản phẩm ban đầu là những chiếc xe Honda Cub 50, Cub 70,
Super Cub,… đã thực sự chinh phục được lòng tin của người tiêu dùng Việt Nam
bằng chính chất lượng và sự tiện dụng của những sản phẩm đó. Người tiêu
dùng Việt Nam biết tới xe máy chính là do tập đoàn Honda mang lại, thậm chí
người ta còngọi chiếc xe máy là xe Honda. Xe máy của tập đoàn Honda luôn
7
mang đến cho người tiêu dùng Việt Nam cảm giác an toàn, sự tin tưởng vào chất
lượng và độ bền của xe.
Honda Việt Nam cung cấp cho thị trường các sản phẩm chính sau:
– Nhãn hiệu xe Super Dream (nay đã có Super Dream mới).
– Nhãn hiệu xe Future gồm: Future NEO và Future II.
– Nhãn hiệu xe Wave gồm: Wave α, Wave ZX, Wave RS.
– Nhãn hiệu xe tay ga Spacy, @, SH, Dylan…
Với một đội ngũ công nhân lao động có tay nghề, đội ngũ kỹ sư của Honda
Việt Nam được đào tạo tại nước ngoài (tại Honda Thái Lan, Honda Nhật Bản) thật
sự là cơ sở để Honda Việt Nam bảo đảm chất lượng của từng sản phẩm sản xuất ra.
Sau 10 năm hoạt động, Honda Việt Nam đã đầu tư gần 194 triệu USD cho sản xuất
kinh doanh với các sản phẩm được người sử dụng tin dùng như Super Dream,
Future, Wave α, Future II và Wave ZX, Wave RS và Future NEO.
Cho đến nay, Honda Việt Nam đã có hơn 2,5 triệu sản phẩm được khách hàng
trong nước sử dụng. Bên cạnh đó, Honda Việt Nam còn xuất khẩu hơn 163.000 xe
máy cùng với động cơ và phụ tùng xe máy, đạt kim ngạch xuất khẩu hơn 96 triệu
USD, trở thành doanh nghiệp đầu tiên trong nước xuất khẩu xe máy, phụ tùng. Công
ty đã tạo việc làm ổn định cho hơn 32.000 lao động. Theo Thời báo kinh tế – điện tử,
vào ngày 14/03/2006, tại lễ kỷ niệm 10 năm ngày thành lập, ông Hiroaki Funami,
Tổng giám đốc công ty Honda Việt Nam, cho biết trong 5 năm tới, công ty sẽ đầu tư
thêm khoảng 60 triệu USD cho dự án xây dựng nhà máy sản xuất ô tô Honda tại
Việt Nam.
Bên cạnh đó, với một bộ máy quản trị chặt chẽ, thống nhất từ tổng giám đốc tới
các giám đốc, phòng, ban, phân xưởng, tổ sản xuất, chất lượng xe máy của Honda
Việt Nam luôn được kiểm tra sát sao, chặt chẽ trước khi xuất xưởng và bán tới tận
tay người tiêu dùng. Sản phẩm của Honda Việt Nam đã đạt tiêu chuẩn quản lý
8
chất lượng ISO 9002. Ngay từ khi xây dựng nhà máy tại Việt Nam, vấn đề môi
trường sản xuất đã được quan tâm. Vì vậy Honda Việt Nam đã được cấp chứng chỉ
đạt hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14000. Với tầm nhìn chiến lược
lâu dài, các nhà quản trị của công ty Honda Việt Nam đã và đang đầu tư vào việc sản
xuất một phần động cơ tại Việt Nam, bên cạnh đó Honda Việt Nam còn tiến hành liên
doanh với công ty VMEP để sản xuất động cơ đầu tiên tại Việt Nam. Cùng với việc
đảm bảo cung cấp cho người tiêu dùng những sản phẩm có chất lượng cao,
Honda Việt Nam cũng đồng thời xây dựng một mạng lưới bảo hành, sửa chữa, bảo
dưỡng cho tất cả các loại xe mang nhãn hiệu Honda trên cả nước.
Chính vì thế xe máy của tập đoàn Honda Việt Nam luôn mang đến cho người
tiêu dùng Việt Nam cảm giác an toàn, sự tin tưởng vào chất lượng và độ bền của xe.
Sau 10 năm đi vào hoạt động kinh doanh, công ty Honda Việt Nam đã từng bước
trưởng thành và đứng vững trên thị trường xe máy Việt Nam.
2.2. Yamaha Motor Việt Nam:
Công ty Yamaha Motor Việt Nam là doanh nghiệp liên doanh giữa công ty
Yamaha Motor Nhật Bản (46% vốn pháp định), Tổng công ty lâm nghiệp Việt Nam
(30% vốn pháp định) và công ty công nghiệp Hong Leong Industries Berhad
Malaysia (24% vốn pháp định), trong đó vồn pháp định là 24.250.000 USD. Công
ty được thành lập ngày 01 tháng 4 năm 1999, giấy phép đầu tư số 2029/GP.
Văn phòng chính và nhà máy tại xã Trung Giã, huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Hiện nay
công ty có khoảng gần 1100 công nhân.
Hơn ai hết, tuy là kẻ đến sau nhưng Yamaha đã chiếm được vị trí tương đối
vững chắc trong thị trường xe máy Việt Nam. Sản phẩm của hãng được nhiều
người ưa thích – đặc biệt là giới trẻ. Yamaha tung ra thị trường với nhiều loại xe từ xe
số, xe phanh đĩa, xe ga với kiểu dáng màu sắc rất trẻ trung và đa dạng. Các kiểu xe ga
của Yamaha như Mio Amore, Mio Maximo, Mio Classical đều có thiết kể nhỏ
gọn, sang trọng, giá cả vừa phải, dao động từ 16 – 18 triệu đồng, nó rất phù hợp với
9
phụ nữ Việt Nam, đặc biệt là đối với các bạn nữ. Với những chiếc xe ga này các bạn
gái vừa có thể thể hiện cá tính, sự năng động của mình nhưng lại vừa mang đến nét
dịu dàng, nhẹ nhàng, quyến rũ vốn có của nữ giới. Vì thế ngay từ khi ra đời nó đã
được sự ủng hộ đông đảo của khá nhiều nữ giới. Bên cạnh xe ga dành cho
nữ giới, Yamaha cũng khá thành công cho việc thiết kế xe ga dành cho nam giới –
đó chính là Nouvo. Xe được thiết kế với phần đầu và thân xe thể hiện sự mạnh mẽ
của nam giới, nhẹ nhàng lướt ga nhưng vẫn thể hiện sự dũng mãnh của mình. Ngoài
ra thì Yamaha cũng cung cấp trên thị trường các xe thuộc dòng xe số như
Jupiter V, Jupiter MX, Sirius V,… Các loại xe này hiện đang rất được ưa
chuộng trên thị trường – đặc biệt là giới trẻ.
Theo số liệu của Đoàn công tác liên ngành khảo sát hoạt động của các doanh
nghiệp xe máy có vốn đầu tư nước ngoài đăng trên báo Đầu tư ta thấy: Công ty
Yamaha Motor Việt Nam đã tiêu thụ được khoảng hơn 20.000 xe. Đây là một con
số cũng không phải là nhỏ đối với một doanh nghiệp mới gia nhập vào sau.
Mặc dù không dù không thể cạnh tranh với Honda (Honda Việt Nam) về chất
lượng nhưng các hãng sản xuất xe máy khác lại có lợi thế hơn Honda Việt Nam về
chủng loại. Chủng loại của các hãng này rất phong phú và đa dạng, rất hợp
thời trang. Yamaha Motor Việt Nam còn có chiến lược quảng cáo, tiếp thị rộng
rãi, có hình thức “mua trả góp” với lãi suất hợp lý nhằm thu hút khách hàng. Những
sản phẩm của các hãng này thường được giới trẻ ưa chuộng bởi sự thời trang về màu
sắc cũng như kiểu dáng của nó. Tập đoàn Yamaha Nhật Bản đã thành lập một trung
tâm tại Băng Cốc (Thái Lan) với chức năng nghiên cứu phát triển các loại xe máy
để bán trên thị trường Châu Á và Việt Nam (động thái này xuất phát từ thực tế,
trên thị trường Châu Á đang diễn ra sự cạnh tranh gay gắt không chỉ về chất lượng
giá cả mà cả về kiểu dáng của xe).
10
Như vậy, sau một thời gian hoạt động Yamaha Motor Việt Nam đã tìm
thấy thế mạnh của mình và đang từng bước khẳng định sức mạnh đó trên thị trường
xe máy Việt Nam.
2.3. SYM:
Công ty công nghiệp San Yang thuộc tập đoàn Chinfon được thành lập năm
1954 tại Đài Loan, khởi đầu bằng việc sản xuất đinamô cho xe đạp. Năm 1962, San
Yang bắt đầu sản xuất xe máy và năm 1969 là ô tô. Trong 50 năm qua, San Yang đã
sản xuất và tiêu thụ hơn 6.000.000 xe máy, luôn là doanh nghiệp hàng đầu về sản
xuất và tiêu thụ xe máy ở Đài Loan.
Năm 1992, San Yang đầu tư sản xuất kinh doanh xe gắn máy tại Việt Nam với
tên đầy đủ là: “Công ty hữu hạn chế tạo hàng công nghiệp và gia công chế biến
hàng xuất khẩu Việt Nam” viết tắt là VMEP. VMEP có hai nhà máy được xây dựng
tại hai tỉnh Hà Tây (miền Bắc) và Đồng Nai (miền Nam) với tổng số vốn
đầu tư 1.160.000.000 đô la Mỹ, có công suất đạt 540.000 xe/năm. Đây là dự án sản
xuất xe máy đầu tiên ở Việt Nam và cũng là dự án lớn nhất ở Việt Nam thuộc loại
này.
Từ năm 1996, công ty San Yang Motor Taiwan thuộc Tập đoàn Chinfon đã
quyết định đột phá bằng chiến dịch toàn cầu với thương hiệu SYM. Hiện nay sản
phẩm của SYM đã có mặt tại rất nhiều nước trên thế giới.
Năm 2002 công ty mẹ San Yang đã tăng cường đầu tư để triển khai dự án sản
xuất và lắp ráp động cơ 15.000.000 USD. VMEP là công ty đầu tiên đưa thiết bị sản
xuất động cơ vào Việt Nam, các phân xưởng đầu tiên đã đi vào hoạt động: sản xuất
xy lanh, cốt cam, phụ tùng ô tô và khuôn mẫu chính xác. Đến nay VMEP là
doanh nghiệp có tỷ lệ nội địa hoá cao nhất trong các doanh nghiệp sản xuất xe máy
tại Việt Nam với mức độ nội địa hoá đạt hơn 90% cho một số loại xe.
11
Về nhân sự, VMEP có gần 2000 cán bộ nhân viên chính thức, toàn bộ nhân viên
kỹ thuật được đào tạo chuyên môn để bảo đảm cung cấp chế độ hậu mãi tốt.
Sản phẩm mang thương hiệu SYM có hai dòng chính: xe Cub (xe số bình
thường) và xe Scooter (xe tay ga):
Dòng xe Cub có các nhãn hiệu xe sau:
– Nhãn hiệu xe Angel.
– Nhãn hiệu xe Magic.
– Nhãn hiệu xe Star.
– Nhãn hiệu xe Amigo.
– Nhãn hiệu xe Bonus.
– Nhãn hiệu xe Husky.
Dòng xe Scooter bao gồm:
– Nhãn hiệu xe Attila.
– Nhãn hiệu xe Excel.
– Nhãn hiệu xe HD.
– Nhãn hiệu xe GTS.
Doanh số bán của SYM miền Bắc trong một vài năm gần đây:
– Năm 2000 bán được 46.866 xe.
– Năm 2002 bán được 75.871 xe.
– Năm 2002 bán được 142.849 xe.
– Năm 2003 bán được 150.523 xe.
– Năm 2004 bán được 139.134 xe.
– Năm 2005 bán được 52.433 xe.
12
Với chất lượng và uy tín cũng như sự tìm tòi, cải tiến không ngừng với những
sản phẩm mẫu mã đẹp, chất lượng cao, SYM ở Việt Nam đã và đang trở thành
một trong những nhãn hiệu được người tiêu dùng Việt Nam ưa chuộng và tin tưởng.
2.4. Việt Nam Suzuki:
Suzuki là một hãng xe lớn của Nhật Bản. Công ty Việt Nam Suzuki thành lập
vào ngày 21 tháng 4 năm 1995 với lượng vốn pháp định là 11.700.000 USD (trong
đó cổ phần của công ty Suzuki Motor chiếm 35%, công ty Nissho Iwai chiếm 35% và
công ty Vikyno chiếm 30%), tổng số vốn đầu tư là 34.200.000 USD.
Năm 1996 công ty Việt Nam Suzuki đi vào hoạt động. Tháng 9/1996: Việt
Nam Suzuki đã sản xuất xe GN 125, loại xe Suzuki đầu tiên tại Việt Nam.
Tháng 10/1996: công ty đã cho ra đời Viva CD, mẫu xe Viva đầu tiên ra mắt tại Việt
Nam, xây dựng nên một hình ảnh thời trang cho xe máy.
Ngoài việc cải tiến những sản phẩm hiện có, Việt Nam Suzuki còn đưa ra thị
trường các kiểu xe mới như Shogun R125 (giá 23,5 VND/xe), Viva 110 thường và
phanh đĩa, Smash 110 (giá: 15,7 VND/xe)… Ngoài ra hãng còn sản xuất một số
loại xe khác, tuy nhiên các loại xe này không được ưa chuộng lắm trên thị trường
ASEAN, bao gồm:
– Xe thể thao (Super Sport): nổi bật với kiểu xe GSX hay Hayabusa đều hỗ trợ
tối đa khả năng tăng tốc, ngoặt góc hoặc phanh – thắng trong một kiểu dáng oai vệ thể
hiện phong cách mạnh mẽ của người lái.
– Xe chạy đường trường (Street): đáng chú ý có kiểu xe V-Strom thể hiện sự tự
do thật sự và một tinh thần can đảm khi vượt những con đường dài hay
ngoằn nghèo nhưng với một cảm giác thoải mái và phấn khích.
– Xe tay ga (Scooter): nổi trội trong dòng xe này có kiểu xe Burgman. Đây là sự
kết hợp tuyệt vời trong thiết kế giữa ý tưởng về xe tay ga và xe máy kích thước lớn
13
nhằm gia tăng tính thực tiễn đồng thời tạo được sự thoải mái tối đa cho người sử
dụng. Đến nay, Burgman được xem như một chuẩn mực trong dòng xe tay ga.
– Xe Off-road: trong dòng xe này Suzuki có DR-Z. Kiểu xe này được trang bị
động cơ mạnh mẽ và bền bỉ, thích hợp hoạt động trên nhiều loại địa hình. Xe DR-Z
được thiết kế thích hợp cho cả người lớn lẫn thanh niên.
– Xe vượt chướng ngại vật (Motocross): RM, loại xe đua được thiết kế giúp
giữ thăng bằng tốt khi vượt chướng ngại vật. RM đã lập nên chiến thắng cùng với các
tay đua vô địch trên các đương đua trên khắp thế giới.
– Xe vượt mọi địa hình (ATVs): một số kiểu xe do suzuki sản xuấtbao gồm
Vinson, Ozark, Eiger, QuadSport. Tất cả được thiết kế với những tính năng nổi trội
nhằn mang lại sự thoải mái thực sự, cho phép người sử dụng đi đến bất cứ nơi đâu
trong mọi điều kiện.
Sản lượng mỗi năm của Việt Nam Suzuki là 4.000 chiếc ô tô, 60.000 chiếc xe
máy. Sản lượng xe máy của Việt Nam Suzuki từ năm 1996 đến năm 2002 như sau:
– Năm 1996: 2.040 chiếc (4 tháng hoạt động).
– Năm 1997: 12.253 chiếc III.
– Năm 1998: 25.015 chiếc.
– Năm 1999: 21.775 chiếc.
– Năm 2000: 23.964 chiếc.
– Năm 2001: 28.241 chiếc.
– Năm 2002: 42.797 chiếc.
Với khẩu hiệu xe máy Suzuki “Ride the winds of change”, Suzuki chấp nhận
thách thức trong việc cải tiến công nghệ nhằm đem lại những sản phẩm xe máy tinh
tế đem lại cảm xúc hoàn toàn mới cho người sử dụng, họ đã “thổi luồng gió mới cho
cuộc sống” và đã được người tiêu dùng Việt Nam chấp nhận. Suzuki với hệ thống đại
14
lý có mặt rộng khắp cả nước (trong đó có hơn 16 đại lý và trung tâm bảo hành tại Hà
Nội) nhằm phục vụ khách hàng một cách chu đáo và thuận tiện. Hệ thống này là sự
kết hợp hiệu quả của các cửa hàng Suzuki 3S đảm nhiệm tất cả các dịch vụ liên quan,
đó là bán hàng (sales), dịch vụ hậu mãi (after sales services) và cung cấp phụ tùng
Suzuki chính hiệu (Spare parts). Tất cả, từ cấu trúc tổng thể cho đến từng chi tiết, vật
dụng nhỏ, kết hợp tạo nên một hình ảnh nhất quán, hài hoà, đầy sáng tạo cho tất cả
các cửa hàng Suzuki trên toàn quốc. Các chiến dịch hậu mãi với tên gọi “Suzuki
chăm sóc khách hàng” được tổ chức hàng năm hỗ trợ những dịch vụ hậu mãi cộng
thêm thể hiện sự quan tâm khách hàng ngay cả sau khi đã bán. Dịch vụ cũng như các
điều lệ bảo hành của Suzuki được hướng dẫn cho khách hàng ngay sau khi bán.
Chính nhờ sự nỗ lực không ngừng nên thị trường tiêu thụ của Việt Nam
Suzuki ngày càng được mở rộng trên thị trường xe máy Việt Nam. Người tiêu
dùng Việt Nam đã dần chấp nhận và ủng hộ các sản phẩm của công ty.
2.5. Các hãng cung cấp xe máy khác:
Theo đánh giá của các chuyên gia, hiện nay giá bán xe máy của các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngòai vẫn cao hơn rất nhiều so với giá của các loại xe
được sản xuất tại các nước ASEAN, Đài Loan… Đặc biệt trong điều kiện mức thu
nhập bình quân đầu người của Việt Nam còn thấp thì giá bán xe máy hiện nay của
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được các chuyên gia đánh giá là: “Cao
bất hợp lý”. Theo số liệu báo Đầu tư, cơ quan của Bộ kế hoạch và đầu tư ra
ngày 13/02/2001 ta thấy: đầu tháng 2/2001, tập đoàn công nghiệp Lifan (Trung
Quốc) đã chính thức đưa vào thị trường Việt Nam những loại xe máy mới: xe LF
110 – 9A với động cơ 110cc Best Style – LF 1p53FMH (982), hệ thống đánh lửa DL
– CDI (khởi động điện tử một chiều), đánh lửa nhanh, ổn định, dễ khởi động, bánh
cam biến tốc lắp thêm vòng bi, chuyển đổi nhẹ, linh hoạt,… đã cho thấy những ông
chủ các tập đoàn sản xuất xe máy Trung Quốc đã khai thác triệt để thị trường Việt
Nam. Nắm bắt được nhu cầu về xe máy tại Việt Nam là rất cao, trong những năm gần
15
đây, những ông chủ tập đoàn sản xuất xe máy lớn tại Trung Quốc như: tập đoàn
Lifan, Zongshen, Hongda, Fushi,… bằng “chiến thuật” theo mẫu của các động cơ có
sẵn trên thị trường đã sản xuất hàng loạt sản phẩm xe máy với giá bán thấp kỷ lục
để xuất sang thị trường Đông Nam Á, Châu Phi trong đó có Việt Nam. Ý đồ này đã
thực sự rất thành công trên thị trường Việt Nam vì một phần lớn người dân lao động
Việt Nam có nhu cầu mua xe máy song lại có thu nhập thấp, hoặc những người có
nhu cầu đổi xe máy mới song lại không có đủ tiền,…
Với sự xuất hiện của các sản phẩm xe máy Trung Quốc, thị trường xe máy
Việt Nam đã thực sự sôi động lên rất nhiều. Những sản phẩm xe máy Trung Quốc
được nhập khẩu vào Việt Nam hàng loạt với giá bán rất thấp, tuỳ thuộc vào từng
chủng loại, động cơ mà giá bán chỉ dao động từ 7 – 10 triệu đồng. Người Việt Nam
đã có thể thoả mãn nhu cầu của mình với những sản phẩm đa dạng, phong phú mà giá
bán chỉ bằng 1/3 đến 1/2 giá bán của một số hãng sản xuất nổi tiếng như:
Honda, Suzuki, Yamaha…
Gián tiếp đưa sản phẩm xe máy Trung Quốc vào thị trường Việt Nam đó là
những doanh nghiệp lắp ráp dây chuyền dạng IKD. Doanh nghiệp lắp ráp trên thị
trường Việt Nam tồn tại lên tới hàng trăm doanh nghiệp lớn, nhỏ của Việt Nam cũng
có mà liên doanh với nước ngoài cũng có. Qua đó ta thấy sản lượng xe máy Trung
Quốc đưa vào thị trường Việt Nam cũng ngày càng tăng lên. Hoạt động của các
doanh nghiệp này chủ yếu là nhập linh kiện, chi tiêt, phụ tùng của các hãng sản
xuất tại Trung Quốc rồi đem về lắp ráp, hoàn thiện để tung ra thị trường. Giá
đầu vào của một bộ linh kiện dao động từ 300 – 350 USD/bộ linh kiện, trong đó giá
bán dao động khoảng từ 8 – 10 triệu đồng đã thu hút rất nhiều các doanh nghiệp lắp
ráp này đi vào hoạt động. Tình hình cạnh tranh trên thị trường xe máy Việt Nam
diễn ra khá gay gắt và quyết liệt. Các hãng xe nổi tiếng phải cạnh tranh với nhau và
cạnh tranh với xe máy Trung Quốc. Không những “nhái lại” kiểu dáng mà những
người sản xuất xe máy Trung Quốc còn nhái lại “nhãn hiệu” hoặc nếu có khác thì chỉ
khác ở một số bộ phận, chi tiết mà rất khó có thể nhận ra. Những người không sành
16
về xe máy sẽ rất khó phân biệt đâu là xe chính hãng, đâu là xe Trung Quốc. Cuộc
cạnh tranh cũng diễn ra gay gắt đối với các doanh nghiệp lắp ráp – sản xuất xe máy
có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Họ cạnh tranh bằng chính ưu thế của mình.
Từ những phân tích trên chúng ta có thể thấy được thị trường các nhà cung cấp
xe máy tại Việt Nam đang diễn ra rât sôi động, các hãng cạnh tranh rất gay gắt. Vì thế
để có thể đứng vững và phát triển thị phần trên thị trường Việt Nam, các
hãng không những phải phát huy tốt những cơ hội, những thế mạnh của bản thân
mình mà còn phải biết đối phó lại những chiến lược cạnh tranh của đối thủ cạnh
tranh. Chỉ có như vậy mới đem lại sự thành công cho các hãng trên thị trường xe máy
Việt Nam.
II – Đặc trưng của thị trường xe máy tại Việt Nam trong năm gần đây:
1. Đảo chiều ngoạn mục
Năm 2011 vừa qua chứng kiến sự biến động mạnh của thị trường xe máy, không
phải bởi các tác động của chính sách mà do quy luật cung cầu trong bối cảnh kinh tế
khó khăn, lạm phát tăng cao. Còn nhớ hồi đầu năm, cơn sốt các xe tay ga, điển hình
và chủ yếu là các mẫu xe ga của Honda như PCX, Air Blade, Lead đẩy giá bán tới tay
người tiêu dùng chênh 3-5 triệu đồng, thậm chí hàng chục triệu đồng so với giá đề
xuất của nhà sản xuất.
Chẳng hạn thời điểm cuối năm 2010, đầu năm 2011, hầu hết các đại lý Honda
đều xảy ra tình trạng “hết hàng” với xe PCX, nhưng khi ra các cửa hàng nhỏ lẻ bên
ngoài (được cho là có mối quan hệ mật thiết với các đại lý Honda) thì khách hàng
mua bao nhiêu xe và màu gì cũng có, tuy nhiên giá bán tới 60-65 triệu đồng/chiếc,
cao hơn giá đề xuất tới 10-15 triệu đồng/chiếc.
Đầu tháng 4/2011, liên doanh Nhật âm thầm tăng giá đề xuất PCX lên 59 triệu
đồng. Tuy nhiên kể từ thời điểm này, các đại lý Honda chỉ duy trì được một thời gian
ngắn giá bán ra bằng với giá đề xuất, sau đó liên tục giảm mạnh và kéo dài tới cuối
17
năm, với mức giá bán ra thấp hơn giá niêm yết tới 5-7 triệu đồng/chiếc. Khi ấy, một
đại lý Honda tại Hà Nội than thở với chúng tôi rằng nếu như trước kia PCX lên cơn
sốt bao nhiêu thì giờ đây ế ẩm bấy nhiêu, họ sẵn sàng bán giá PCX với giá 50 triệu
đồng/chiếc để nhanh chóng quay vòng vốn (thấp hơn giá đề xuất 9 triệu đồng/chiếc),
với điều kiện phải mua hàng chục chiếc
Air Blade mới trong buổi ra mắt tại TP.HCM đầu tháng 4/2011.
ảnh QT
Cũng trong đầu tháng 4/2011, Honda VN quyết định làm mới mẫu xe ăn khách
nhất của mình là Air Blade bằng phiên bản 2011, với giá bán lẻ đề xuất cũng tăng tới
3 triệu đồng, lên 36-37 triệu đồng/chiếc. Chỉ sau một thời gian ngắn ra mắt và đặc
biệt là sau khi âm thầm tăng thêm 1 triệu đồng, giá bán thực tế của Air Blade liên tục
giảm, thậm chí giảm tới 3-4 triệu đồng so với giá đề xuất. Trong giai đoạn này, giá
bán lẻ thực tế của xe tay ga Lead cũng giảm 2-3 triệu đồng so với giá đề xuất của
Honda. Ngay cả mẫu xe mới ra mắt Honda Vision sau vài tháng loạn giá, giá bán cao
hơn tới 2-3 triệu đồng so với giá đề xuất 28,5 triệu đồng thì đến thời điểm cuối năm,
giá thực tế tới tay người tiêu dùng chỉ còn khoảng 26 -26,5 triệu đồng.
18
Không chỉ xe Honda mà các mẫu xe cùng tham gia “chiến dịch” loạn giá như
Yamaha Nozza, Exciter hay Piaggio Liberty cũng phải trở về mức giá đề xuất vào
thời điểm cuối năm do nhu cầu giảm mạnh.
Theo một số đại lý Honda, sự giảm giá xe máy chỉ khiến đại lý thiệt thòi vì quan
hệ giữa đại lý và công ty Honda là mua đứt bán đoạn. Vì thế, trong năm qua, dù
Honda Việt Nam vẫn đạt sản lượng tới 2,1 triệu chiếc nhưng đa số các đại lý ủy
nhiệm Honda đều thở dài ngao ngán bởi nửa cuối năm 2011 vừa qua, họ chỉ bán hòa
và lỗ, trong khi lạm phát tăng cao, hàng loạt chi phí duy trì hoạt động của đại lý
tăng vọt
2. Nguy cơ cung sớm vượt cầu
Nhận định thị trường xe máy Việt Nam vẫn tăng mạnh trong những năm tới nên
các nhà sản xuất đua nhau nâng công suất. Được thành lập vào năm 1996, Honda
Việt Nam xuất xưởng chiếc xe máy đầu tiên vào tháng 2/1998. Nếu như giai đoạn
đầu phải mất đúng 10 năm sau, Honda VN mới sản xuất được chiếc xe thứ 5 triệu
(tháng 7/2008) thì chỉ cần đúng 3 năm, liên doanh Nhật đã có thêm 5 triệu xe nữa để
đạt sản lượng 10 triệu xe máy vào tháng 09/ 2011. Chưa dừng lại ở đó, cuối năm
2011 vừa qua, Honda Việt Nam đã quyết định đầu tư thêm 120 triệu USD xây dựng
nhà máy xe máy thứ ba tại tỉnh Hà Nam, nâng năng lực sản xuất xe máy của doanh
nghiệp này lên 2,5 triệu xe/năm.
Không chịu thua kém, doanh nghiệp xe máy lớn thứ hai là Yamaha Việt Nam
cũng chi khoảng 50 triệu USD để tăng công suất của nhà máy tại Hà Nội lên gấp hai
lần hiện nay, hướng tới sản lượng 1,5 triệu xe/năm.
19
Sản xuất xe máy tại nhà máy Piaggio VN tại tỉnh Vĩnh Phúc.
ảnh QT
Trong khi đó, Piaggio Việt Nam sau khi đưa nhà máy thứ nhất với công suất
100.000 xe/năm vào hoạt động (tháng 6/2009), hiện đang đầu tư nhà máy thứ hai để
nâng công suất sản xuất xe máy lên 300.000 xe/năm. Cùng với sản lượng của SYM là
300.000 chiếc, Suzuki 200.000 chiếc và một số doanh nghiệp khác khoảng hơn
100.000 chiếc, tổng sản lượng xe máy sản xuất trong nước sẽ lên mức xấp xỉ 5 triệu
chiếc/năm vào cuối năm 2012 này.
Trong khi quy mô sản xuất xe máy tăng mạnh và ở mức cao thì theo tính toán,
nhu cầu thị trường đang ở mức thấp hơn khá nhiều. Ví dụ năm 2009 cả nước tiêu thụ
khoảng 2,75 triệu chiếc, sang năm 2010 đạt mức gần 3 triệu chiếc và năm 2011
khoảng 3,3 triệu chiếc. Như vậy, có thể khẳng định công suất sản xuất xe máy sắp tới
của Việt Nam sẽ vượt xa so với nhu cầu và trong bối cảnh đó, bài toán đặt ra với các
nhà sản xuất xe máy càng nan giải, đặc biệt ai cũng hiểu, thực trạng trái chiều giữa
doanh thu, lợi nhuận của nhà máy và đại lý như năm qua không thể kéo dài
20
KẾT LUẬN
Mở rộng thị trường và tạo dựng một hình ảnh tốt đẹp trong tâm trí khách hàng
luôn là mong muốn của bất kỳ doanh nghiệp nào. Do vậy các công ty luôn định
hướng cho hoạt động kinh doanh của mình xuất phát từ thị trường. Một công ty muốn
đứng vững trên thị trường thì phải nghiên cứu nhu cầu của khách hàng, tìm hiểu các
đối thủ cạnh tranh để có thể đưa ra kế hoạch, chiến lược kinh doanh phù hợp, tìm ra
các giải pháp có hiệu quả để thực hiện các chiến lược đó một cách tốt nhất. Và đối
với các nhà cung cấp xe máy cũng vậy. Ngoài việc có thể cung cấp cho khách
hàng những sản phẩm xe máy có kiểu dáng, màu sắc đẹp các hãng còn phải nắm
được nhu cầu của khách hàng để có thể đáp ứng các nhu cầu đó một cách tốt nhất.
Chính vì thế ngoài việc đảm bảo chất lượng xe máy trước khi bán, các hãng còn phải
quan tâm đến chất lượng xe sau khi bán hay các dịch vụ sau khi bán.
Qua một thời gian tìm hiểu hoạt động Marketing cũng như các dịch vụ hậu mãi
của các hãng cung cấp xe máy trên thị trường Việt Nam, tôi thấy các hãng cung cấp
xe máy đã có một số hoạt động trong dịch vụ sau bán hàng nhằm mở rộng thị trường
cũng như thu hút khách hàng… Qua bản báo cáo này, nó phần nào đã giúp chúng ta
có thể hiểu được tầm quan trọng hay ảnh hưởng của dịch vụ bảo hành tới quyết định
mua xe máy của người tiêu dùng Việt Nam. Bản báo cáo này đã chứng minh được
rằng không những chỉ là một dịch vụ kèm theo khi khách hàng mua xe máy mà dịch
vụ bảo hành đã có vai trò khá quan trọng trong quyết định mua xe máy của người
tiêu dùng.
21
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1) PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH, Tác Giả: Dennis C.
McCornac, FETP, Phiên Dịch: Hiếu Hạnh, Hiệu Đính: Văn Thanh.
2) Giáo trình CĂN BẢN KINH TẾ VI MÔ, Khoa Quản Trị Kinh Doanh, Đại
học Duy Tân.
3) www.baomoi.com/Tag/thị-trường-xe-máy.epi.
4) dantri.com.vn/o-to-xe-may/diu-hiu-thi-truong-xe-may-630173.htm
5) news.zing.vn/thi-truong-xe-may/tag64403.html
6) autopro.com.vn/xe-may.chn
MỤC LỤCLỜI MỞ ĐẦU 21. Lý do lựa chọn đề tài : 22. Mục tiêu nghiên cứu và điều tra : 2I – Tổng quan về thị trường xe máy Nước Ta : 41. Nhu cầu tiêu thụ xe máy ở Nước Ta : 42. Các nhà sản xuất xe máy ở Nước Ta 62.1. Honda Nước Ta : 62.2. Yamaha Motor Nước Ta : 82.3. SYM : 102.4. Nước Ta Suzuki : 122.5. Các hãng phân phối xe máy khác : 14II – Đặc trưng của thị trường xe máy tại Nước Ta trong năm gần đây : 161. Đảo chiều ngoạn mục 162. Nguy cơ cung sớm vượt cầu 18K ẾT LUẬN 20T ÀI LIỆU THAM KHẢO 21L ỜI MỞ ĐẦU1. Lý do lựa chọn đề tài : Hiện nay trên thị trường tồn tại rất nhiều phương tiện đi lại khác nhau để cung ứng nhucầu đi lại của người tiêu dùng. Và tất cả chúng ta không hề không kể đến một phươngtiện phổ cập đó chính là xe máy. Đối với mọi người nói chung cũng như sinh viênnói riêng, xe máy là một phương tiện đi lại đi lại được xem là thuận tiện nhất, tương đốiphù hợp về giá cả cũng như về hình thức. Trong những năm gần đây, thị trường xe máy Nước Ta đã có sự đổi khác rấtlớn. Cụ thể là : sau khi công ty liên kết kinh doanh Honda Nước Ta được xây dựng và đivào hoạt động giải trí thì người tiêu dùng Nước Ta giờ đây đã hoàn toàn có thể sử dụng những chiếcxe máy được sản xuất ngay tên chủ quyền lãnh thổ Nước Ta. Nhận thấy nhu yếu sử dụng xemáy của dân cư Nước Ta là rất lớn, một số ít hãng sản xuất xe máy khác cũng đãtiến hành liên kết kinh doanh với Nước Ta để xây dựng công ty liên kết kinh doanh sản xuất xe máynhư : Nước Ta Suzuki, Yamaha Motor Nước Ta, … Bên cạnh đó, trong 5 năm trở lạiđây, thị trường xe máy Nước Ta thêm phong phú bởi những chiếc xe máy Trung Quốcđược nhập khẩu cũng như được sản xuất ồ ạt tại Nước Ta mà chất lượng củanó thì không trấn áp được. Người tiêu dùng Nước Ta giờ đây hoàn toàn có thể tự do lựa chọn những loại sản phẩm xemáy mà mình yêu dấu. Nhưng cạnh bên đó, họ cũng đối lập với những chiếc xemáy có chất lượng không tốt. Vì thế khi quyết định hành động mua xe cho mình, ngoài việcquan tâm đến giá cả, hình dáng, kích cỡ, sắc tố của xe thì còn một yếu tố nữacũng không kém phần quan trọng đó chính là dịch vụ hậu mãi – đặc biệt quan trọng là dịch vụbảo hành. Nhận thấy tầm quan trọng cũng như để hoàn toàn có thể nghiên cứu và điều tra sâu hơn về ảnhhưởng của dịch vụ bh tới quyết định hành động mua xe máy của người tiêu dùng nên tôiđã quyết định hành động lựa chọn đề tài. 2. Mục tiêu nghiên cứu và điều tra : Mục tiêu điều tra và nghiên cứu của đề tài là sẽ nghiên cứu và điều tra xem tác động ảnh hưởng hay tác độngcủa dịch vụ bh tới quyết định hành động mua xe máy của sinh viên ĐH Kinh tếQuốc dân. Nó góp thêm phần cải tổ cũng như trợ giúp những hãng phân phối xe máy trênthị trường Nước Ta nhận ra được vai trò quan trọng của dịch vụ Bảo hành cũng nhưsẽ nâng cấp cải tiến những dịch vụ Bảo hành nhằm mục đích đem lại cho người mua nhiều quyền lợi và thuhút được nhiều người mua hơn. NỘI DUNGI – Tổng quan về thị trường xe máy Nước Ta : 1. Nhu cầu tiêu thụ xe máy ở Nước Ta : Trong gần 20 năm qua, nhờ những nỗ lực và quyết tâm của toàn Đảng và toàndân ta trong việc triển khai những chủ trương và chủ trương đúng đắn của Đảng, nềnkinh tế Nước Ta đã và đang đạt được những thành tựu quan trọng và có tính bướcngoặt trên con đường kiến thiết xây dựng và thay đổi quốc gia. Việc thực thi chủ trương mởcửa hội nhập với nền kinh tế tài chính của những nước trong khu vực và trên quốc tế đã làm chonền kinh tế tài chính Nước Ta tăng trưởng và đạt được những thành tựu đáng kể. Tốc độtăng trưởng tổng sản phẩm trong nước ( GDP ) trung bình đạt trên 7 % / năm trongnhiều năm, đặc biệt quan trọng là quá trình 1991 – 1995 ( đạt trên 8,2 % / năm ). GDP bìnhquân đầu người tiến trình 1996 – 2000 là 462 USD, ước triển khai tiến trình 2001 – 2005 là 600 USD. Nguồn vốn góp vốn đầu tư trực tiếp quốc tế ( FDI ) quá trình 2001 – 2005 cả cấp mới và bổ trợ đạt 15 – 16 tỷ USD, tăng gấp 1,5 lần so với giai đoạn1996 – 2000. Bên cạnh những thành tựu về kinh tế tài chính, sau 20 năm triển khai thay đổi, Việt Namđã đạt được một số ít thành tựu về xã hội, có tác động ảnh hưởng thôi thúc nền kinh tế tài chính tăng trưởng. Việt Nam đã triển khai xong xuất sắc tiềm năng giảm 50% số người nghèo và một nửasố người dân bị đói theo chuẩn quốc tế so với những năm đầu thập niên 90 chỉ nửa sốngười dân bị đói theo chuẩn quốc tế so với những năm đầu thập niên 90 chỉ chi tiêucủa hộ mái ấm gia đình, đã được cải tổ rõ ràng. Tính chung cả nước, tiêu tốn hộ gia đìnhtheo giá so sánh thời kì 2003 – 2004 đạt 328000 đồng, tăng trung bình 12,1 % / năm. Như vậy sự tăng trưởng của nền kinh tế tài chính đã có ảnh hưởng tác động trực tiếp tích cực đến đờisống của dân cư. Đời sống của người dân từng bước được cải tổ và nângcao rõ ràng. Cũng như những nhu yếu tự nhiên như ăn, mặc, ở thì một nhu yếu khác cũngkhông thể thiếu được so với con người trong đời sống lúc bấy giờ đó là phương tiệnđi lại hay còn gọi là phương tiện đi lại giao thông vận tải. Và để phân phối đựơc nhu yếu đó củangười dân thì hàng loạt những phương tiện đi lại giao thông vận tải đã đựơc nghiên cứu và điều tra, sản xuất vàđưa vào sử dụng như xe hơi, xe máy, xe đạp điện điện … Nếu như ở Nước Ta khoảng chừng một hai thập niên trước đây, xe máy mang tínhthiểu số, được vị nể với tư cách là một loại sản phẩm tân kỳ, một gia tài lớn hơnlà một phương tiện đi lại giao thông vận tải thì trong những năm gần đây, chiếc xe máy đã trở nênphổ biến hơn và phần nhiều trở thành phương tiện đi lại giao thông vận tải chính của đại đa sốngười dân. Hiện nay, có những hộ mái ấm gia đình có 1, 2 thậm chí còn có đến 3, 4 chiếc xe máytrong nhà. Trong cơ cấu tổ chức tham gia giao thông vận tải đô thị ở Nước Ta, những số liệu cho biết : tổnglượng xe máy tại việt nam chiếm khoảng chừng 33,5 triệu chiếc. Chỉ riêng thành phố HồChí Minh đã có gần 5 triệu xe máy ( 4.883.753 chiếc ), ở TP.HN thì số lượng nàykhoảng gần 2 triệu xe máy, còn không kể đến một số lượng xe không nhỏ ở những vùngkhác. Ngoài ra, so với thu nhập trung bình của người Nước Ta lúc bấy giờ, xe máy làsự lựa chọn tương thích nhất – nó có giá cả tương đối tương thích ( nhiều xe máycủa Trung Quốc còn có giá rẻ ). Nhận biết được nhu yếu khổng lồ về xe máy như vậy nên trong thời hạn qua đãcó nhiều nhà phân phối trên thị trường xe máy Nước Ta. Các hãng xe máy nổitiếng trên quốc tế như : Honda, SYM, Suzuki, Yamaha … đã triển khai liên kết kinh doanh vớiViệt Nam để sản xuất và phân phối cho người tiêu dùng Nước Ta. Thêm vào đó, trong 5 năm trở lại đây, thị trường xe máy đã phong phú nay còn phong phú hơn bởi nhữngchiếc xe máy Trung Quốc được nhập khẩu cũng như được sản xuất ồ ạt tại Nước Ta. Sản phẩm xe máy Trung Quốc với lợi thế là giá rẻ, chủng loại đa dạng và phong phú đã thực sựphù hợp với người tiêu dùng Nước Ta có nhu yếu sử dụng xe máy song thu nhậpthấp hoặc những người dân có nhu yếu thay đổi mẫu mã xe nhưng không cóđủ tiền … Qua nghiên cứu và phân tích trên ta thấy nhu yếu sử dụng xe máy trên thị trường Nước Ta làrất lớn. Trước tình hình đó, có rất nhiều thời cơ cũng như thử thách để hoàn toàn có thể tiếptục tạo dựng và duy trì lòng tin của người tiêu dùng Nước Ta so với những hãng sảnxuất xe máy về những mẫu sản phẩm mà công ty đã và đang thực thi sản xuất – lắp ráp. 2. Các nhà sản xuất xe máy ở Việt NamTrong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh đối đầu là một yếu tố không hề tránh khỏi đốivới bất kể một doanh nghiệp nào. Cho dù doanh nghiệp đó đang tiến hành kinh doanhở bất kể một nghành nghề dịch vụ nào thì yếu tố cạnh tranh đối đầu luôn song hành với sự sống sót và pháttriển của doanh nghiệp đó. Đối với thị trường xe máy Nước Ta cũng vậy. Trongnhững năm gần đây, trên thị trường xe máy Nước Ta có rất nhiều nhà cung ứng. Họcó những điểm mạnh của riêng mình và đang từng bước khắc họa, chứng minh và khẳng định uytín của mình trên thị trường xe máy Nước Ta. Tiêu biểu đó là sự sinh ra của cáccông ty liên kết kinh doanh xe máy. Sản phẩm của những công ty liên kết kinh doanh này rất phong phú vàphong phú. 2.1. Honda Nước Ta : Công ty Honda Nước Ta là liên kết kinh doanh giữa công ty Honda Motor Nhật Bản, công ty Asian Honda Motor Thailand và Tổng công ty máy động lực và máynông nghiệp Nước Ta, được xây dựng theo giấy phép góp vốn đầu tư số 1521 / GP cấp ngày22 tháng 3 năm 1996. Từ đó đến nay Honda Nước Ta luôn được người tiêu dùngViệt Nam biết đến với uy tín và chất lượng của một tập đoàn lớn sản xuất xe máy lớnnhất trên quốc tế … Sản phẩm bắt đầu là những chiếc xe Honda Cub 50, Cub 70, Super Cub, … đã thực sự chinh phục được lòng tin của người tiêu dùng Việt Nambằng chính chất lượng và sự tiện lợi của những loại sản phẩm đó. Người tiêudùng Nước Ta biết tới xe máy chính là do tập đoàn lớn Honda mang lại, thậm chíngười ta còngọi chiếc xe máy là xe Honda. Xe máy của tập đoàn lớn Honda luônmang đến cho người tiêu dùng Nước Ta cảm xúc bảo đảm an toàn, sự tin cậy vào chấtlượng và độ bền của xe. Honda Nước Ta phân phối cho thị trường những mẫu sản phẩm chính sau : – Nhãn hiệu xe Super Dream ( nay đã có Super Dream mới ). – Nhãn hiệu xe Future gồm : Future NEO và Future II. – Nhãn hiệu xe Wave gồm : Wave α, Wave ZX, Wave RS. – Nhãn hiệu xe tay ga Spacy, @, SH, Dylan … Với một đội ngũ công nhân lao động có kinh nghiệm tay nghề, đội ngũ kỹ sư của HondaViệt Nam được đào tạo và giảng dạy tại quốc tế ( tại Honda Xứ sở nụ cười Thái Lan, Honda Nhật Bản ) thậtsự là cơ sở để Honda Việt Nam bảo vệ chất lượng của từng loại sản phẩm sản xuất ra. Sau 10 năm hoạt động giải trí, Honda Nước Ta đã góp vốn đầu tư gần 194 triệu USD cho sản xuấtkinh doanh với những mẫu sản phẩm được người sử dụng tin dùng như Super Dream, Future, Wave α, Future II và Wave ZX, Wave RS và Future NEO.Cho đến nay, Honda Nước Ta đã có hơn 2,5 triệu loại sản phẩm được khách hàngtrong nước sử dụng. Bên cạnh đó, Honda Nước Ta còn xuất khẩu hơn 163.000 xemáy cùng với động cơ và phụ tùng xe máy, đạt kim ngạch xuất khẩu hơn 96 triệuUSD, trở thành doanh nghiệp tiên phong trong nước xuất khẩu xe máy, phụ tùng. Côngty đã tạo việc làm không thay đổi cho hơn 32.000 lao động. Theo Thời báo kinh tế tài chính – điện tử, vào ngày 14/03/2006, tại lễ kỷ niệm 10 năm ngày xây dựng, ông Hiroaki Funami, Tổng giám đốc công ty Honda Nước Ta, cho biết trong 5 năm tới, công ty sẽ đầu tưthêm khoảng chừng 60 triệu USD cho dự án Bất Động Sản thiết kế xây dựng xí nghiệp sản xuất sản xuất xe hơi Honda tạiViệt Nam. Bên cạnh đó, với một cỗ máy quản trị ngặt nghèo, thống nhất từ tổng giám đốc tớicác giám đốc, phòng, ban, phân xưởng, tổ sản xuất, chất lượng xe máy của HondaViệt Nam luôn được kiểm tra sát sao, ngặt nghèo trước khi xuất xưởng và bán tới tậntay người tiêu dùng. Sản phẩm của Honda Nước Ta đã đạt tiêu chuẩn quản lýchất lượng ISO 9002. Ngay từ khi kiến thiết xây dựng xí nghiệp sản xuất tại Nước Ta, yếu tố môitrường sản xuất đã được chăm sóc. Vì vậy Honda Nước Ta đã được cấp chứng chỉđạt mạng lưới hệ thống quản trị thiên nhiên và môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14000. Với tầm nhìn chiến lượclâu dài, những nhà quản trị của công ty Honda Nước Ta đã và đang góp vốn đầu tư vào việc sảnxuất một phần động cơ tại Nước Ta, cạnh bên đó Honda Nước Ta còn thực thi liêndoanh với công ty VMEP để sản xuất động cơ tiên phong tại Nước Ta. Cùng với việcđảm bảo phân phối cho người tiêu dùng những loại sản phẩm có chất lượng cao, Honda Nước Ta cũng đồng thời kiến thiết xây dựng một mạng lưới bh, sửa chữa thay thế, bảodưỡng cho tổng thể những loại xe mang thương hiệu Honda trên cả nước. Chính do đó xe máy của tập đoàn lớn Honda Nước Ta luôn mang đến cho ngườitiêu dùng Nước Ta cảm xúc bảo đảm an toàn, sự tin cậy vào chất lượng và độ bền của xe. Sau 10 năm đi vào hoạt động giải trí kinh doanh thương mại, công ty Honda Nước Ta đã từng bướctrưởng thành và đứng vững trên thị trường xe máy Nước Ta. 2.2. Yamaha Motor Nước Ta : Công ty Yamaha Motor Nước Ta là doanh nghiệp liên kết kinh doanh giữa công tyYamaha Motor Nhật Bản ( 46 % vốn pháp định ), Tổng công ty lâm nghiệp Nước Ta ( 30 % vốn pháp định ) và công ty công nghiệp Hong Leong Industries BerhadMalaysia ( 24 % vốn pháp định ), trong đó vồn pháp định là 24.250.000 USD. Côngty được xây dựng ngày 01 tháng 4 năm 1999, giấy phép góp vốn đầu tư số 2029 / GP.Văn phòng chính và xí nghiệp sản xuất tại xã Trung Giã, huyện Sóc Sơn, Thành Phố Hà Nội. Hiện naycông ty có khoảng chừng gần 1100 công nhân. Hơn ai hết, tuy là kẻ đến sau nhưng Yamaha đã chiếm được vị trí tương đốivững chắc trong thị trường xe máy Nước Ta. Sản phẩm của hãng được nhiềungười ưa thích – đặc biệt quan trọng là giới trẻ. Yamaha tung ra thị trường với nhiều loại xe từ xesố, xe phanh đĩa, xe ga với mẫu mã sắc tố rất tươi tắn và phong phú. Các kiểu xe gacủa Yamaha như Mio Amore, Mio Maximo, Mio Classical đều có thiết kể nhỏgọn, sang chảnh, giá cả vừa phải, xê dịch từ 16 – 18 triệu đồng, nó rất tương thích vớiphụ nữ Nước Ta, đặc biệt quan trọng là so với những bạn nữ. Với những chiếc xe ga này những bạngái vừa hoàn toàn có thể bộc lộ đậm cá tính, sự năng động của mình nhưng lại vừa mang đến nétdịu dàng, nhẹ nhàng, điệu đàng vốn có của phái đẹp. Vì thế ngay từ khi sinh ra nó đãđược sự ủng hộ phần đông của khá nhiều phái đẹp. Bên cạnh xe ga dành chonữ giới, Yamaha cũng khá thành công xuất sắc cho việc phong cách thiết kế xe ga dành cho phái mạnh – đó chính là Nouvo. Xe được phong cách thiết kế với phần đầu và thân xe bộc lộ sự mạnh mẽcủa phái mạnh, nhẹ nhàng lướt ga nhưng vẫn bộc lộ sự dũng mãnh của mình. Ngoàira thì Yamaha cũng phân phối trên thị trường những xe thuộc dòng xe số nhưJupiter V, Jupiter MX, Sirius V, … Các loại xe này hiện đang rất được ưachuộng trên thị trường – đặc biệt quan trọng là giới trẻ. Theo số liệu của Đoàn công tác làm việc liên ngành khảo sát hoạt động giải trí của những doanhnghiệp xe máy có vốn góp vốn đầu tư quốc tế đăng trên báo Đầu tư ta thấy : Công tyYamaha Motor Nước Ta đã tiêu thụ được khoảng chừng hơn 20.000 xe. Đây là một consố cũng không phải là nhỏ so với một doanh nghiệp mới gia nhập vào sau. Mặc dù không dù không hề cạnh tranh đối đầu với Honda ( Honda Nước Ta ) về chấtlượng nhưng những hãng sản xuất xe máy khác lại có lợi thế hơn Honda Nước Ta vềchủng loại. Chủng loại của những hãng này rất nhiều mẫu mã và phong phú, rất hợpthời trang. Yamaha Motor Nước Ta còn có kế hoạch quảng cáo, tiếp thị rộngrãi, có hình thức “ mua trả góp ” với lãi suất vay hài hòa và hợp lý nhằm mục đích lôi cuốn người mua. Nhữngsản phẩm của những hãng này thường được giới trẻ yêu thích bởi sự thời trang về màusắc cũng như mẫu mã của nó. Tập đoàn Yamaha Nhật Bản đã xây dựng một trungtâm tại Băng Cốc ( Đất nước xinh đẹp Thái Lan ) với tính năng điều tra và nghiên cứu tăng trưởng những loại xe máyđể bán trên thị trường Châu Á Thái Bình Dương và Nước Ta ( hành động này xuất phát từ thực tiễn, trên thị trường Châu Á Thái Bình Dương đang diễn ra sự cạnh tranh đối đầu nóng bức không riêng gì về chất lượnggiá cả mà cả về mẫu mã của xe ). 10N hư vậy, sau một thời hạn hoạt động giải trí Yamaha Motor Nước Ta đã tìmthấy thế mạnh của mình và đang từng bước khẳng định chắc chắn sức mạnh đó trên thị trườngxe máy Nước Ta. 2.3. SYM : Công ty công nghiệp San Yang thuộc tập đoàn lớn Chinfon được xây dựng năm1954 tại Đài Loan, khởi đầu bằng việc sản xuất đinamô cho xe đạp điện. Năm 1962, SanYang khởi đầu sản xuất xe máy và năm 1969 là xe hơi. Trong 50 năm qua, San Yang đãsản xuất và tiêu thụ hơn 6.000.000 xe máy, luôn là doanh nghiệp số 1 về sảnxuất và tiêu thụ xe máy ở Đài Loan. Năm 1992, San Yang đầu tư sản xuất kinh doanh thương mại xe gắn máy tại Nước Ta vớitên vừa đủ là : “ Công ty hữu hạn chế tạo hàng công nghiệp và gia công chế biếnhàng xuất khẩu Nước Ta ” viết tắt là VMEP. VMEP có hai nhà máy sản xuất được xây dựngtại hai tỉnh Hà Tây ( miền Bắc ) và Đồng Nai ( miền Nam ) với tổng số vốnđầu tư 1.160.000.000 đô la Mỹ, có hiệu suất đạt 540.000 xe / năm. Đây là dự án Bất Động Sản sảnxuất xe máy tiên phong ở Nước Ta và cũng là dự án Bất Động Sản lớn nhất ở Nước Ta thuộc loạinày. Từ năm 1996, công ty San Yang Motor Taiwan thuộc Tập đoàn Chinfon đãquyết định nâng tầm bằng chiến dịch toàn thế giới với tên thương hiệu SYM. Hiện nay sảnphẩm của SYM đã xuất hiện tại rất nhiều nước trên quốc tế. Năm 2002 công ty mẹ San Yang đã tăng cường góp vốn đầu tư để tiến hành dự án Bất Động Sản sảnxuất và lắp ráp động cơ 15.000.000 USD. VMEP là công ty tiên phong đưa thiết bị sảnxuất động cơ vào Nước Ta, những phân xưởng tiên phong đã đi vào hoạt động giải trí : sản xuấtxy lanh, cốt cam, phụ tùng xe hơi và khuôn mẫu đúng chuẩn. Đến nay VMEP làdoanh nghiệp có tỷ suất nội địa hoá cao nhất trong những doanh nghiệp sản xuất xe máytại Nước Ta với mức độ nội địa hoá đạt hơn 90 % cho một số ít loại xe. 11V ề nhân sự, VMEP có gần 2000 cán bộ nhân viên cấp dưới chính thức, hàng loạt nhân viênkỹ thuật được giảng dạy trình độ để bảo vệ phân phối chính sách hậu mãi tốt. Sản phẩm mang tên thương hiệu SYM có hai dòng chính : xe Cub ( xe số bìnhthường ) và xe Scooter ( xe tay ga ) : Dòng xe Cub có những thương hiệu xe sau : – Nhãn hiệu xe Angel. – Nhãn hiệu xe Magic. – Nhãn hiệu xe Star. – Nhãn hiệu xe Amigo. – Nhãn hiệu xe Bonus. – Nhãn hiệu xe Husky. Dòng xe Scooter gồm có : – Nhãn hiệu xe Attila. – Nhãn hiệu xe Excel. – Nhãn hiệu xe HD. – Nhãn hiệu xe GTS.Doanh số bán của SYM miền Bắc trong một vài năm gần đây : – Năm 2000 bán được 46.866 xe. – Năm 2002 bán được 75.871 xe. – Năm 2002 bán được 142.849 xe. – Năm 2003 bán được 150.523 xe. – Năm 2004 bán được 139.134 xe. – Năm 2005 bán được 52.433 xe. 12V ới chất lượng và uy tín cũng như sự tìm tòi, nâng cấp cải tiến không ngừng với nhữngsản phẩm mẫu mã đẹp, chất lượng cao, SYM ở Nước Ta đã và đang trở thànhmột trong những thương hiệu được người tiêu dùng Nước Ta yêu thích và tin cậy. 2.4. Nước Ta Suzuki : Suzuki là một hãng xe lớn của Nhật Bản. Công ty Nước Ta Suzuki thành lậpvào ngày 21 tháng 4 năm 1995 với lượng vốn pháp định là 11.700.000 USD ( trongđó CP của công ty Suzuki Motor chiếm 35 %, công ty Nissho Iwai chiếm 35 % vàcông ty Vikyno chiếm 30 % ), tổng số vốn góp vốn đầu tư là 34.200.000 USD.Năm 1996 công ty Nước Ta Suzuki đi vào hoạt động giải trí. Tháng 9/1996 : ViệtNam Suzuki đã sản xuất xe GN 125, loại xe Suzuki tiên phong tại Nước Ta. Tháng 10/1996 : công ty đã cho sinh ra Viva CD, mẫu xe Viva tiên phong ra đời tại ViệtNam, kiến thiết xây dựng nên một hình ảnh thời trang cho xe máy. Ngoài việc nâng cấp cải tiến những loại sản phẩm hiện có, Nước Ta Suzuki còn đưa ra thịtrường những kiểu xe mới như Shogun R125 ( giá 23,5 VND / xe ), Viva 110 thường vàphanh đĩa, Smash 110 ( giá : 15,7 VND / xe ) … Ngoài ra hãng còn sản xuất một sốloại xe khác, tuy nhiên những loại xe này không được yêu thích lắm trên thị trườngASEAN, gồm có : – Xe thể thao ( Super Sport ) : điển hình nổi bật với kiểu xe GSX hay Hayabusa đều hỗ trợtối đa năng lực tăng cường, ngoặt góc hoặc phanh – thắng trong một mẫu mã oai vệ thểhiện phong thái can đảm và mạnh mẽ của người lái. – Xe chạy đường trường ( Street ) : đáng quan tâm có kiểu xe V-Strom bộc lộ sự tựdo thật sự và một niềm tin can đảm và mạnh mẽ khi vượt những con đường dài hayngoằn nghèo nhưng với một cảm xúc tự do và phấn khích. – Xe tay ga ( Scooter ) : nổi trội trong dòng xe này có kiểu xe Burgman. Đây là sựkết hợp tuyệt vời trong phong cách thiết kế giữa sáng tạo độc đáo về xe tay ga và xe máy size lớn13nhằm ngày càng tăng tính thực tiễn đồng thời tạo được sự tự do tối đa cho người sửdụng. Đến nay, Burgman được xem như một chuẩn mực trong dòng xe tay ga. – Xe Off-road : trong dòng xe này Suzuki có DR-Z. Kiểu xe này được trang bịđộng cơ can đảm và mạnh mẽ và bền chắc, thích hợp hoạt động giải trí trên nhiều loại địa hình. Xe DR-Zđược phong cách thiết kế thích hợp cho cả người lớn lẫn người trẻ tuổi. – Xe vượt chướng ngại vật ( Motocross ) : RM, loại xe đua được phong cách thiết kế giúpgiữ cân đối tốt khi vượt chướng ngại vật. RM đã lập nên thắng lợi cùng với cáctay đua vô địch trên những đương đua trên khắp quốc tế. – Xe vượt mọi địa hình ( ATVs ) : 1 số ít kiểu xe do suzuki sản xuấtbao gồmVinson, Ozark, Eiger, QuadSport. Tất cả được phong cách thiết kế với những tính năng nổi trộinhằn mang lại sự tự do thực sự, được cho phép người sử dụng đi đến bất kể nơi đâutrong mọi điều kiện kèm theo. Sản lượng mỗi năm của Nước Ta Suzuki là 4.000 chiếc xe hơi, 60.000 chiếc xemáy. Sản lượng xe máy của Nước Ta Suzuki từ năm 1996 đến năm 2002 như sau : – Năm 1996 : 2.040 chiếc ( 4 tháng hoạt động giải trí ). – Năm 1997 : 12.253 chiếc III. – Năm 1998 : 25.015 chiếc. – Năm 1999 : 21.775 chiếc. – Năm 2000 : 23.964 chiếc. – Năm 2001 : 28.241 chiếc. – Năm 2002 : 42.797 chiếc. Với khẩu hiệu xe máy Suzuki “ Ride the winds of change ”, Suzuki chấp nhậnthách thức trong việc nâng cấp cải tiến công nghệ tiên tiến nhằm mục đích đem lại những mẫu sản phẩm xe máy tinhtế đem lại xúc cảm trọn vẹn mới cho người sử dụng, họ đã “ thổi luồng gió mới chocuộc sống ” và đã được người tiêu dùng Nước Ta gật đầu. Suzuki với mạng lưới hệ thống đại14lý xuất hiện rộng khắp cả nước ( trong đó có hơn 16 đại lý và TT bảo hành tại HàNội ) nhằm mục đích Giao hàng người mua một cách chu đáo và thuận tiện. Hệ thống này là sựkết hợp hiệu suất cao của những shop Suzuki 3S đảm nhiệm tổng thể những dịch vụ tương quan, đó là bán hàng ( sales ), dịch vụ hậu mãi ( after sales services ) và cung ứng phụ tùngSuzuki đúng thương hiệu ( Spare parts ). Tất cả, từ cấu trúc toàn diện và tổng thể cho đến từng cụ thể, vậtdụng nhỏ, tích hợp tạo nên một hình ảnh đồng nhất, hài hoà, đầy phát minh sáng tạo cho tất cảcác shop Suzuki trên toàn nước. Các chiến dịch hậu mãi với tên gọi “ Suzukichăm sóc người mua ” được tổ chức triển khai hàng năm tương hỗ những dịch vụ hậu mãi cộngthêm bộc lộ sự chăm sóc người mua ngay cả sau khi đã bán. Thương Mại Dịch Vụ cũng như cácđiều lệ bh của Suzuki được hướng dẫn cho người mua ngay sau khi bán. Chính nhờ sự nỗ lực không ngừng nên thị trường tiêu thụ của Việt NamSuzuki ngày càng được lan rộng ra trên thị trường xe máy Nước Ta. Người tiêudùng Nước Ta đã dần gật đầu và ủng hộ những mẫu sản phẩm của công ty. 2.5. Các hãng cung ứng xe máy khác : Theo nhìn nhận của những chuyên viên, lúc bấy giờ giá bán xe máy của những doanhnghiệp có vốn góp vốn đầu tư nước ngòai vẫn cao hơn rất nhiều so với giá của những loại xeđược sản xuất tại những nước ASEAN, Đài Loan … Đặc biệt trong điều kiện kèm theo mức thunhập trung bình đầu người của Nước Ta còn thấp thì giá bán xe máy lúc bấy giờ củacác doanh nghiệp có vốn góp vốn đầu tư quốc tế được những chuyên viên nhìn nhận là : “ Caobất hài hòa và hợp lý ”. Theo số liệu báo Đầu tư, cơ quan của Bộ kế hoạch và góp vốn đầu tư rangày 13/02/2001 ta thấy : đầu tháng 2/2001, tập đoàn lớn công nghiệp Lifan ( TrungQuốc ) đã chính thức đưa vào thị trường Nước Ta những loại xe máy mới : xe LF110 – 9A với động cơ 110 cc Best Style – LF 1 p53FMH ( 982 ), mạng lưới hệ thống đánh lửa DL – CDI ( khởi động điện tử một chiều ), đánh lửa nhanh, không thay đổi, dễ khởi động, bánhcam biến tốc lắp thêm vòng bi, quy đổi nhẹ, linh động, … đã cho thấy những ôngchủ những tập đoàn lớn sản xuất xe máy Trung Quốc đã khai thác triệt để thị trường ViệtNam. Nắm bắt được nhu yếu về xe máy tại Nước Ta là rất cao, trong những năm gần15đây, những ông chủ tập đoàn lớn sản xuất xe máy lớn tại Trung Quốc như : tập đoànLifan, Zongshen, Hongda, Fushi, … bằng “ giải pháp ” theo mẫu của những động cơ cósẵn trên thị trường đã sản xuất hàng loạt loại sản phẩm xe máy với giá bán thấp kỷ lụcđể xuất sang thị trường Khu vực Đông Nam Á, Châu Phi trong đó có Nước Ta. Ý đồ này đãthực sự rất thành công xuất sắc trên thị trường Nước Ta vì một hầu hết người dân lao độngViệt Nam có nhu yếu mua xe máy tuy nhiên lại có thu nhập thấp, hoặc những người cónhu cầu đổi xe máy mới tuy nhiên lại không có đủ tiền, … Với sự Open của những mẫu sản phẩm xe máy Trung Quốc, thị trường xe máyViệt Nam đã thực sự sôi động lên rất nhiều. Những loại sản phẩm xe máy Trung Quốcđược nhập khẩu vào Nước Ta hàng loạt với giá cả rất thấp, tuỳ thuộc vào từngchủng loại, động cơ mà giá bán chỉ xê dịch từ 7 – 10 triệu đồng. Người Việt Namđã hoàn toàn có thể thoả mãn nhu yếu của mình với những mẫu sản phẩm phong phú, nhiều mẫu mã mà giábán chỉ bằng 1/3 đến 50% giá cả của một số ít hãng sản xuất nổi tiếng như : Honda, Suzuki, Yamaha … Gián tiếp đưa loại sản phẩm xe máy Trung Quốc vào thị trường Nước Ta đó lànhững doanh nghiệp lắp ráp dây chuyền sản xuất dạng IKD. Doanh nghiệp lắp ráp trên thịtrường Nước Ta sống sót lên tới hàng trăm doanh nghiệp lớn, nhỏ của Nước Ta cũngcó mà liên kết kinh doanh với quốc tế cũng có. Qua đó ta thấy sản lượng xe máy TrungQuốc đưa vào thị trường Nước Ta cũng ngày càng tăng lên. Hoạt động của cácdoanh nghiệp này hầu hết là nhập linh phụ kiện, chi tiêt, phụ tùng của những hãng sảnxuất tại Trung Quốc rồi đem về lắp ráp, triển khai xong để tung ra thị trường. Giáđầu vào của một bộ linh phụ kiện giao động từ 300 – 350 USD / bộ linh phụ kiện, trong đó giábán xê dịch khoảng chừng từ 8 – 10 triệu đồng đã lôi cuốn rất nhiều những doanh nghiệp lắpráp này đi vào hoạt động giải trí. Tình hình cạnh tranh đối đầu trên thị trường xe máy Việt Namdiễn ra khá nóng bức và kinh khủng. Các hãng xe nổi tiếng phải cạnh tranh đối đầu với nhau vàcạnh tranh với xe máy Trung Quốc. Không những “ nhái lại ” mẫu mã mà nhữngngười sản xuất xe máy Trung Quốc còn nhái lại “ thương hiệu ” hoặc nếu có khác thì chỉkhác ở một số ít bộ phận, cụ thể mà rất khó hoàn toàn có thể nhận ra. Những người không sành16về xe máy sẽ rất khó phân biệt đâu là xe chính hãng, đâu là xe Trung Quốc. Cuộccạnh tranh cũng diễn ra nóng bức so với những doanh nghiệp lắp ráp – sản xuất xe máycó vốn góp vốn đầu tư quốc tế tại Nước Ta. Họ cạnh tranh đối đầu bằng chính lợi thế của mình. Từ những nghiên cứu và phân tích trên tất cả chúng ta hoàn toàn có thể thấy được thị trường những nhà cung cấpxe máy tại Nước Ta đang diễn ra rât sôi động, những hãng cạnh tranh đối đầu rất nóng bức. Vì thếđể hoàn toàn có thể đứng vững và tăng trưởng thị trường trên thị trường Nước Ta, cáchãng không những phải phát huy tốt những thời cơ, những thế mạnh của bản thânmình mà còn phải biết đối phó lại những kế hoạch cạnh tranh đối đầu của đối thủ cạnh tranh cạnhtranh. Chỉ có như vậy mới đem lại sự thành công xuất sắc cho những hãng trên thị trường xe máyViệt Nam. II – Đặc trưng của thị trường xe máy tại Nước Ta trong năm gần đây : 1. Đảo chiều ngoạn mụcNăm 2011 vừa mới qua tận mắt chứng kiến sự dịch chuyển mạnh của thị trường xe máy, khôngphải bởi những tác động ảnh hưởng của chủ trương mà do quy luật cung và cầu trong toàn cảnh kinh tếkhó khăn, lạm phát kinh tế tăng cao. Còn nhớ hồi đầu năm, cơn sốt những xe tay ga, điển hìnhvà hầu hết là những mẫu xe ga của Honda như PCX, Air Blade, Lead đẩy giá bán tới tayngười tiêu dùng chênh 3-5 triệu đồng, thậm chí còn hàng chục triệu đồng so với giá đềxuất của nhà phân phối. Chẳng hạn thời gian cuối năm 2010, đầu năm 2011, hầu hết những đại lý Hondađều xảy ra thực trạng ” hết hàng ” với xe PCX, nhưng khi ra những shop nhỏ lẻ bênngoài ( được cho là có mối quan hệ mật thiết với những đại lý Honda ) thì khách hàngmua bao nhiêu xe và màu gì cũng có, tuy nhiên giá bán tới 60-65 triệu đồng / chiếc, cao hơn giá yêu cầu tới 10-15 triệu đồng / chiếc. Đầu tháng 4/2011, liên kết kinh doanh Nhật bí mật tăng giá yêu cầu PCX lên 59 triệuđồng. Tuy nhiên kể từ thời gian này, những đại lý Honda chỉ duy trì được một thời gianngắn giá bán ra bằng với giá yêu cầu, sau đó liên tục giảm mạnh và lê dài tới cuối17năm, với mức giá bán ra thấp hơn giá niêm yết tới 5-7 triệu đồng / chiếc. Khi ấy, mộtđại lý Honda tại Thành Phố Hà Nội than phiền với chúng tôi rằng nếu như trước kia PCX lên cơnsốt bao nhiêu thì giờ đây ế ẩm tồn kho bấy nhiêu, họ chuẩn bị sẵn sàng bán giá PCX với giá 50 triệuđồng / chiếc để nhanh gọn quay vòng vốn ( thấp hơn giá yêu cầu 9 triệu đồng / chiếc ), với điều kiện kèm theo phải mua hàng chục chiếcAir Blade mới trong buổi ra đời tại TP Hồ Chí Minh đầu tháng 4/2011. ảnh QTCũng trong đầu tháng 4/2011, Honda việt nam quyết định hành động làm mới mẫu xe ăn kháchnhất của mình là Air Blade bằng phiên bản 2011, với giá kinh doanh nhỏ yêu cầu cũng tăng tới3 triệu đồng, lên 36-37 triệu đồng / chiếc. Chỉ sau một thời hạn ngắn ra đời và đặcbiệt là sau khi bí mật tăng thêm 1 triệu đồng, giá cả trong thực tiễn của Air Blade liên tụcgiảm, thậm chí còn giảm tới 3-4 triệu đồng so với giá yêu cầu. Trong quá trình này, giábán lẻ thực tiễn của xe tay ga Lead cũng giảm 2-3 triệu đồng so với giá yêu cầu củaHonda. Ngay cả mẫu xe mới ra đời Honda Vision sau vài tháng loạn giá, giá cả caohơn tới 2-3 triệu đồng so với giá đề xuất kiến nghị 28,5 triệu đồng thì đến thời gian cuối năm, giá trong thực tiễn tới tay người tiêu dùng chỉ còn khoảng chừng 26 – 26,5 triệu đồng. 18K hông chỉ xe Honda mà những mẫu xe cùng tham gia ” chiến dịch ” loạn giá nhưYamaha Nozza, Exciter hay Piaggio Liberty cũng phải trở lại mức giá đề xuất kiến nghị vàothời điểm cuối năm do nhu yếu giảm mạnh. Theo 1 số ít đại lý Honda, sự giảm giá xe máy chỉ khiến đại lý thiệt thòi vì quanhệ giữa đại lý và công ty Honda là mua đứt bán đoạn. Vì thế, trong năm qua, dùHonda Nước Ta vẫn đạt sản lượng tới 2,1 triệu chiếc nhưng đa phần những đại lý ủynhiệm Honda đều thở dài ngao ngán bởi nửa cuối năm 2011 vừa mới qua, họ chỉ bán hòavà lỗ, trong khi lạm phát kinh tế tăng cao, hàng loạt ngân sách duy trì hoạt động giải trí của đại lýtăng vọt2. Nguy cơ cung sớm vượt cầuNhận định thị trường xe máy Nước Ta vẫn tăng mạnh trong những năm tới nêncác đơn vị sản xuất đua nhau nâng hiệu suất. Được xây dựng vào năm 1996, HondaViệt Nam xuất xưởng chiếc xe máy tiên phong vào tháng 2/1998. Nếu như giai đoạnđầu phải mất đúng 10 năm sau, Honda việt nam mới sản xuất được chiếc xe thứ 5 triệu ( tháng 7/2008 ) thì chỉ cần đúng 3 năm, liên kết kinh doanh Nhật đã có thêm 5 triệu xe nữa đểđạt sản lượng 10 triệu xe máy vào tháng 09 / 2011. Chưa dừng lại ở đó, cuối năm2011 vừa mới qua, Honda Nước Ta đã quyết định hành động góp vốn đầu tư thêm 120 triệu USD xây dựngnhà máy xe máy thứ ba tại tỉnh Hà Nam, nâng năng lượng sản xuất xe máy của doanhnghiệp này lên 2,5 triệu xe / năm. Không chịu thua kém, doanh nghiệp xe máy lớn thứ hai là Yamaha Việt Namcũng chi khoảng chừng 50 triệu USD để tăng hiệu suất của xí nghiệp sản xuất tại Thành Phố Hà Nội lên gấp hailần lúc bấy giờ, hướng tới sản lượng 1,5 triệu xe / năm. 19S ản xuất xe máy tại nhà máy sản xuất Piaggio việt nam tại tỉnh Vĩnh Phúc. ảnh QTTrong khi đó, Piaggio Nước Ta sau khi đưa xí nghiệp sản xuất thứ nhất với công suất100. 000 xe / năm vào hoạt động giải trí ( tháng 6/2009 ), hiện đang góp vốn đầu tư xí nghiệp sản xuất thứ hai đểnâng hiệu suất sản xuất xe máy lên 300.000 xe / năm. Cùng với sản lượng của SYM là300. 000 chiếc, Suzuki 200.000 chiếc và 1 số ít doanh nghiệp khác khoảng chừng hơn100. 000 chiếc, tổng sản lượng xe máy sản xuất trong nước sẽ lên mức xê dịch 5 triệuchiếc / năm vào cuối năm 2012 này. Trong khi quy mô sản xuất xe máy tăng mạnh và ở mức cao thì theo đo lường và thống kê, nhu yếu thị trường đang ở mức thấp hơn khá nhiều. Ví dụ năm 2009 cả nước tiêu thụkhoảng 2,75 triệu chiếc, sang năm 2010 đạt mức gần 3 triệu chiếc và năm 2011 khoảng chừng 3,3 triệu chiếc. Như vậy, hoàn toàn có thể chứng minh và khẳng định hiệu suất sản xuất xe máy sắp tớicủa Nước Ta sẽ vượt xa so với nhu yếu và trong toàn cảnh đó, bài toán đặt ra với cácnhà sản xuất xe máy càng nan giải, đặc biệt quan trọng ai cũng hiểu, tình hình trái chiều giữadoanh thu, doanh thu của xí nghiệp sản xuất và đại lý như năm qua không hề kéo dài20KẾT LUẬNMở rộng thị trường và tạo dựng một hình ảnh tốt đẹp trong tâm lý khách hàngluôn là mong ước của bất kể doanh nghiệp nào. Do vậy những công ty luôn địnhhướng cho hoạt động giải trí kinh doanh thương mại của mình xuất phát từ thị trường. Một công ty muốnđứng vững trên thị trường thì phải điều tra và nghiên cứu nhu yếu của người mua, tìm hiểu và khám phá cácđối thủ cạnh tranh đối đầu để hoàn toàn có thể đưa ra kế hoạch, kế hoạch kinh doanh thương mại tương thích, tìm racác giải pháp có hiệu suất cao để triển khai những kế hoạch đó một cách tốt nhất. Và đốivới những nhà sản xuất xe máy cũng vậy. Ngoài việc hoàn toàn có thể phân phối cho kháchhàng những mẫu sản phẩm xe máy có mẫu mã, màu sắc đẹp những hãng còn phải nắmđược nhu yếu của người mua để hoàn toàn có thể cung ứng những nhu yếu đó một cách tốt nhất. Chính vì vậy ngoài việc bảo vệ chất lượng xe máy trước khi bán, những hãng còn phảiquan tâm đến chất lượng xe sau khi bán hay những dịch vụ sau khi bán. Qua một thời hạn khám phá hoạt động giải trí Marketing cũng như những dịch vụ hậu mãicủa những hãng phân phối xe máy trên thị trường Nước Ta, tôi thấy những hãng cung cấpxe máy đã có 1 số ít hoạt động giải trí trong dịch vụ sau bán hàng nhằm mục đích lan rộng ra thị trườngcũng như lôi cuốn người mua … Qua bản báo cáo giải trình này, nó phần nào đã giúp chúng tacó thể hiểu được tầm quan trọng hay tác động ảnh hưởng của dịch vụ bh tới quyết địnhmua xe máy của người tiêu dùng Nước Ta. Bản báo cáo này đã chứng tỏ đượcrằng không những chỉ là một dịch vụ kèm theo khi người mua mua xe máy mà dịchvụ Bảo hành đã có vai trò khá quan trọng trong quyết định hành động mua xe máy của ngườitiêu dùng. 21T ÀI LIỆU THAM KHẢO1 ) PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH, Tác Giả : Dennis C.McCornac, FETP, Phiên Dịch : Hiếu Hạnh, Hiệu Đính : Văn Thanh. 2 ) Giáo trình CĂN BẢN KINH TẾ VI MÔ, Khoa Quản Trị Kinh Doanh, Đạihọc Duy Tân. 3 ) www.baomoi.com/Tag/thị-trường-xe-máy.epi.4 ) dantri.com.vn/o-to-xe-may/diu-hiu-thi-truong-xe-may-630173.htm5 ) news.zing.vn/thi-truong-xe-may/tag64403.html6 ) autopro.com.vn/xe-may.chn
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Thị Trường






