Kịch tâm lý tình cảm – Wikipedia tiếng Việt

Mélodrame (Kịch tâm lý tình cảm) của tác giả Bức họa có tên ( Kịch tâm ý tình cảm ) của tác giả Honoré Daumier vẽ trong quá trình 1856 – 1860, diễn đạt khung cảnh thành phố Paris nổi bật đặt trong toàn cảnh Đại lộ Temple

Kịch tâm lý tình cảm hay kịch mêlô (tiếng Anh: melodrama), bao gồm cả phim tâm lý tình cảm, là một tác phẩm kịch và do đó cốt truyện gây xúc động mạnh với mục đích lay động cảm xúc mãnh liệt cũng như tạo tiền đề cho sự xây dựng đặc tính nhân vật được cặn kẽ, chi tiết. Thể loại này đặc trưng ở việc đặt trọng tâm vào các màn đối thoại vốn thường khoa trương hoặc quá ủy mị, hơn là tập trung vào hành động. Các nhân vật thường được khắc họa đơn giản hoặc có thể là nhân vật kiểu mẫu.

Các phân nhánh[sửa|sửa mã nguồn]

  • Nhà lý luận và phê bình văn học Northrop Frye người Canada nhận thấy cả hai hình thức quảng cáo và tuyên truyền dưới dạng tâm lý tình cảm mà những người có học thức không thể nắm bắt thực sự.[1]
  • Nền chính trị một lúc nào đó sẽ yêu cầu kịch tâm lý tình cảm nhằm kết nối một cái nhìn toàn thế giới. Theo đó, nhà sử học Richard Overy chỉ ra rằng nước Anh những năm 1930 nhìn nhận văn minh một cách phóng đại dưới sự đe dọa: “Trong màn kịch tâm lý tình cảm vĩ đại này, nước Đức của Hitler là kẻ phản diện; nền văn minh dân chủ là vai nữ chính bị đe dọa”;[2] – trong khi đó thủ tướng Winston Churchill đem đến người anh hùng lớn-hơn-đời vô cùng cần thiết nhằm nối khớp sự kháng cự bị-dồn-đến-chân-tường trong cuộc oanh kích Blitz.[3]

Kịch tâm ý tình cảm cổ xưa hiện không còn thông dụng trên sóng truyền hình và điện ảnh phương Tây như xưa nữa. Tuy vậy nó vẫn còn thông dụng thoáng đãng ở những khu vực khác, đặc biệt quan trọng là tại châu Á và những nước nói tiếng Tây Ban Nha. Tâm lý tình cảm là một trong những thể loại chính ( cùng với lãng mạn, hài kịch và kỳ ảo ) sử dụng trong phim truyền hình Mỹ Latinh ( telenovela ), nhất là tại những nước Venezuela, México, Colombia, Argentina và Brasil, cũng như ở dòng phim truyền hình châu Á, đặc biệt quan trọng là của Nước Hàn, Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc, Pakistan, Xứ sở nụ cười Thái Lan, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ và Philippines ( vương quốc có sự trộn lẫn giữa hai nền văn hóa truyền thống Tây Ban Nha và châu Á ). Cộng đồng người theo dõi hải ngoại của những vương quốc này cũng góp phần vào thị trường toàn thế giới .

Phim tâm lý tình cảm là một nhánh nhỏ của dòng phim chính kịch đặc trưng bởi cốt truyện lay động cảm xúc mạnh mẽ ở người xem.

  1. ^

    N. Frye, Anatomy of Criticism (Princeton, năm 1971), tr. 47

  2. ^

    Trích dẫn trong tác phẩm The Literary Churchill của J. Rose (Yale, năm 2015), tr. 291

  3. ^

    J. Webb, I Heard My Country Calling (năm 2014), tr. 68

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]