Trịnh – Nguyễn phân tranh – Wikipedia tiếng Việt
Trịnh – Nguyễn phân tranh (chữ Hán: 鄭阮紛爭) là thời kỳ phân chia lãnh thổ giữa chế độ “vua Lê chúa Trịnh” ở phía Bắc sông Gianh (Đàng Ngoài) và chúa Nguyễn cai trị ở miền Nam (Đàng Trong), mở đầu khi Trịnh Tráng đem quân đánh Nguyễn Phúc Nguyên năm 1627 và kết thúc vào cuối thế kỷ 18 khi nhà Tây Sơn lật đổ cả chúa Nguyễn lẫn chúa Trịnh.
Ban đầu, cả thế lực họ Trịnh và họ Nguyễn đều mang khẩu hiệu ” phù Lê diệt Mạc ” để lấy lòng thiên hạ và thề trung thành với chủ với triều Hậu Lê. Sau khi nhà Mạc đã bị đánh đổ, trên danh nghĩa, cả Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn đều là 2 vị bề tôi của nhà Hậu Lê, cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài đều là chủ quyền lãnh thổ của nhà Lê. Nhưng trên thực tiễn thì cả hai tập đoàn lớn phong kiến này đều tạo thế lực cát cứ cho riêng mình như 2 nước riêng không liên quan gì đến nhau, vua nhà Hậu Lê đã không còn thực quyền nên không ngăn ngừa được sự phân tranh giữa hai họ Trịnh – Nguyễn. Nước Đại Việt trong quá trình này bị chia cắt hơn 150 năm .
Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Hậu Lê lập ra nhà Mạc. Năm 1533, tướng cũ của nhà Lê là Nguyễn Kim lập con vua Lê Chiêu Tông lên ngôi, tức là Lê Trang Tông. Năm 1545, Nguyễn Kim bị sát hại, con rể là Trịnh Kiểm lên thay. Để nắm trọn binh quyền, Trịnh Kiểm đầu độc giết con cả của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông. Em của ông là Nguyễn Hoàng lo sợ bị anh rể hại, nên nghe theo lời khuyên của Nguyễn Bỉnh Khiêm, xin vào trấn thủ Thuận Hóa. Trịnh Kiểm cho rằng đất ấy là nơi xa xôi, hoang vu nên đồng ý cho đi, với hy vọng rằng khi đụng độ với quân nhà Mạc, Nguyễn Hoàng sẽ bị giết chết dưới tay chúng. Tuy nhiên, ngạc nhiên thay, Nguyễn Hoàng không những đánh bại được quân nhà Mạc, mà lại còn lấy được lòng dân Thuận Hóa nữa.
Bạn đang đọc: Trịnh – Nguyễn phân tranh – Wikipedia tiếng Việt
Mải đối phó với nhà Mạc ở phương bắc, Trịnh Kiểm cho Nguyễn Hoàng kiêm trấn thủ luôn Quảng Nam. Năm 1570, Trịnh Kiểm chết, con cả là Trịnh Cối lên thay. Cối không màng chính vì sự, bị em là Trịnh Tùng đoạt quyền. Cối cùng đường đầu hàng nhà Mạc và chết già ở đất Bắc .Trịnh Tùng nắm đại quyền, thao túng triều đình, cho người ám sát vua Lê Anh Tông lập vua nhỏ là Thế Tông. Năm 1592, Trịnh Tùng đánh chiếm được Thăng Long, đuổi họ Mạc chạy lên Cao Bằng. Khi rước được vua Lê về kinh thành, Trịnh Tùng khởi đầu tính tới người cậu Nguyễn Hoàng ở phuơng nam .
Nội Dung Chính
Chiến tranh ngầm[sửa|sửa mã nguồn]
Cuộc chiến Trịnh – Nguyễn thực sự diễn ra từ năm 1627 nhưng đó là chỉ tính về mặt quân sự chiến lược. Nếu tính cả trên mặt trận ngoại giao, xung đột giữa hai bên đã nổ ra từ nhiều năm trước .
Nguyễn Hoàng trốn về Nam[sửa|sửa mã nguồn]
Năm 1593, Trịnh Tùng triệu Nguyễn Hoàng ra Bắc với nguyên do để cùng đánh tàn dư họ Mạc còn tản mát ở Bắc bộ. Hoàng vâng lệnh mang quân ra bắc, phá vỡ quân Mạc ở Hà Trung và Sơn Nam, sau đó được Tùng giao nghĩa vụ và trách nhiệm trấn giữ Sơn Nam .Nguyễn Hoàng đóng quân ở Sơn Nam được 8 năm cố tìm cách thoát về nam. Năm 1600, nhân họ Mạc nổi dậy, Hoàng ngầm xúi giục những hàng tướng Mạc cũ là Phan Ngạn, Bùi Văn Khuê, Ngô Đình Nga làm mưa làm gió để lấy cớ đi dẹp. Trịnh Tùng mải đối phó họ Mạc ở Cao Bằng, họ Vũ ở Tuyên Quang ( tức Chúa Bầu ) [ 2 ] nên đồng ý chấp thuận cho Nguyễn Hoàng đi dẹp. Hoàng nhân thời cơ đó chạy thẳng ra biển đi thoát về nam .Thấy Nguyễn Hoàng trốn thoát, Trịnh Tùng sai người cầm thư vào nam dụ ra lần nữa nhưng Hoàng không ra, sau đó lại bỏ không nộp thuế đều đặn cho miền bắc. Để xoa dịu tình hình, Hoàng gả con gái là Ngọc Tú cho con Tùng là Tráng ( tức là cháu lấy cô ) .
Năm 1613, Nguyễn Hoàng qua đời, người con trai thứ 6 là Nguyễn Phúc Nguyên lên thay, tức là Sãi vương ( hay chúa Sãi ). Năm 1623, Bình An Vương Trịnh Tùng qua đời, con là Trịnh Tráng lên thay, tức là Thanh Đô Vương .Sử sách nhà Nguyễn chép rằng, năm 1627, lấy cớ Nguyễn Phúc Nguyên bỏ không nộp thuế cho vua Lê, Trịnh Tráng làm sắc thay mặt đứng tên vua Lê gửi trách Nguyễn, đòi đích thân hoặc sai con tải thuế ra bắc. Theo kế của mưu sĩ Đào Duy Từ, Phúc Nguyên một mặt lo tăng cường phòng thủ, một mặt tìm cách trả lại sắc thư .Theo giai thoại, vì lực lượng yếu không hề ra mặt trả sắc thư cho chúa Trịnh, chúa Nguyễn sai đúc mâm hai đáy, để sắc thư kèm theo một bài thơ do Đào Duy Từ viết, cho vào đáy dưới, bên trên để vàng bạc, rồi sai Văn Khuông mang ra bắc tạ với chúa Trịnh. Khuông dâng mâm lên chúa Trịnh rồi giả cách về công quán nghỉ, trốn luôn về nam. Phía Trịnh phát hiện mâm hai đáy bèn mở ra, bên trong có tờ sắc thư và một bài thơ chữ Hán như sau :
矛而無腋覔非見跡愛落心腸力來相敵
Âm Hán-Việt :
Mâu nhi vô dịchMịch phi kiến tíchÁi lạc tâm trườngLực lai tương địch
Các bầy tôi dưới quyền chúa Trịnh không giải được nghĩa bài thơ. Mãi sau Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan mới giải được nghĩa rằng :
- Câu đầu ý là chữ “mâu” (矛) bỏ nét phẩy. Chữ “mâu” không có nét phẩy thì thành ra chữ “dư” (予), nghĩa là “ta”, “tôi”.
- Câu thứ hai ý là chữ “mịch” (覔) bỏ chữ “kiến” (見). Chữ “mịch” sau khi bỏ chữ “kiến” thì còn lại chữ “bất” (不), nghĩa là “không”.
- Câu thứ ba ý là chữ “ái” (愛) bỏ chữ “tâm” 心. Chữ “ái” không có chữ “tâm” thì thành ra chữ “thụ” (受), nghĩa là “nhận”.
- Câu cuối ý là chữ “lai”(來) ghép với chữ “lực” (力). Chữ “lai” đem ghép với chữ “lực” thì thành chữ “sắc” (勑).
Ẩn ý của bài thơ này là ” dư bất thụ sắc ” ( 予不受勑 ), nghĩa là ” Ta không nhận sắc ” .
Theo sử sách nhà Nguyễn,[3] sau khi hiểu được nghĩa bài thơ, nhận ra câu trả lời ngang ngạnh của Nguyễn Phúc Nguyên, Trịnh Tráng tức giận quyết định khởi đại binh vào nam. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu[4] đều cho rằng điều này không phải là sự thật. Trên thực tế, người giải được bài thơ của Đào Duy Từ là Phùng Khắc Khoan đã mất từ năm 1613, trước đó 14 năm rồi. Không những thế, trong chính cuốn sử biên niên Đại Nam thực lục của nhà Nguyễn cũng chép rằng, sau khi Văn Khuông dâng mâm xong trốn về, tướng Nguyễn đóng ở biên giới đã chủ động đánh lấn sang đất Trịnh gây hấn trước, do đó Trịnh Tráng mới động binh vào nam, dẫn tới cuộc đại chiến đầu tiên giữa Trịnh và Nguyễn.
Sau này, những sử gia văn minh tìm ra rằng chân tướng của vấn đề này không giống những gì sử nhà Nguyễn chép. Chiếc mâm đồng hai đáy và bài thơ mà Đào Duy Từ dụng tâm khổ trí làm ra thì hoàn toàn có thể có, nhưng thực ra phía Trịnh đã không phát hiện ra cái mâm có hai đáy và do đó chúa Trịnh không phải tức giận về bài thơ này. Nhà Nguyễn muốn cha ông mình – chúa Sãi – đấm được họ Trịnh một cú đòn ngoại giao ngoạn mục, nhưng trên trong thực tiễn quả đấm đó ” chỉ trúng vào không khí “. Các sử gia nhà Nguyễn đã sơ hở khi ghi rằng Trạng Bùng làm người giải bài thơ của mưu sĩ họ Đào, nhưng lại quên rằng lúc đó Trạng Bùng đã qua đời từ lâu ( ông qua đời năm 1613 ). Theo những nhà nghiên cứu, việc chúa Nguyễn tiếp tục không nộp thuế, cũng không ra nộp mình và cũng không sai con ra nhận sắc lệnh của vua Lê ( chúa Trịnh nhân danh ), rồi họ Nguyễn chủ động gây hấn mới là nguyên do để Trịnh Tráng khởi binh .
7 lần đại chiến[sửa|sửa mã nguồn]
Võ quan vinh quy đồ Thế kỷ 17.Quân đội Đàng Ngoài, tranhThế kỷ 17 .
Cuộc chiến tiên phong 1627[sửa|sửa mã nguồn]
Tháng 3 năm 1627, Trịnh Tráng khởi 20 vạn đại quân thủy bộ vào nam, cùng những tướng Nguyễn Khải, Lê Khuê chia làm hai đạo tiến vào, hội binh ở cửa Nhật Lệ. Phía Nguyễn cử những tướng Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Vệ, Nguyễn Phúc Trung đón đánh .Quân Trịnh dữ thế chủ động tiến công nhưng không chọc thủng được tuyến phòng thủ của quân Nguyễn. Phía Nguyễn có lợi thế là đại bác kiểu Bồ Đào Nha nên làm quân Trịnh sợ chạy dạt. Hai tướng Trịnh là Nguyễn Khải và Lê Khuê đều thua chạy .Trong lúc hai bên liên tục giằng co thì Nguyễn Hữu Dật phao tin ở miền bắc, Trịnh Gia và Trịnh Nhạc âm mưu làm phản. Trịnh Tráng hoài nghi vội thu quân về bắc .
Cuộc chiến thứ hai 1633[sửa|sửa mã nguồn]
Quân Trịnh rút về, Nguyễn Phúc Nguyên theo kế của Đào Duy Từ nhanh lẹ xây lũy Trường Dục ( Lũy Thầy ) để phòng thủ .Năm 1631, con trưởng chúa Nguyên là thế tử Kỳ chết, con thứ hai là Lan được lập làm thế tử, con thứ tư là Anh ra thay Kỳ trấn giữ Quảng Nam. Anh bất mãn không được làm thế tử, mưu thông đồng với chúa Trịnh, bèn viết thư hẹn làm nội ứng cho Trịnh Tráng .Năm 1633, Trịnh Tráng khởi binh nam tiến lần thứ hai, đóng ở cửa Nhật Lệ. Chúa Nguyễn cử Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến làm tướng ra đánh. Trịnh Tráng đang đợi suốt hơn 10 hôm không thấy hiệu làm nội ứng của Anh thì bị quân Nguyễn đánh úp, quân Trịnh bồn chồn tan vỡ bỏ chạy. Trịnh Tráng rút về bắc, để lại con rể là Nguyễn Khắc Liệt trấn thủ châu Bắc Bố Chính .
Quân Nguyễn đánh ra Bố Chính[sửa|sửa mã nguồn]
Năm 1634, Đào Duy Từ chết, năm sau Nguyễn Phúc Nguyên chết, thế tử Lan lên thay, tức là Thượng vương. Em Lan là Anh làm mưa làm gió bị giết chết .Năm 1637, Thượng vương Lan sai Nguyễn Đình Hùng mang quân đánh úp chiếm Nam Bố Chính, giết tướng trấn thủ là Nguyễn Tịch .Năm 1640, tướng Trịnh là Nguyễn Khắc Liệt mang quân đánh phá Nam Bố Chính rồi rút về. Chúa Nguyễn theo kế phản gián của Nguyễn Hữu Dật, viết thư cho Trịnh Tráng nói Liệt mưu thông đồng với chúa Nguyễn nên mặt ngoài gây chiến mà bên trong muốn hàng. Mặt khác, Nguyễn Phúc Lan thúc quân đánh Khắc Liệt. Khắc Liệt thua chạy, viết thư cầu cứu. Trịnh Tráng tin lời gièm của bên Nguyễn nên khi Liệt xin viện binh hỗ trợ, Tráng điều Trịnh Kiều mang quân vào cứu, thực ra là để thay Liệt .Kiều theo lệnh đến nơi nhưng không cứu Liệt mà chặn đường bắt Liệt mang về nộp chúa Trịnh, do đó quân Nguyễn nhân thời cơ đánh chiếm luôn Bắc Bố Chính. Nguyễn Khắc Liệt bị Trịnh Tráng xử tử .
Cuộc chiến thứ ba 1643[sửa|sửa mã nguồn]
Mất Bắc Bố Chính, năm 1643, Trịnh Tráng điều quân vào nam chiếm lại. Chúa Trịnh cử hai con là Tạc và Lệ đi tiên phong, cùng những tướng Phạm Công Trứ, Nguyễn Danh Thọ, Nguyễn Quang Minh .Quân Trịnh ồ ạt tiến công giết chết tướng Nguyễn là Bùi Công Thắng, chiếm lại Bắc Bố Chính, tiến lên đóng ở cửa Nhật Lệ. Sau khi hai con ra quân được một tháng, chúa Trịnh rước vua Lê Thần Tông cùng đi nam chinh. Hai bên đối trận chưa phân thắng bại, gặp lúc mùa hè, khí hậu nóng nực, quân Trịnh bị bệnh nhiều nên Trịnh Tráng đành ra lệnh lui quân .
Tháng 6 năm 1643, theo đề nghị của chúa Trịnh, ba tàu chiến Hà Lan (trước gọi là Hòa Lan) là Wojdenes (De Wijdeness), Waterhond và Vos tiến vào cửa Thuận An đánh chúa Nguyễn. Thế tử Nguyễn Phúc Tần chưa được lệnh của cha vẫn mang quân ra nghênh chiến, làm một tàu của Hà Lan bị va phải đá ngầm rồi chìm, chiếc chỉ huy bị quân Nguyễn vây chặt nên thuyền trưởng phải tự đốt tàu, chiếc còn lại chạy thoát được.
Cuộc chiến thứ tư 1648[sửa|sửa mã nguồn]
Tháng 2 âm lịch năm 1648, Trịnh Tráng sai Lê Văn Hiểu khởi binh nam tiến lần thứ tư, dẫn bộ binh đánh Nam Bố Chính, còn thủy quân đánh cửa Nhật Lệ. Cha con Trương Phúc Phấn cố thủ ở lũy Trường Dục, quân Trịnh đánh không hạ được .Thế tử Tần mang quân cứu viện ra Quảng Bình, chia quân thủy phục ở sông Cẩm La, sai Nguyễn Hữu Tiến mang quân đánh úp quân Trịnh lúc nửa đêm. Quân Trịnh thua lớn, bị thủy quân Nguyễn chặn đánh chạy đến tận sông Gianh .Tháng 3 năm 1648, quân Nguyễn định vượt sông Gianh đánh ra Bắc Bố Chính thì nghe tin chúa Nguyễn ngã bệnh chết trên thuyền trên đường về Thuận Hóa nên phải lui binh. Con chúa Lan là Nguyễn Phúc Tần lên thay, tức là Hiền vương .Trịnh Tráng lui binh, sai Lê Văn Hiểu giữ Hà Trung, Lê Hữu Đức đóng ở Hoành Sơn, Phạm Tất Toàn giữ Bắc Bố Chính .
Đại chiến lần thứ năm 1655 – 1660 : Giằng co ở Nghệ An[sửa|sửa mã nguồn]
Cuộc chiến lần thứ năm là đại chiến dài nhất, lớn nhất trong cuộc xung đột Trịnh – Nguyễn và là lần duy nhất quân Nguyễn chủ động đánh ra bắc .
Quân nam chiếm 7 huyện Nghệ An[sửa|sửa mã nguồn]
Tháng 4 năm 1655, chúa Nguyễn sai Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật mang quân vượt sông Gianh đánh Bắc Bố Chính. Tướng Trịnh là Phạm Tất Toàn đầu hàng. Tiến và Dật thừa thắng tiến lên đánh Hoành Sơn, Lê Hữu Đức thua chạy. Tiến và Dật đánh luôn Hà Trung, Lê Văn Hiểu thua chạy nốt, cùng Đức lui về giữ An Trường ( Nghệ An ) .Trịnh Tráng thấy những tướng thua luôn, sai Trịnh Thượng làm thống lĩnh mang quân vào nam, triệu những tướng cũ về. Lê Văn Hiểu bị thương, nửa đường chết, còn Đức bị giáng chức .Trịnh Thượng lãnh binh, tiến quân bộ vào huyện Kỳ Hoa, chia quân thủy tiến đến cửa Kỳ La. Hữu Tiến rút về nam sông Gianh. Trịnh Thượng thấy địch vô cớ rút, biết có mưu nhử nên không đuổi, đóng lại Lạc Xuyên, chia quân ra giữ Hà Trung. Hữu Tiến, Hữu Dật thấy địch không đuổi, liền chia quân thủy bộ đánh ra. Quân Trịnh hai cánh đều thua, quân thủy bỏ Kỳ La về Châu Nhai, quân bộ bỏ Lạc Xuyên về giữ An Trường. Thế là 7 huyện Nghệ An ở phía nam sông Lam là Kỳ Hoa, Thạch Hà, Thiên Lộc, Nghi Xuân, La Sơn, Hương Sơn, Thanh Chương về tay chúa Nguyễn .
Trịnh Toàn cầm quân[sửa|sửa mã nguồn]
Trịnh Tráng giáng chức Thượng rồi cử con là Trịnh Tạc vào làm Thống lĩnh. Hữu Tiến thấy viện binh Trịnh bèn lui về giữ Hà Trung. Gặp lúc họ Mạc phía bắc quấy rối, Trịnh Tạc phải rút về bắc, để Đào Quang Nhiêu ở lại đóng ở An Trường, Vũ Văn Thiêm lãnh thủy quân đóng ở Khu Độc ; Thân Văn Quang và Mẫn Văn Liên đóng ở Tiếp Vũ .Năm 1656, Hữu Tiến đánh Tiếp Vũ, Quang và Liên bỏ chạy. Hữu Dật phá vỡ thủy quân của Văn Thiêm, Thiêm cũng chạy. Quân Nguyễn hợp lại đụng Đào Quang Nhiêu, Nhiêu bại trận chạy về giữ An Trường .Trịnh Tráng bèn cử con út là Trịnh Toàn vào cứu viện. Toàn đốc quân tiến đến Thạch Hà, sai Nhiêu và Dương Hồ tiến lên đóng ở Đại Nại và Hương Bộc, Văn Thiêm tiến lên cửa Châu Nhai ( cửa khẩu sông Lam ). Hữu Dật sai Nguyễn Cửu Kiều một lần nữa đánh tan Văn Thiêm, Thiêm lại bỏ chạy. Dật sang bờ sông Lam hợp binh với Kiều kéo đến Đại Nại. Quân bộ của Hữu Tiến đánh Nhiêu ở Hương Bộc, Trịnh Toàn mang quân đến cứu, đánh bại quân Nguyễn. Sau đó Toàn lại sang đánh quân Nguyễn ở Đại Nại, giết chết Cửu Kiều, quân Nguyễn thua to, chạy về Hà Trung. Toàn và Nhiêu cùng đuổi đến Tam Lộng lại bị Tiến và Dật vượt mặt, phải rút về An Trường .
- Sách Việt Nam sử lược mô tả trận này hai bên có thắng có thua, sách Đại Việt Sử ký Toàn thư của Lê – Trịnh mô tả trận này quân Trịnh thắng lớn, ngược lại sách Đại Nam thực lục tiền biên của nhà Nguyễn soạn sau này lại mô tả trận này quân Nguyễn thắng. Các nhà nghiên cứu thống nhất với Việt Nam sử lược rằng hai bên có thắng có thua: sau trận thắng đầu quân Trịnh bị thua, nếu không đang đà thắng lợi phải tiến lên chứ không thể lui về giữ An Trường.
Trịnh Tráng bệnh nặng, thế tử Trịnh Tạc cầm quyền quản lý. Thấy Trịnh Toàn rất có uy tín với quân sĩ, Trịnh Tạc lo ngại. Tạc sai con là Căn mang quân vào Nghệ An, tiếng là tăng viện nhưng để kìm chế Trịnh Toàn. Tháng 4 năm 1657, Trịnh Tráng chết, Tây Định vương Trịnh Tạc lên thay. Biết bạn bè chúa Trịnh bất hòa, chúa Nguyễn sai người đến dụ nhưng Toàn cự tuyệt. Chúa Trịnh cử Trịnh Căn thay Toàn làm Thống lĩnh, triệu Toàn về kinh. Thủ hạ của Toàn một số ít người sang với Trịnh Căn, một số ít hàng Nguyễn. Toàn về kinh, chúa Trịnh lấy cớ trách Toàn không chịu tang cha rồi giam vào ngục và giết đi .
Trịnh Căn lãnh binh[sửa|sửa mã nguồn]
Tháng 6 năm 1657, Trịnh Căn chia quân sai Hoàng Thể Giao, Lê Thì Hiến và Trịnh Thế Công vượt sông Lam đánh tướng Nguyễn là Tống Hữu Đại ở huyện Thanh Chương. Do có người bật mý, Hữu Tiến biết trước phòng bị nên quân Trịnh bị thua rút về bờ bắc sông Lam .Hai bên tạm hưu chiến cầm cự ở sông Lam, chỉ giao tranh những trận nhỏ. Tháng 6 năm 1658, tù trưởng Lang Công Chấn ở Quỳnh Lưu theo Nguyễn, mang quân đánh Trịnh, bị quân Trịnh vượt mặt bắt được giải về Thăng Long. Tháng 7, quân Nguyễn vượt sông Lam thắng được Nguyễn Hữu Tá ở huyện Hưng Nguyên nhưng bị Lê Thì Hiến vượt mặt phải rút về. Tháng 12, quân Trịnh đánh huyện Hương Sơn, thắng quân Nguyễn. Tháng 8 năm 1660, quân Trịnh lại đánh Nghi Xuân bị bại trận .
Chiến tranh hậu phương[sửa|sửa mã nguồn]
Trong khi ngoài mặt trận diễn ra những trận đánh lẻ tẻ thì phía trong mỗi bên đều lo củng cố hậu phương. Hữu Dật nhân lúc ngưng chiến tung gián điệp ra bắc dụ Phạm Hữu Lễ trấn thủ Sơn Tây, Văn Dũ trấn thủ Thành Phố Hải Dương làm phản Trịnh, lại hẹn họ Vũ ở Tuyên Quang và họ Mạc ở Cao Bằng [ a ] cùng nổi dậy. Tuy nhiên do lực lượng những cánh này đều yếu, nhất là hai cánh Vũ, Mạc đều có ý đồ riêng. Tất cả có ý chờ quân Nguyễn vượt sông Lam, bắc tiến thật gấp mới ra mặt. Trong khi đó, quân Nguyễn cũng không hùng hậu, đi đánh xa lâu ngày đã mệt, cũng có ý chờ miền bắc có biến mới dám đánh lớn. Hai bên dùng dằng chờ nhau. Chúa Trịnh biết Hữu Lễ thông đồng với Nguyễn bèn dụ và giết chết. Ngoài biên cương, Trịnh Căn cũng cầm quân rất nghiêm, xử tử tướng Hoàng Nghĩa Chấn vì đố kỵ không tiếp ứng cho Đào Quang Nhiêu, sau đó lại giết Nguyễn Đức Dương vì bán trộm lương cho quân Nguyễn. Bên kia, Hữu Dật cũng giết hàng tướng Phạm Tất Toàn vì có ý về bắc .Các tướng Nguyễn nảy sinh xích míc. Hữu Tiến và thuộc tướng ghét Hữu Dật vì Dật được chúa Nguyễn tin yêu hơn. Trịnh Căn nhân đó sai người mang vàng đến dụ nhưng Dật không nghe, báo hết cho chúa Nguyễn biết .
Trịnh Căn tịch thu đất cũ[sửa|sửa mã nguồn]
Tháng 9 năm 1660, Trịnh Căn chia quân, sai Hoàng Nghĩa Giao và Lê Thì Hiến đang đêm vượt sông Lam đánh Lận Sơn. Cánh quân của Giao đến Lận Sơn bị Nguyễn Hữu Dật vây ngặt, mấy thuộc tướng tử trận. Trịnh Căn thấy vậy mang quân bộ đến cứu Giao, lại điều quân thủy tiến lên áp sát quân Nguyễn mà bắn, đánh tan Dật, Dật thua chạy về Khu Độc. Cánh quân của Thì Hiến và Mẫn Văn Liên đụng độ Nguyễn Hữu Tiến ở Tả Ao, tuy Liên bị tử trận nhưng quân Trịnh phá được lũy, vượt mặt được Hữu Tiến. Tiến phải rút về Nghi Xuân .Nguyễn Phúc Tần mang quân tiếp ứng, đóng ở Quảng Bình. Hữu Dật muốn khoe công với chúa bèn lẻn về ra đời Tần, thuật chuyện những chiến công vừa lập ngoài mặt trận. Tần ban cho Dật thanh bảo kiếm và sai quay lại đánh tiếp. Tiến nghe tin đó càng ghét Dật. Nhân lúc quân mới hàng ở Nghệ An bỏ trốn nhiều, tướng sĩ Nguyễn đều ngã lòng, Tiến bàn rút lui, chỉ có Dật không nghe .Chúa Trịnh tăng viện cho Trịnh Căn. Tháng 11 năm 1660, biết bên Nguyễn các tướng bất hòa, quân lại bỏ trốn, Trịnh Căn sai Lê Thì Hiến và Lê Sĩ Triệt đánh huyện Nghi Xuân, Hoàng Nghĩa Giao và Nguyễn Năng Thiệu đánh huyện Thiên Lộc, phá vỡ quân Nguyễn. Quân Trịnh lấy lại 7 huyện ở Nghệ An mất từ năm 1655 .Hữu Tiến thua trận buộc phải rút quân, nhưng vì ghét Dật nên giả cách hạ lệnh đánh An Trường và bí hiểm rút về Nam Bố Chính mà không báo cho Dật biết. Quân Trịnh đang đà thắng, sang sông đánh Khu Độc. Dật biết tin Tiến rút rồi, bèn làm nghi binh khiến quân Trịnh không dám đuổi gắt. Về đến Hoành Sơn, Dật gặp Tiến, vừa lúc Trịnh Căn thúc quân đuổi tới, hai bên giao tranh ác liệt và cùng thiệt hại lớn .Hai bên bèn hưu chiến, Trịnh Căn lui về giữ Kỳ Hoa, Hữu Tiến giữ Nhật Lệ, Hữu Dật giữ Đông Cao. Trịnh Căn sai Đào Quang Nhiêu trấn thủ Nghệ An kiêm Bắc Bố Chính, còn mình rút về bắc .
Cuộc chiến thứ sáu 1661 – 1662[sửa|sửa mã nguồn]
Sau 1 năm nghỉ binh, nhân vừa thắng quân Nguyễn, tháng 10 năm 1661, Trịnh Tạc mang vua Lê Thần Tông cử đại binh vào nam, cử Trịnh Căn làm thống lĩnh cùng những tướng Hoàng Thể Giao, Đào Quang Nhiêu, Lê Thì Hiến vượt sông Gianh .
Nguyễn Hữu Dật trấn thủ Nam Bố Chính chia quân đắp lũy thế thủ, quân Trịnh đánh mấy tháng không hạ được. Tháng 3 năm 1662, quân viễn chinh mệt mỏi, lương hết, chúa Trịnh bèn rút quân về bắc. Hữu Dật đuổi theo đến sông Gianh rồi rút về.
Cuộc chiến thứ bảy 1672[sửa|sửa mã nguồn]
Vua Lê Thần Tông rồi Lê Huyền Tông qua đời, Lê Gia Tông lên ngôi. Sau khi dứt được họ Mạc ở Cao Bằng ( 1667 ), năm 1672, chúa Trịnh lại cử binh nam tiến, sai Trịnh Căn lĩnh thủy binh, Lê Thì Hiến lĩnh bộ binh .Bên Nguyễn năm 1666, Nguyễn Hữu Tiến chết. Chúa Nguyễn cử em là Hiệp làm chủ tướng cùng Hữu Dật và Nguyễn Mỹ Đức ra chống cự, tự chúa Nguyễn ra tiếp ứng. Quân Trịnh nhiệt huyết đánh lũy Trấn Ninh mấy lần suýt hạ được nhưng Hữu Dật cố sức chống đỡ. Quân Trịnh đánh mãi không thắng phải rút về Bắc Bố Chính, Trịnh Căn lại bị ốm nên Trịnh Tạc rút đại quân về kinh, cử Lê Thì Hiến, Lê Sĩ Triệt ở lại trấn thủ .
Chia đôi quốc gia[sửa|sửa mã nguồn]
Trước sau trong 46 năm ròng rã, hai bên Trịnh – Nguyễn đánh nhau lớn 7 lần và một số ít lần đánh nhau quy mô nhỏ hơn. Chiến trường hầu hết ở hai bờ sông Gianh, vùng Nghệ An, TP Hà Tĩnh và Quảng Bình ngày này .Hai bên đều có lợi thế và điểm yếu nên không hề hủy hoại được nhau, tuy cùng mang khẩu hiệu ” Phù Lê “. Sau nhiều năm giao chiến, cả hai bên đều kiệt quệ về sức người sức của nên phải đồng ý đình chiến, chia cắt vĩnh viễn. Sông Gianh, sử sách hay gọi là Linh Giang, trở thành ranh giới chia nước Đại Việt thành Đàng Trong và Đàng Ngoài .Họ Trịnh không hề tiến vào chiếm Thuận Hóa nên tập trung chuyên sâu diệt tàn dư nhà Mạc ở Cao Bằng ( 1677 ), dứt họ Vũ ở Tuyên Quang ( 1699 ), củng cố địa phận Bắc Bộ. Họ Nguyễn không hề ra Thăng Long nên dồn sức diệt Chiêm Thành, lấn sang Chân Lạp để mở mang bờ cõi vốn nhỏ hẹp về phía nam. Hai bên đều có những chúa quản lý giỏi nên không thay đổi được chủ quyền lãnh thổ suốt hơn 100 năm .
Cuộc chiến sau cuối[sửa|sửa mã nguồn]
Bản đồ Nước Ta khoảng chừng năm 1760, do công ty Cóvens e Mortier, Amsterdam vẽ .
Quân Trịnh lại nam tiến[sửa|sửa mã nguồn]
100 năm sau khi đình chiến, có một biến cố lớn ở Đàng Trong làm trộn lẫn cả Nam Hà lẫn Bắc Hà. Ba đồng đội Tây Sơn nổi dậy khởi nghĩa nhân lúc chính quyền họ Nguyễn lục đục rơi vào tay quyền thần Trương Phúc Loan. Khi thủ lĩnh Tây Sơn là Nguyễn Nhạc làm chủ được Nam Trung Bộ thì họ Trịnh nhận thấy thời cơ hủy hoại họ Nguyễn đã đến .Đầu tiên dùng danh nghĩa đánh Tây Sơn giúp Chúa Nguyễn, tháng 9 âm lịch năm 1774, chúa Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm cử lão tướng Việp quận công Hoàng Ngũ Phúc ( thường gọi là Q. Việp ) làm Bình nam thượng tướng quân, Bùi Thế Đạt làm phó tướng mang 36.000 quân nam tiến .Quân Trịnh tiến tới địa giới Bắc Bố Chính, tướng Nguyễn là Trần Giai chạy sang đầu hàng, làm hướng đạo cho quân Trịnh. Hoàng Ngũ Phúc vượt sông Gianh. Chúa Nguyễn biết ý Trịnh muốn đánh chiếm nên điều quân kháng cự .
Quận Việp đánh chiếm Phú Xuân[sửa|sửa mã nguồn]
Được sứ giả họ Nguyễn là Kiêm Long gợi ý, [ 5 ] Hoàng Ngũ Phúc sai Hoàng Đình Thể tiến đánh lũy Trấn Ninh. Các tướng Nguyễn làm nội ứng Open đầu hàng. Quân Trịnh chiếm được Quảng Bình .Tháng 11 năm 1774, Trịnh Sâm tự cầm thủy quân vào Nghệ An làm thanh viện cho Q. Việp. Quận Việp đánh Lưu Đồn, thống suất bên Nguyễn là Tống Hữu Trường bỏ chạy. Quận Việp tiến đến Hồ Xá dùng chiêu thức khác, lấy cớ trừng phạt Trương Phúc Loan chuyên quyền để nam tiến tiếp .Quân Nguyễn yếu thế không chống nổi, Định vương Nguyễn Phúc Thuần phải trói Trương Phúc Loan nộp quân Trịnh. Giết Loan rồi, Hoàng Ngũ Phúc lại dùng nguyên do giúp Nguyễn đánh Tây Sơn để tiến vào Phú Xuân hội binh. Chúa Nguyễn sai những tướng trá hàng để quấy rối Quảng Bình, Bố Chính sau sống lưng quân Trịnh, nhưng những cánh quân đó bị quân Trịnh nhanh gọn phá vỡ. Chúa Nguyễn điều Tôn Thất Chí, Nguyễn Văn Chính ra đánh đều bị Q. Việp vượt mặt. Quận Việp sai Hoàng Đình Thể, Hoàng Nghĩa Phác theo đường núi qua thác Trầm Ma đánh tan quân Nguyễn, giết chết Chính .Đầu năm 1775 quân Trịnh tiến vào Phú Xuân. Chúa Nguyễn không chống nổi phải bỏ chạy vào Quảng Nam. Quân Trịnh chiếm hàng loạt Thuận Hóa .
Tây Sơn trong thời điểm tạm thời theo Trịnh[sửa|sửa mã nguồn]
Nguyễn Nhạc nhân chúa Nguyễn bỏ chạy vào Quảng Nam bèn mang quân hai đường thủy bộ ra đánh. Nguyễn Phúc Thuần vội bỏ Quảng Nam theo đường thủy trốn vào Gia Định, để lại Nguyễn Phúc Dương .Tháng 2 năm 1775, Trịnh Sâm từ Hà Trung trở về kinh, hạ lệnh cho Q. Việp đánh Quảng Nam. Quân Tây Sơn cũng tiến ra, lùng bắt được Phúc Dương. Tháng 4, quân Trịnh vượt đèo Hải Vân và đụng độ với quân Tây Sơn. Hoàng Ngũ Phúc đang đà thắng lợi, sai Hoàng Đình Thể, Hoàng Phùng Cơ đánh bại quân Tây Sơn ở Cẩm Sa. Nguyễn Nhạc phải rút quân về Quy Nhơn .Nhân lúc Nguyễn Nhạc thua trận, tướng Nguyễn là Tống Phúc Hiệp từ Bình Khang đánh ra Phú Yên, quân Tây Sơn lại thua phải co về Quy Nhơn. Tình thế của Nguyễn Nhạc rất nguy ngập, bèn sai người đến chỗ Hoàng Ngũ Phúc xin đầu hàng và làm tiên phong cho chúa Trịnh để đánh chúa Nguyễn. Quân Trịnh đi xa bấy giờ đã stress, quân sĩ nhớ nhà, Hoàng Ngũ Phúc cũng muốn mượn sức Tây Sơn diệt họ Nguyễn nên nhân danh chúa Trịnh cho Nguyễn Nhạc hàng, sai Nguyễn Hữu Chỉnh đem sắc, ấn, cờ đến phong Nguyễn Nhạc làm ” Tây Sơn trưởng hiệu tráng tiết tướng quân ” .Tuy thế, Q. Việp lão luyện vẫn không lui quân, đóng sát địa giới Tỉnh Quảng Ngãi, định chờ nếu Tây Sơn bại trận sẽ tiến vào chiếm Tỉnh Quảng Ngãi và Quy Nhơn. Nhân lúc Tây Sơn mang quân vào đánh Phú Yên, Q. Việp liền lấn tới đóng quân ở Chu Ổ thuộc Tỉnh Quảng Ngãi .
Thịnh quá hóa suy, suy quá lại thịnh[sửa|sửa mã nguồn]
Tháng 7 năm 1775, nghe tin Nguyễn Huệ thắng quân Nguyễn chiếm lại Phú Yên, Q. Việp án binh lại. Theo nhu yếu của Nguyễn Nhạc, Q. Việp phong chức cho Nguyễn Huệ làm ” Tây Sơn hiệu tiền tướng quân “. Ít lâu sau, quân Trịnh bị bệnh dịch chết khá nhiều, Q. Việp tuổi già sức yếu bèn bỏ Quảng Nam lui về Phú Xuân, sau đó giao lại thành này cho Bùi Thế Đạt, còn mình dẫn đại quân về bắc. Tháng 10 năm đó, Q. Việp bị bệnh chết trên đường về .Lần tiên phong sau 150 năm nam chinh, họ Trịnh tiến tới Quảng Nam, mở cương thổ cho vua Lê thời trung hưng tới gần được như thời Lê Thánh Tông của Lê sơ trước đây. Cũng lần tiên phong, họ Nguyễn mất hàng loạt đất cơ bản Thuận – Quảng, bị dồn vào Nam Bộ, mảnh đất họ Nguyễn đã đặt cỗ máy hành chính của mình chưa đầy 100 năm .Cuộc nam tiến lần thứ 8 năm 1774 – 1775 của quân Trịnh cũng là trận chiến Trịnh – Nguyễn cuối cùng. Từ đây hai bên bị địa phận của Tây Sơn ngăn cách và không còn tái chiến. Sau 8 đại chiến vẫn không bên nào diệt được bên nào, nhưng không lâu sau đó cả Trịnh và Nguyễn đều bại dưới tay Tây Sơn .Sau trận 1774, chủ quyền lãnh thổ họ Trịnh quản trị tăng trưởng đến cực thịnh. Nhưng sau khi Q. Việp chết, phía Trịnh từ chúa đến quân đều có ý tận thưởng thắng lợi, lơ là phòng bị biên cương phía nam. Chỉ hơn 10 năm sau thắng lợi ở Phú Xuân, chính kinh thành Thăng Long của họ Trịnh bị thất thủ và họ Trịnh mất theo. Trong khi đó, sau khi bị đánh bật khỏi mảnh đất sau cuối là Nam Bộ phải đi lưu vong, họ Nguyễn đã quay trở lại và Phục hồi lại chủ quyền lãnh thổ. Cuối cùng vì những biến cố có lợi, họ Nguyễn trở thành người quản lý cả nước .
Lợi thế, điểm yếu kém[sửa|sửa mã nguồn]
Trong cuộc chiến 7 lần thế kỷ 17, tuy họ Trịnh có danh nghĩa vua Lê, có lực lượng mạnh hơn, lợi thế về nhân lực phần đông, vật chất dồi dào hơn nhưng quân phải đi đánh đường xa thường căng thẳng mệt mỏi và lương thảo không vận kịp, mặt khác Bắc Hà luôn có mối lo những lực lượng cát cứ ở hậu phương nên không hề dốc toàn lực, toàn tâm vào đại chiến .Phía họ Nguyễn dù lực lượng ít hơn nhưng được đánh tại đất nhà, có hai tướng giỏi là Hữu Tiến và Hữu Dật, lại có những chiến lũy vững chắc. Qua nhiều năm giao chiến khi tiến khi lui, sau cuối họ Nguyễn từ Thuận Hóa lấn được ra tới sông Gianh, chiếm được Nam Bố Chính. Hơn nữa, ngoài đất đai, họ Nguyễn còn mang về được một lượng nhân lực khá lớn để khai khẩn những vùng đất mới khai thác phía nam. Điều đó cũng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tăng trưởng thế lực của họ Nguyễn lúc đó cũng như sau này .Phía Trịnh trong quy trình tiến độ đầu đã mắc sai lầm đáng tiếc chủ quan, ỷ vào lợi thế của mình, nhìn nhận chưa đúng về tiềm năng của họ Nguyễn nên hay bị thua trận. Tuy nhiên, khi đánh ra Nghệ An, chính quân Nguyễn cũng thể hiện điểm yếu của đạo quân phải đánh xa nhà nên không hề tự mình liên tục duy trì lợi thế bắc tiến. Ngay những danh tướng nhiều mưu mẹo như Hữu Dật, Hữu Tiến cũng lực bất tòng tâm, không hề có đủ lực lượng để dàn ra khắp mặt trận nhằm mục đích triển khai tiến công tổng lực ra bắc mà có ý hoãn binh, trông chờ vào những lực lượng quấy rối ở hậu phương địch để chia sức quân Trịnh. Mặt khác, vì lực lượng hạn chế, quân viễn chinh của Nguyễn không còn đủ sức đương đầu với phía Trịnh đông quân nhiều tướng, hết lớp này đến lớp khác ( Lê Văn Hiểu đến Trịnh Thượng, rồi Trịnh Toàn, lại Trịnh Căn ) được điều ra mặt trận. Khi họ Trịnh củng cố nhân sự, siết chặt lại đội ngũ thì lợi thế nhân lực vật lực được phát huy rõ hiệu suất cao .Một tác nhân khác giúp hai bên đứng vững là những tướng ngoài mặt trận của hai bên, mặc dầu năng lực ở mức độ khác nhau nhưng nhìn chung đều là những người cần mẫn, trung thành với chủ. Trịnh Toàn bị dụ hàng ở thời gian ngoài gặp địch mạnh, trong bị anh bức bách không khác gì Trịnh Cối trước đây, thủ hạ sợ vạ lây đều đã hàng Nguyễn, thế nhưng Toàn vẫn không hàng như Cối mà gật đầu cái chết. Lê Văn Hiểu thua trận, thân bị thương, bị chúa gọi về trị tội cũng không nghe theo lời dụ của Hữu Dật. Nguyễn Hữu Dật cũng bị dụ khi vừa thua trận và bị những tướng ganh ghét, nhưng cũng không đổi dạ thay lòng. Những trường hợp sang đầu hàng bên kia không nhiều và không nắm trách nhiệm nên không gây ảnh hưởng tác động quyết định hành động tới tác dụng đại chiến .
So sánh với cuộc chiến tranh Lê – Mạc[sửa|sửa mã nguồn]
Lê-Mạc và Trịnh – Nguyễn đều là những cuộc nội chiến trường kỳ trong lịch sử dân tộc Nước Ta, gây ra hậu quả chia đôi nước Đại Việt trong 250 năm. Tuy nhiên, so với Chiến tranh Lê – Mạc thời Nam Bắc triều, mức độ của Chiến tranh Trịnh – Nguyễn có phần bớt nghiêm trọng hơn vì những nguyên do sau :
Về tính đối kháng[sửa|sửa mã nguồn]
Lê – Mạc là quân địch không đội trời chung. Nhà Mạc cướp ngôi Lê, Lê khôi phục rồi chống Mạc, họ Lê mang mối thù giết vua cướp ngôi với họ Mạc nên quyết không hề có chuyện nghị hòa. Lê và Mạc phải đánh nhau một mất một còn để chứng tỏ mình là ” chính thống “, nhất là nhà Minh dùng chiêu thức lập lờ, không dứt khoát công nhận ai. Chiến tranh Lê – Mạc vì thế chỉ hoàn toàn có thể kết thúc khi một bên bị hủy hoại .Giữa họ Trịnh và Nguyễn, xuất phát vốn là hai họ thông gia, ông tổ của 2 họ là người trong một nhà. Trịnh Kiểm lấy chị Nguyễn Hoàng là Ngọc Bảo, đến Trịnh Tráng lại lấy con gái Nguyễn Hoàng cũng là cô họ của mình là Ngọc Tú. Trước khi dùng ” binh “, Trịnh và Nguyễn đã dùng ” lễ ” trong thời hạn khá dài vì cả hai trên danh nghĩa đều là quan của nhà Lê, đều lấy danh nghĩa ” phò tá vua Lê ” để quản lý nhân dân. Khi 2 bên thấy khó thắng được nhau thì cũng hoàn toàn có thể quay sang bàn việc nghị hoà, không cần phải cố đánh liều chết với nhau. Và thực tiễn thì sau 7 lần xuất binh, cả hai bên đều chán nản nên đã nghị hòa với nhau và duy trì giới tuyến suốt cả một thế kỷ .
Thời gian, tỷ lệ[sửa|sửa mã nguồn]
Chỉ trừ lần đụng độ thứ năm lê dài 5 năm ( 1655 – 1660 ), những cuộc đụng độ khác giữa Trịnh và Nguyễn đều lê dài chỉ vài tháng, thậm chí còn trong chưa đầy một tháng ; khoảng cách giữa những đại chiến cũng khá dài, thường là 5 – 7 năm, có khi dài tới hàng chục năm. Giữa những đại chiến có thời hạn đình chiến giúp cả hai bên củng cố tiềm năng. Trong khi đó, cuộc Chiến tranh Lê – Mạc trong 60 năm diễn ra với tỷ lệ liên tục, gần như là chỉ một vài năm lại có một cuộc hành quân bắc tiến hoặc nam tiến của bên này hoặc bên kia .Lực lượng của Lê và Mạc nhìn chung ngang nhau nên cả hai bên ” ăn miếng trả miếng “, lúc thủ lúc đánh. Còn khi đụng đầu với Trịnh, Nguyễn chủ yếu ở thế phòng thủ, dùng chiến lũy vững chắc, địa hình hiểm trở để cản đường nam tiến của Trịnh. Lúc đó Nguyễn chưa lấy được đất Chiêm Thành và Thủy Chân Lạp nên lực lượng còn hạn chế, vì thế sau đại chiến Nghệ An 1655 – 1660, Nguyễn không hề tái diễn một đại chiến dài hơi như vậy với Trịnh .
Chiến tranh Trịnh – Nguyễn chỉ diễn ra ở khoanh vùng phạm vi Trung Bộ, thuộc những tỉnh Nghệ An, thành phố Hà Tĩnh, Quảng Bình. Chiến tranh Lê – Mạc trải khắp gần như toàn chủ quyền lãnh thổ Đại Việt khi đó, từ Bắc Bộ tới Thanh – Nghệ và có lần tới Thuận Hóa. Vì thế tác động ảnh hưởng và thiệt hại của quân, dân hai bên trong cuộc chiến tranh Lê – Mạc lớn hơn so với cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn .
Chính sách quản lý[sửa|sửa mã nguồn]
Nhân tố quan trọng hơn cả giúp những chúa Trịnh và chúa Nguyễn ngồi vững và giữ được cơ nghiệp là chủ trương quản lý tương thích. Ngoài danh nghĩa ” phù Lê “, những chúa đều lấy được lòng dân tại khu vực mình quản lý để kêu gọi nhân lực, vật lực vào đại chiến. Hơn nữa, những thế hệ đầu của chúa Trịnh, chúa Nguyễn đều là những người có tài, hoàn toàn có thể xử lý nhanh gọn, dứt điểm những rạn nứt từ bên trong chính quyền mình, đa phần là những người trong cùng một nhà có ý đồ khác, không để những xung đột nội bộ lan rộng làm ảnh hưởng tác động tới toàn cục .Sử sách không chép rõ thiệt hại về người qua từng đại chiến là bao nhiêu nhưng chắc như đinh số lượng thương vong của hai bên phải tới hàng vạn người. Ngoài ra, nhân dân trong vùng chiến sự bị thiệt hại nhiều hơn cả .Hơn 100 năm sau, những lũy Trấn Ninh, Trường Dục vẫn vững chãi như xưa, nhân lực vật lực của Đàng Trong đã tăng thêm nhiều, bấy giờ không còn kém Đàng Ngoài nữa, lẽ ra cơ đồ của Chúa Nguyễn phải càng thêm vững. Nhưng cuối thời chúa Nguyễn, quyền thần làm mưa làm gió, sưu cao thuế nặng, chúa Nguyễn thì ham mê tửu sắc khiến lòng người Đàng Trong chia lìa bởi sự quản lý rối ren. Kết quả là lũy cao, đất hiểm không còn giúp được họ Nguyễn cản đường quân Trịnh nam tiến như 7 lần trước. Quân Trịnh đánh tới như cuốn chiếu, tướng của Chúa Nguyễn thi nhau hàng Trịnh, giúp Q. Việp lập công .Sau thành quả chiếm Phú Xuân, đến lượt Chúa Trịnh say sưa thắng lợi, tưởng như công nghiệp của mình đã vượt được cha ông. Đất đai rộng hơn, quân số và dân số đông thêm, của cải giàu lên, những mối lo cát cứ ở hậu phương không còn, lẽ ra cơ đồ của họ Trịnh phải hùng mạnh hơn trước. Thế nhưng, chính sự Chúa Trịnh cũng lại lâm vào cảnh rối ren, tướng lười quân kiêu, nhân dân chán ghét nhà Chúa ; còn lấy việc mất Thuận Hóa ( về tay Tây Sơn ) làm may [ 6 ], bởi vậy cơ đồ họ Trịnh lại bị mất mau chóng hơn cả nhà Mạc trước kia, dù họ Mạc vốn chỉ có vùng Bắc Bộ .Như vậy, hoàn toàn có thể thấy tài đức của người chỉ huy có thu phục, đoàn kết được nhân dân hay không mới mang yếu tố quyết định hành động sự mất còn của quốc gia, còn quân đông đất rộng cũng chỉ là tác nhân thứ yếu .
Quân lực đôi bên[sửa|sửa mã nguồn]
Mô hình thuyền chiến Mông đồng thời Trịnh thế kỷ XVII, có 26 tay chèo, 30 chiến thủ và trang bị 2 đại bác khác cỡ .Dân số hai bên chênh lệch nhiều khiến tác động ảnh hưởng lớn tới việc tăng cường quân số. Tính về diện tích quy hoạnh chủ quyền lãnh thổ Đàng Ngoài rộng gấp 2 đến 3 lần chủ quyền lãnh thổ Đàng Trong. Về dân số thì đầu thế kỷ XVII, từ năm 1600 đến 1650, dân số dưới sự quản lý của chúa Trịnh khoảng chừng dưới 5 triệu người, trong khi dân số của chúa Nguyễn khoảng 500.000 [ 7 ] – một triệu người [ 8 ]. Quân số của hai bên không được thống kê khá đầy đủ, liên tục bị phóng đại để nghi binh, những thống kê hầu hết chỉ là số lượng ước đoán của những người đương thời bấy giờ :
Sử gia Phan Khoang trong Việt sử xứ Đàng Trong có thống kê quân số như sau:
- Không nói rõ năm: Chúa Nguyễn có chừng 22.740 quân chính quy. Chúa Trịnh có chừng 50.000 quân đóng ở Thăng Long (khi đánh nhau sẽ huy động thêm dân binh, hương binh ở địa phương). Số quân này thường xuyên bị hai phe “nói phao” đôi lúc quân số bị phao từ 10 vạn lên 18 vạn (Trịnh); Nguyễn phóng đại lên 26 vạn. Quân số mỗi phe có thể có tối đa là 20 vạn chính quy và địa phương, và quân chúa Nguyễn lúc nào cũng ít hơn số quân Trịnh.[9]
- Thủy binh: quân Trịnh có ưu thế lớn với chừng 600 chiến thuyền to hơn tàu châu Âu và trên mỗi thuyền có 3 đại bác, 25 người chèo và binh sĩ. Trong khi chúa Nguyễn có 200 chiến thuyền.[10]
- Một giáo sĩ khác tên Bénigne Vachet: chúa Nguyễn có 40.000 lính: 15.000 thủ Bắc, 9.000 giữ phủ chúa, 6.000 bảo vệ hoàng thân và đại thần và 10.000 binh trấn giữ các khu vực tỉnh lỵ khác. Chiến thuyền 200. Quân bộ chúa Trịnh không có nói, nhưng quân thủy thì khẳng định gấp 3, 4 lần quân chúa Nguyễn. Một tu sĩ tên Choisy kể năm 1697, chúa Nguyễn có 131 chiếc thuyền (chưa tính chiến thuyền địa phương), có chừng 60 tay chèo, 2 pháo thủ, 3 sĩ quan chỉ huy, 2 trống trận.[11]
- Các lần chiến tranh[12]
- 1627 không ghi quân số.
- 1633 không ghi quân số.
- 1643 như trên, nhưng có tàu châu Âu đến đòi giúp chúa Trịnh.
- 1648 không ghi, quân Nguyễn huy động 100 voi, quân Trịnh bị bắt là 3 vạn và hai tướng. Nguyễn Hữu Tiến di chuyển 3000 quân đóng ở Võ Xá để thủ. Các tướng Trịnh được tha, còn các binh sĩ Trịnh thì chia nhỏ ra cho đi khai hoang hết.
- 1655 và 1660 chúa Trịnh bố phòng 1 vạn rưỡi binh thủ nam Chúa Nguyễn không ghi rõ số quân.
- 1661 và 1662 không ghi.
- 1672 Chúa Trịnh có 10 vạn phóng đại lên 18 vạn, chúa Nguyễn thì không rõ thực bao nhiêu nhưng phóng đại lên 26 vạn.
Giáo sĩ Cristophoto Borri trong Xứ đàng trong năm 1621 :
- “Thế lực của chúa[b] rất mạnh đến nỗi khi ngài muốn ngài có thể tuyển ngay được tám mươi ngàn quân binh chiến đấu. Với tất cả lực lượng này ngài vẫn sợ chúa Đàng Ngoài vốn có lực lượng lớn hơn gấp 4 lần“[13]
Nguyễn Quang Ngọc trong sách Tiến trình lịch sử Việt Nam:[14]
- Chúa Trịnh có thể huy động ngay lập tức 200.000 quân, 600 thuyền chiến, 500 thuyền vận tải và 500 voi chiến.
- Chúa Nguyễn chỉ có thể huy động tối đa 40.000 quân và 200 chiến thuyền nhưng bù lại có một hệ thống chiến lũy hết sức dày đặc và đường tiếp vận lương thực của chúa Trịnh vào rất khó khăn.
William Dampier, một nhà du hành từng đến Đàng Ngoài năm 1688 có ghi nhận là quân đội chúa Trịnh có chừng 70.000-80.000 quân thường trực, trong số đó hầu hết là bộ binh trang bị súng tay, ở kinh thành chúa có thường trực voi chiến 200 thớt, ngựa chiến 300 con, nuôi béo khỏe.[15] Charles Maybon và Henri Russier ước tính quân đội Đàng Ngoài khoảng 100.000 người, 500 voi, 500 chiến thuyền lớn trang bị 3 súng thần công mỗi chiếc.[cần dẫn nguồn]
Trong Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ tục biên ghi nhận thời Nam Bắc triều, quân Trịnh theo phò nhà Lê có lực lượng kỵ binh khá mạnh. Trịnh Tùng từng sử dụng 400 quân thiết kỵ làm trợ chiến để đẩy lùi cuộc xâm lấn của quân Bắc triều. Năm 1592, ông huy động tới 5000 kỵ binh nặng, trang bị giáp sắt cho cả ngựa để vây hãm Đông Kinh của nhà Mạc.
Một ghi chép của người phương Tây về lực lượng quân sự chiến lược Đàng Ngoài dưới thời Thanh Đô vương Trịnh Tráng cho rằng vào năm 1640 ông này có trong tay hơn ba mươi vạn bộ binh, 2000 thớt voi trận và 102 ngàn kỵ binh ( ! ). [ 16 ] Con số này là khá lớn, lại không ghi rõ cách tính ra sao ( có tính cả quân địa phương và dân phu hay không ) nên còn cần làm rõ .
Quân đội chúa Trịnh[sửa|sửa mã nguồn]
Binh chia ra làm hai hạng : Ưu binh và Nhất binh. Ưu binh là lính mộ ở ba phủ thuộc tỉnh Thanh Hóa và bốn phủ thuộc tỉnh Nghệ An. Nhất binh là lính tuyển ở bốn trấn ngoài Bắc : Sơn Nam, Kinh Bắc ( Thành Phố Bắc Ninh ), Thành Phố Hải Dương, Sơn Tây cứ 5 xuất đinh bắt một người sung quân ngũ. Lính Ưu binh đóng ở Kinh đô, được nhiều đặc ân, độc quyền như được cấp công điền và cả chức sắc .Lính Nhất binh phục vụ tại những trấn, phục dịch những quan, có việc loạn ly và cuộc chiến tranh mới được gọi đến, không thì về làm ruộng .Đến đời chúa Trịnh Doanh ( 1720 – 1767 ) có nhiều giặc giã ở nhiều nơi nên phải gọi lính tứ trấn, động viên cả thảy được 115.000 người hợp thành những đơn vị chức năng lớn nhỏ như sau :
- Đội gồm có: 20 người.
- Cơ gồm 20 đội có: 400 người.
- Vệ gồm từ 5 đến 6 cơ: 2000 hay 2400 người (Bên Vệ có Tư là đơn vị có 100 người).
Quân đội chúa Nguyễn[sửa|sửa mã nguồn]
Binh có hai loại đầu, cũng như ngoài Bắc được gọi đi quân dịch ; những trai tráng khỏe mạnh sung thẳng vào quân ngũ và 1 số ít được gọi dần có tính cách trừ bị. Việc binh bị so với những chúa miền Nam là một việc quan trọng nhất, gồm những đơn vị chức năng dưới đây :
- Ở hạ tầng là Thuyền hay Tiểu đội, có từ 30 đến 50 người cùng làng hay thuộc làng lân cận. Đội có từ hai ba đến năm Thuyền do một Đội trưởng hay một Cai đội trông. Cơ gồm có nhiều đội thường có tới từ 6 đến 10 Thuyền, có cơ đặc biệt gồm có tới 60 thuyền. Quân số có từ 250 đến 600 người, do một cai cơ hay trưởng cơ chỉ huy.
- Thời đó có 5 cơ: Trung cơ, Tả cơ, Hữu cơ, Hậu cơ và Tiền cơ.
- Dinh gồm có một số quân ngang với cơ do một Trưởng dinh điều kiển. Dưới quyền Trưởng dinh có các Trưởng cơ (theo sự khảo cứu của các sử gia Pháp quân số của các đơn vị trong binh đội Nam Hà hay thay đổi về quân số, nghĩa là quân số khi thăng khi giảm không nhất định).
Các tướng tham chiến đa phần của hai bên[sửa|sửa mã nguồn]
Trong vòng 45 năm ( từ năm 1627 đến năm 1672 ), hai họ Trịnh – Nguyễn đánh nhau 7 lần với những trận chiến ác liệt, có khi lê dài năm này qua năm khác. Cuộc cuộc chiến tranh đã làm hao tổn sức người sức của, triệt phá đồng ruộng, xóm làng. Cuộc cuộc chiến tranh cũng dẫn đến việc chia đôi chủ quyền lãnh thổ của nước Đại Việt thống nhất thành giang sơn riêng của hai dòng họ. [ 17 ]
- ^ Vợ chúa Nguyễn Phúc Nguyên vốn là con gái Khiêm vương Mạc Kính Điển, khi nhà Mạc thất thế, cùng chú là Mạc Cảnh Huống đi theo họ Nguyễn. Do đó giữa hai họ Mạc và Nguyễn có thân tình
- ^ Chúa Nguyễn
- ^ Dupuy, p. 653 .
- ^ Họ Vũ vốn người Thành Phố Hải Dương, cát cứ ở Tuyên Quang từ thời Nam Bắc triều chống nhà Mạc. Tuy nhiên khi nhà Lê ra Thăng Long vẫn không hàng mà liên tục cát cứ, quay sang link với Mạc chống Trịnh. Họ Vũ cát cứ từ Vũ Văn Uyên, tới em Uyên là Vũ Văn Mật, con Mật là Vũ Công Kỷ, con Kỷ là Vũ Đức Cung ( xưng là Long Bình vương ), con Cung là Vũ Công Đức, con Đức là Vũ Công Tuấn, toàn bộ được 6 đời thì hàng Trịnh, được phong chức Khoan quận công. Các đời họ Vũ đều được gọi là Chúa Bầu
- ^ Đại Nam thực lục, tập 1
- ^
Truyện cũ cố đô – Nguyễn Đắc Xuân, Nhà xuất bản Thuận Hóa, 1986
- ^ Theo ” Đại Nam thực lục “, chúa Nguyễn biết nguyên do Trịnh vào giúp đánh Tây Sơn chỉ là chiêu thức, sai Kiêm Long đến nói với Q. Việp rằng Đàng Trong tự dẹp được Tây Sơn không cần quân Trịnh. Quận Việp hỏi nhỏ việc Đàng Trong, Kiêm Long nói khéo rằng : ” Đường không đi không đến, chuông không gõ không kêu “, ý bảo lời chúa Nguyễn nói không đúng. Quận Việp hiểu thâm ý của Long bèn tiến quân
- ^ đời các chúa Trịnh xưa kia chưa từng sở hữu được Thuận Hóa, nay bị mất đất đó lại là cái may cho nước nhà (!)Nghe tin Phạm Ngô Cầu để mất Phú Xuân, những quan họ Trịnh trấn an Trịnh Tông rằng : ( ! )
- ^ Li Tana, Nguyễn Cochichina, Southern Vietnam in the Seventeenth and Eighteenth Centuries, Thành Phố New York : Cornell University, 1998, tr 159 – 160, 171 .
- ^ Li Tana, Nguyễn Cochinchina : Southern Vietnam in the Seventeenth and Eighteen Centuries tr 171 Thành Phố New York : Cornell University, 1998 .
- ^ Phan Khoang ( 2001 ), Việt sử xứ Đàng Trong, Nhà xuất bản Văn Học, tr. 242 – 243 .
- ^ Phan Khoang ( 2001 ), Việt sử xứ Đàng Trong, Nhà xuất bản Văn Học, tr. 243, tác giả ghi dẫn theo giáo sĩ đương thời Alexandre de Rhodes và tài liệu những giáo sĩ khác .
- ^ Phan Khoang ( 2001 ), Việt sử xứ Đàng Trong, Nhà xuất bản Văn Học, tr. 243 tr. 243 – 244 .
- ^ Phan Khoang ( 2001 ), Việt sử xứ Đàng Trong, Nhà xuất bản Văn Học, tr. 249 – 283 .
- ^ Cristophoto Borri ( 1998 ), Xứ đàng trong năm 1621, Nhà xuất bản Tp Hồ Chí Minh, tr. 84 .
- ^ Nguyễn Quang Ngọc ( 2000 ), Tiến trình Lịch sử Nước Ta, Nhà xuất bản Giáo dục đào tạo, tr. 140 .
- ^
Wiiliam Dampier (2007), Một Chuyến Du Hành Đến Đàng Ngoài Năm 1688, Nhà xuất bản Thế giới, tr. 91.
- ^ Asia in the Making of Europe, tr 1681 .
- ^
Phan Ngọc Liên (Tổng chủ biên) (2006). Lịch sử 10 – Nâng cao. Nhà xuất bản Giáo dục. tr. 180.
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Đời Sống






