Đối tượng nghiên cứu : Khách thể nghiên cứu : Khái niệm về gia đình: 1 Định – Tài liệu text

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.33 MB, 104 trang )

4
3.3. Đề xuất các biện pháp giúp sinh viên nâng cao nhận thức và có hành vi đúng đắn trong hành vi chọn bạn đời.
Trong đề tài này, chúng tơi tập trung nghiên cứu chủ yếu là nhiệm vụ 3.1 và 3.2.
4 Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu, khách thể khảo sát và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu :

Nhận thức về hạnh phúc gia đình và xu hướng hành vi chọn bạn ñời của sinh viên trường CĐSP Thái Bình .

4.2. Khách thể nghiên cứu :

Sinh viên trường CĐSP Thái Bình.

4.3. Khách thể khảo sát :

300 sinh viên trường CĐSP Thái Bình .
4.4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Do điều kiện còn hạn chế, chúng tôi chỉ nghiên cứu: Nhận thức về
hạnh phúc gia đình và xu hướng hành vi chọn bạn ñời của sinh viên trường CĐSP Thái Bình.
5 Gỉa thuyết khoa học
– Nhận thức của sinh viên về hạnh phúc gia đình có nhiều thay đổi nhưng một số giá trị truyền thống như : hòa thuận, chung thủy vẫn ñược coi
trọng . – Sinh viên ñánh giá cao những giá trị tốt ñẹp của truyền thống gia đình
và trách nhiệm của vợ, chồng trong việc xây dựng hạnh phúc gia đình. – Sự lựa chọn bạn ñời của sinh viên trường CĐSP Thái Bình theo xu
hướng thực tế, họ quan tâm nhiều ñến những tiêu chuẩn ñảm bảo cuộc sống vật chất ñầy ñủ, hạnh phúc của gia đình trong tương lai như: Nghề nghiệp,
sức khỏe, trí tuệ, gia đình cơ bản …
6 Phương pháp nghiên cứu
5
Để thực hiện nhiệm vụ của đề tài, chúng tơi đã sử dụng phối hợp một số các phương pháp sau:
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn : 6.2.1 Phương pháp ñiều tra bằng Anket
6.2.2 Phương pháp ñàm thoại, phỏng vấn sâu 6.3 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học .
6
PHẦN NỘI DUNG Chương 1 : Cơ sở lý luận của ñề tài

1. Tổng quan về vấn ñề nghiên cứu

Hạnh phúc gia ñình và chọn bạn ñời ñã ñược nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu .
Trên thế giới :
Từ khoảng thế kỉ I ñến thế kỉ IV, dân tộc Ấn Độ đã có tác phẩm
“Camasutra” của tác giả wll. Durant viết về tình yêu , xây dựng gia đình
như thế nào cho phù hợp. Trong giai ñoạn này, Ấn Độ ñang diễn ra cuộc vận ñộng thanh niên quan niệm đúng đắn trong tình u và hơn nhân. Tác phẩm
đã ñược ñánh giá cao và ñược sử dụng trong ñề tài nghiên cứu cấp quốc gia của Ấn Độ.

C. Mác và F. Ăngghen trong cuốn “hơn nhân và gia đình”, ñã ñề cập

ñến các vấn ñề hôn nhân qua các thời kì phát triển lịch sử: “ Trong lịch sử phát triển của xã hơi lồi người có 3 hình thức hơn nhân
chính tương ứng với 3 giai đoạn chính trong sự phát triển của loài người : – Thời mơng muội : Hình thức hơn nhân là quần hơn, con người sống
trong xã hội quan hệ tính giao bừa bãi. – Thời dã man : Chế ñộ quần hơn theo quan hệ huyết thống đã loại bỏ,
khơng ñược lấy nhau trong dòng tộc. Con người ñến tuổi trưởng thành đều có một chồng hay một vợ chính .
– Thời văn minh : Đã hình thành gia ñình một vợ một chồng, ñã xuất hiện tệ ngoại tình và nạn mại dâm”
Nhà tâm lý học người Mỹ Tal Ben – shahar trong cơng trình nghiên
cứu của mình về hạnh phúc gia đình “ Learn the Secret of Daily Joy and Lasting Fulfillment” tạm dịch là ñể hạnh phúc hơn hãy học những bí mật
7
niềm vui hàng ngày và hiện thức hóa lâu dài”,ñã ñề cập ñến hạnh phúc và hạnh phúc gia đình như một ý nghĩa của cuộc ñời, cách ñể có được hạnh
phúc, và muốn có được hạnh phúc con người phải hành ñộng như thế nào? Và cơng trình này sau khi xuất bản thành cuốn sách cùng tên ñã thu hút rất nhiều
ñộc giả cũng như các nhà nghiên cứu về gia đình và xã hội học quan tâm, ñánh giá cao.
Trong những năm 90 ở Mỹ, các nhà tâm lý học Richard Stevens, Brett Kahn, nhà triết học kiêm kinh tế học Reveees, nhà hoạt ñộng xã hội
Andrew Mawson ñã tiến hành cơng trình nghiên cứu “ Trở thành người hạnh
phúc như thế nào?”, cơng trình này được sự tài trợ của đài truyền hình BCC2 và đã kết thúc thành cơng. Trong cơng trình này đã đề cập một cách cụ thể về
hạnh phúc và hạnh phúc gia đình, con người sẽ trở thành hạnh phúc và có được hạnh phúc gia đình khi các cá nhân tích cực vì nhau, quan tâm chia sẻ
với nhau.
Trong tác phẩm “ Bức tranh gia đình” 2004 của T.S Johan Goethe
đã nghiên cứu về tồn bộ đời sống gia đình và ảnh hưởng của gia đình đến sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ. Đồng thời tác phẩm cũng ñã ñưa ra
những phương thức ñể xây dựng một gia đình hạnh phúc. Quan điểm và cách tiếp cận của Johan Goethe ñược các nhà nghiên cứu về gia đình đánh giá với
nhận xét : “ Đây là tác phẩm mà những gia đình trẻ cần ñọc”. Tác phẩm cũng ñã ñược in và xuất bản nhiều lần, ñược ñánh giá là một trong những quyển
sách bán chạy nhất nước Mỹ lúc bấy giờ.
TS. David Niven sau nhiều năm nghiên cứu và giảng dạy mơn Tâm lý
học tại Mỹ đã tổng kết những kinh nghiệm cũng như kiến thức của mình về “
Bí quyết để có một gia đình hạnh phúc” cùng với Giáo sư Steve Brukett
người ñã dành cả cuộc ñời ñể nghiên cứu về con người viết thành cuốn sách
mang tên : “ Bí quyết để có một gia đình hạnh phúc”, cuốn sách này đã
được Cơng ty Fits News – Trí Việt mua bản quyền xuất bản, và ñược Nxb Trẻ
8
xuất bản năm 2007. Trong tác phẩm này David Niven ñã viết “ Cuộc sống gia đình hạnh phúc hay khơng là tùy thuộc vào ý thức xây dựng và gìn giữ của
những người trong cuộc. Dù sống trong hồn cảnh gia đình như thế nào ñi chăng nữa nhưng nếu bạn biết cách sắp xếp, vun vén và quan trọng hơn cả là
ñối xử với nhau bằng con tim chân thành thì bạn hồn tồn có thể được hưởng hạnh phúc gia đình”
Tại Việt Nam :
Nhà xuất bản Khoa học xã hội năm 1991 xuất bản cuốn “Người phụ nữ và gia đình Việt Nam hiện nay” có bài viết : “ suy nghĩ về những yếu tố cơ
bản tạo ñộ bền vững của hạnh phúc gia đình, đó là sự hòa hợp tình cảm, hòa hợp tình dục, phong cách ni dạy con, cách tổ chức cuộc sống gia đình”
Tác giả Ngơ Cơng Hồn với cuốn : “Tâm lý học gia đình”- 1993 đã
đề cập đến những quan niệm ñầy ñủ về một gia ñình và khả năng giữ gìn, bảo tồn và phát huy hạnh phúc trong gia ñình.
Tác giả Nguyễn Đình Xuân với cuốn “Tâm lý học gia đình”- 1993;
cuốn “ Tuổi trẻ sự nghiệp tình yêu”- 1997; cuốn “Giáo dục ñời sống gia đình”- 1997. Đã đề cập đến tình yêu giữa cha mẹ vợ chồng và mối quan hệ
của nó đối với việc xây dựng hạnh phúc gia đình, bên cạnh đó tác giả cũng đề cập đến vấn ñề bạn ñời và chọn bạn ñời,ñến hôn nhân.
Trong báo cáo tại hội nghị “ Người mẹ Việt Nam và vấn đề ni dạy
con” của giáo sư Đặng Xuân Hồi đã đề cập đến sự cần thiết phải có kế
hoạch, chương trình cụ thể nhằm giúp thanh niên có quan niệm đúng đắn về tình u, chọn bạn đời và có tâm thế nhất định cho việc làm cha làm mẹ sau
này, và có hoạch ñịnh trong tương lai ñể xây dựng cuộc sống gia đình sau này.
Trong cuốn “ Hạnh phúc gia đình trẻ” nhiều tác giả Nxb Trẻ,1994 tập hợp một số bài nghiên cứu về gia đình và hạnh phúc gia đình của những
gia đình trẻ, trong đó đã đề cập đến những vấn ñề về như : Cách thức tổ chức
9
cuộc sống gia đình, vai trò của người phụ nữ và đàn ơng trong việc xây dựng, gìn gữ hạnh phúc gia đình, những xung đột trong gia đình…
Trong cơng trình nghiên cứu về “Gia đình trẻ và việc thi hành nhân cách thanh niên” của PTS.Dương Tự Đam, ñã bàn về vấn ñề : xây dựng
hạnh phúc gia đình khơng chỉ góp phần hình thành nhân cách của trẻ ngay từ bé mà còn góp phần tạo nên một xã hội phồn thịnh. Đồng thời, cơng trình
nghiên cứu cũng ñã ñề cập ñến những cơ sở lý luận và thực tiễn cùng với những vấn ñề cơ bản về nội dung, phương pháp giáo dục con cái góp phần
hình thành nhân cách thanh niên thời đại mới. Nội dung của cơng trình nghiên cứu ñã ñược Nxb Thanh niên xuất bản thành cuốn sách “Gia đình trẻ và việc
thi hành nhân cách thanh niên”- 2007. Tóm lại, vấn đề hạnh phúc gia đình và sự lựa chọn bạn ñời ñã ñược các
tác giả trong và ngồi nước quan tâm và nghiên cứu, nó đang trở thành một vấn ñề nổi bật ñược xã hội và thời ñại quan tâm. Tuy nhiên, các nghiên cứu
cũng mới chỉ dừng lại ở mức ñộ nghiên cứu về hạnh phúc gia đình và lựa chọn bạn ñời của thanh niên mà chưa nghiên cứu sâu trên sinh viên ñặc biệt là
sinh viên sư phạm.

2. Gia đình và hạnh phúc gia đình :

Để hiểu một cách hoàn chỉnh thế nào là hạnh phúc gia đình, trước hết cần phải hiểu khái niệm gia đình và hạnh phúc.
2.1. Khái niệm về gia đình: 2.1.1 Định nghĩa về gia đình:
Ngay từ khi lồi người mới hình thành, ñể tồn tại và phát triển con người ta bắt buộc phải liên kết với nhau theo nhóm. Trong sự liên kết đó, một
qui luật tự nhiên là người đàn ơng liên kết với người ñàn bà sinh ra con cái. Lúc ñầu mối liên kết này diễn ra theo kiểu quần hôn, dần dần có sự phân hóa
phát triển thành gia đình. Trải qua q trình biến đổi lịch sử, gia đình phát triển ngày càng tiến bộ cùng với sự tiến bộ của xã hội. Là nơi xuất thân của
10
mỗi con người, là một thiết chế quan trọng của xã hội, gia đình có ý nghĩa vô cùng quan trọng không chỉ ñối với mỗi cá nhân mà còn đối với cả xã hội.
Hiện nay gia đình ñã ñược rất nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau quan tâm nghiên cứu, do vậy có rất nhiều quan niệm khác nhau về gia
đình. Có rất nhiều cách tiếp cận nghiên cứu gia đình dưới các góc độ khác
nhau : + Ở góc độ kinh tế học, gia đình được nghiên cứu với tư cách là một
ñơn vị kinh tế, ñơn vị tiêu dùng. + Nhân chủng học nghiên cứu gia đình theo sự biến ñổi ña dạng của
các loại hình gia đình giữa các nền văn hóa. + Sử học nghiên cứu các mơ hình gia đình ñã qua trong các thời kỳ lịch
sử. + Dân tộc học nghiên cứu đặc trưng gia đình ở các dân tộc khác nhau.
Theo các nhà nghiên cứu xã hôi học, dân tộc học thì gia đình từ thời nguyên thủy gồm một nhóm xã hội nhỏ cùng chung sống và đến nay nhóm xã
hội này vẫn tồn tại với một số chức năng cơ bản của nó. Theo Mác – Ăngghen, gia đình là “ mối quan hệ giữa chồng và vợ, giữa
cha mẹ và con cái”
Nhà xã hội học người Nga T.Aphanaxeva ñã tổng kết có 3 quan điểm
khác nhau về gia đình : – Quan điểm thứ nhất : Gia đình là một nhóm nhỏ xã hội liên kết với
nhau bằng một chỗ ở, bằng một ngân sách chung và các mối quan hệ ruột thịt. – Quan ñiểm thứ hai : Cho rằng cần bổ sung thêm vào định nghĩa trên
cho hồn chỉnh là giữa các thành viên có gắn bó giúp đỡ lẫn nhau, “gia đình là một nhóm xã hội liên kết với nhau trong một nhà, bằng một ngân sách
chung và các mối quan hệ giúp đỡ lẫn nhau bằng tình cảm và trách nhiệm”
11
– Quan điểm thứ ba : “ Gia đình hiện ñại là một nhóm xã hội bao gồm bố mẹ, và con cái của một vài thế hệ, các thành viên trong gia đình có mối
quan hệ ràng buộc về vật chất, tinh thần theo những ngun tắc, mục đích sống như nhau về các vấn ñề chủ yếu trong sinh hoạt , văn hóa, kinh tế, tình
cảm, lao động vui chơi, học tập, sinh con và dạy con…”[ 10, 5 ]
Nhà triết học người Ý Galimberto cho rằng : theo quan niệm phổ
biến nhất, gia đình là tế bào của xã hội, bao gồm hai cá thể khác giới và những người nối dõi của cả hai.
Nhà nghiên cứu về gia đình Levy Stranss lại cho rằng: “Gia đình là
một nhóm xã hội ñược quy ñịnh bởi các ñặc ñiểm : bắt nguồn từ hôn nhân, bao gồm vợ chồng con cái phát sinh từ hôn phối,các thành viên gắn bó với
nhau bởi ràng buộc của pháp lý, bởi các nghĩa vụ và quyền lợi” [ 24, 31]
David Niven trong cuốn “ Bí quyết để có một gia đình hạnh phúc” đã
tổng kết : Nói đến gia đình là nói đến những mối quan hệ ruột thịt. Nhưng xét ở góc độ xã hội thì nó vẫn là mối quan hệ phức tạp giữa những cá nhân trong
một tập thể. Cũng tương tự như bất kì mối quan hệ nào khác trong cuộc sống, con người muốn tìm thấy cảm giác an tồn, thân thiết và thoải mái. Vì vậy gia
đình chính là “tổ ấm” mà con người muốn và cần có. Các nhà khoa học Pháp thì coi “Gia đình là cha mẹ và con cái sống
cùng một mái nhà” Theo quan niệm của phương Đơng thì gia đình thường được quan niệm
như sau: “Gia” mang ý nghĩa là nhà ở, “ Đình” có nghĩa là chỗ phát lệnh cho cả nước noi theo. Nghĩa xưa của gia đình là một ñơn vị kinh tế nhỏ, sống
chung dưới một mái nhà trong cộng ñồng xã hội.[17, 23]
Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện cho rằng : gia ñình gồm các mối quan hệ vợ
chồng, bố mẹ với con cái, anh chị em với nhau, đó gọi là tình tổ ấm.
PGS. TS Ngơ Cơng Hồn viết trong “tâm lý học gia đình” như sau : “
gia đình là một nhóm nhỏ xã hội. Các thành viên trong nhóm có quan hệ gắn
12
bó về hơn nhân hoặc huyết thống, tâm lý, cùng có chung các giá trị vật chất, tinh thần ổn định trong các thời điểm lích sử nhất định” [ 10, 8]
Theo Nguyễn Đình Xn : Gia đình là một đơn vị, một nhóm nhỏ
nhất của xã hội với số lượng thành viên ít nhất là hai người: vợ và chồng, sau đó sinh sơi nảy nở thêm con cái, trong đó mối quan hệ vợ chồng là giường
cột” [ tâm lý học tình u gia đình của Nguyễn Đình Xuân, Nxb Giáo dục năm 1996 ]
Theo tài liệu Giáo dục ñời sống gia ñình do giáo sư Trần Trọng Thủy viết: Gia đình là một nhóm nhỏ liên kết với nhau với những mối quan
hệ hôn nhân, huyết thống hay nhận con nuôi, tạo thành một hệ riêng biệt, tác ñộng qua lại và giao tiếp lẫn nhau qua vai trò xã hội của từng người: là chồng,
là vợ, là cha, là mẹ, là con trai, con gái, anh em, tạo thành một nền văn hóa chung.
Một số quan điểm khác cho rằng: gia đình là một nhóm xã hội gắn bó về mặt hôn nhân hoặc huyết thống có chung những giá trị vật chất và tinh
thần ổn ñịnh trong các thời kì lịch sử và xã hội nhất ñịnh. Như vậy có rất nhiều ñịnh nghĩa khác nhau về gia đình, tùy thuộc vào
cách tiếp cận của mỗi tác giả trong việc xem xét khái niệm về gia đình. Từ những quan điểm trên, ở góc độ tâm lý học, chúng tôi rút ra định
nghĩa chung nhất về gia đình làm cơng cụ nghiên cứu của đề tài như sau : Gia đình là một nhóm nhỏ xã hội, các thành viên gắn bó với nhau bằng quan hệ
hơn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nhận con nuôi, các thành viên cùng chung sống, có ngân sách chung, có trách nhiệm với nhau, thỏa mãn
nhu cầu vật chất và tinh thần, tình cảm, vừa đáp ứng nhu cầu riêng tư của cá nhân, vừa thỏa mãn nhu cầu xã hội về tái sản xuất con người và duy trì nòi
giống.

2.1.2 Đặc trưng của gia đình:

13
Để nhận thức đúng đắn về hạnh phúc gia ñình thì cần phải tìm hiểu ñặc trưng cơ bản của gia đình.
Thơng qua việc nghiên cứu,phân tích và tổng hợp tài liệu, chúng tơi đã thống kê có 4 ñặc trưng cơ bản của gia ñình, cụ thể :
– Gia đình là một nhóm nhỏ trong xã hội, nhất thiết phải có từ 2 người trở lên. Như vậy, gia đình là một nhóm xã hội đặc biệt, khác với các thiết chế
xã hội khác. Ở ñây cần phân biệt khái niệm gia đình với khái niệm hộ. Khái niệm hộ ñược hiểu như một nhóm người ở chung một mái nhà, gồm những
người có quan hệ ruột thịt, họ hàng, có quỹ thu chi chung. Hộ cũng có thể bao gồm những người bạn bè quen biết cùng học tập, cùng lao động. Có trường
hợp hộ là một người sống ñộc thân hộ ñộc thân, cũng có thể hộ là một tập thể sống trong một mái nhà nhưng khơng có quỹ thu chi riêng. Gọi là hộ tập
thể. – Gia ñình ñược hình thành và phát triển trên cơ sở quan hệ hôn nhân
huyết thống . Trong quan hệ xã hội hai người khác giới hiểu biết về nhau, rung động
về nhau, có nhu cầu về nhau nhu cầu tình cảm, nhu cầu tình dục… và khi họ quyết ñịnh thực hiện sống chung với nhau ñể ñược thỏa mãn nhu cầu, ñó là
thời ñiểm xuất hiện một gia đình mới trong xã hội. Nói cách khác, gia đình được hình thành bắt đầu từ sự kết hơn chính thức hoạc khơng chính thức
giữa hai người đàn ơng và đàn bà, tạo nên quan hệ mới – quan hệ vợ chồng. Sống chung với nhau, họ bắt ñầu sinh con, từ ñây những mối quan hệ
mới trong gia đình được hình thành đó là : Quan hệ cha mẹ – con cái, quan hệ ông bà với các cháu, quan hệ anh chị em…
Trong các mối quan hệ ấy thì quan hệ vợ chồng là quan trọng nhất quyết ñịnh ñến sự hình thành, tồn tại và phát triển của gia đình. Nếu quan hệ
vợ chồng được xây dựng trên cơ sở hiểu biết nhau, yêu thương nhau một cách thực sự và mỗi người ý thức rõ ñược trách nhiệm, bổn phận của mình trong
14
quan hệ với nhau thì gia đình ấy sẽ hạnh phúc, ngược lại gia đình đó sẽ tan vỡ, là nỗi bất hạnh của mỗi người. Vì vậy, đòi hỏi trước khi kết hơn phải có
tình cảm với nhau, có sự hiểu biết về nhau và phải có sự lựa chọn phù hợp với quan điểm, cách sống của mình.
– Mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình là mối quan hệ ruột thịt, huyết thống. Gia đình gồm có cha mẹ, con cái do cha mẹ sinh ra. Cha mẹ
truyền lại cho con cái những ñặc ñiểm về mặt thể chất thông qua gen di truyền sinh học. Trong gia đình còn có ơng bà nội ngoại hoặc cơ, dì, chú, bác cùng
sống chung. Hoặc có những gia đình nhận con nuôi, em nuôi, tuy khơng có quan hệ huyết thống nhưng do tình cảm quan hệ của họ với các thành viên
trong gia đình vẫn như quan hệ ruột thịt. Mọi thành viên trong gia đình sống có trách nhiệm, lo lắng cho nhau, yêu thương nhau bằng một tình cảm đặc
biệt của quan hệ huyết thống. Khơng có quan hệ này thì khơng gọi là gia đình theo đúng nghĩa của nó.
– Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình có mối quan hệ mật thiết với xã hội, vì vậy mà nó biến đổi cùng với sự thay đổi của xã hội .
Xét ở góc độ hơn nhân: + Thời phong kiến : Hơn nhân của thanh niên đến tuổi lấy vợ lấy chồng
theo sự sắp xếp của cha mẹ “ cha mẹ ñặt ñâu con ngồi ñấy” nhưng khởi đầu của hơn nhân là tình thương, trách nhiệm và nghĩa vụ được hòa quyện vào
nhau, họ ln ý thức được bổn phận của mình trong gia đình và họ coi hơn nhân là việc hệ trọng của cả cuộc đời con người. Đó là cơ sở ñầu tiên tạo nên
sự bền vững của gia ñình thời phong kiến. + Ngày nay, hôn nhân của nam nữ ñược họ tự do quyết ñịnh, nhiều
thanh niên theo kiểu hôn nhân tự do thái q, theo sở thích của cá nhân mình vì vậy mà họ coi hơn nhân gia đình khơng còn là công việc hệ trọng như trước
nữa. Trong gia đình vợ chồng quan hệ bình đẳng với nhau nhiều khi “ bình đẳng q mức” dẫn đến cảnh vợ chồng xung ñột với nhau, ý thức trách nhiệm
15
của họ với gia đình vì vậy cũng giảm sút. Nhiều cặp vợ chồng cho rằng : Khi ñã xung ñột với nhau, khơng còn u nhau thì ly hơn là cách tốt nhất, là giải
thoát cần thiết cho mỗi người, nhiều khi họ khơng nghĩ sâu xa đến quyền lợi của con cái. Chính vì vậy so với trước đây tỉ lệ ly hôn ngày nay cao hơn nhiều
so với gia đình thời phong kiến. Điều đó cho thấy rằng : sự bền vững của gia đình liên quan trực tiếp.
Trước tiên ñến sự nhận thức của mỗi người về gia đình, vai trò, trách nhiệm của người vợ người chồng trong gia đình.

2.1.3 Chức năng của gia đình:

Gia đình Việt Nam hiện nay vẫn là mơ hình gia đình truyền thống ña chức năng và ñể ñạt ñược mục tiêu xây dựng hạnh phúc, ấm no hòa thuận thì
gia đình cần phải thực hiện hàng loạt các chức năng của mình. Vấn đề này cũng có nhiều quan điểm khác nhau.
Tác giả Mai Thúy Bích viết trong “lối sống gia đình ngày nay”, Nxb Phụ nữ, Hà Nội , 1987 ñưa ra 6 chức năng của gia đình :
1.Sinh đẻ duy trì nòi giống 2.Tổ chức sinh hoạt gia đình
3.Xã hội hóa giáo dục thế hệ trẻ 4.Tổ chức thời gian tự do cho các thành viên
5.Thỏa mãn những nhu cầu tình cảm 6. Chăm sóc người già và những thành viên khơng có khả
năng lao động . Theo tác giả Trần Trọng Thủy viết trong “giáo dục ñời sống gia đình”
Hà Nội, 1990. Gia đình phải thực hiện các chức năng : 1.Sinh đẻ và ni dạy con
2.Tổ chức cuộc sống vật chất và văn hóa 3.Tổ chức kinh tế
16
Trong “tâm lý học gia đình”, tác giả Ngơ Cơng Hồn đã tổng kết có 6 chức năng mà gia đình cần phải thực hiện :
1. Sinh ñẻ 2. Chức năng giáo dục trẻ em
3.Chức năng tiêu dùng 4. Chức năng kinh tế
5. Chức năng thỏa mãn nhu cầu 6. Chức năng chăm sóc người già.
Theo tác giả Nguyễn Khắc Viện, trong cuốn “bàn về tâm lý học gia đình”, Nxb Thế giới, 1990, ngồi các chức năng trên thì gia đình còn có chức
năng thứ 7 đó là chức năng tình cảm lứa ñôi giữa vợ và chồng . Các quan niệm trên ñều là hợp lý. Các chức năng mà các tác giả ñã nêu
ra là những nhiệm vụ cơ bản mà gia đình phải thực hiện và là những yếu tố tạo ra sự bền vững của gia đình trong cả q trình phát sinh, phát triển xã hội
lồi người. Khái qt các quan điểm trên, chúng tơi cho rằng gia đình gồm 6 chức
năng cơ bản : Chức năng tình dục lứa đơi giữa vợ và chồng :
Trong quan hệ vợ chồng, chức năng quan hệ tình dục hay ái ân là không thể thiếu được. Nhiều cơng trình nghiên cứu khoa học đã chứng minh
sự tan vỡ gia đình là do khơng có quan hệ tình dục, do phản bội nhau, có quan hệ tình dục với người khác hoặc do khơng có sự hòa hợp tình dục giữa hai
người.Vì vậy, cả hai vợ chồng cần có kiến thức cần thiết cũng như có sự “cởi mở” với nhau để có được sự thỏa mãn ở cả hai người. Dưới góc độ khoa học
và nhân văn chức năng này có vị trí quan trọng hàng đầu trong việc giữ gìn hạnh phúc gia đình.
Từ trước tới nay, con người vẫn rất e ngại khi nói đến vấn đề này, chỉ vì quan niệm cổ hủ, lạc hậu cho rằng chuyện quan hệ ái ân là chuyện thường
17
tình khơng cần dạy rồi ai cũng biết. Đã ñến lúc chúng ta phải nhìn nhận vấn đề này dưới góc độ khoa học và nhân văn, nghiêm túc.
Nói đến chức năng tình dục là nói đến chuyện ái ân giữa vợ và chồng. Trong chuyện này, ái ân vừa là hành vi bản năng tự nhiên nhằm thỏa mãn nhu
cầu tình dục vừa là hành vi xã hội mang màu sắc ñạo ñức thẩm mỹ vượt xa khỏi bản năng tình dục của động vật.
Muốn vậy, người vợ và người chồng trước đó phải có tình u đơi lứa, có những rung cảm về mặt tình cảm và phải mang lại khoái cảm cho nhau về
cả thể xác lẫn tâm hồn. Vợ chồng phải nắm vững quy luật về đời sống tình dục và đặc ñiểm nhu cầu tình dục của nhau ñể tạo ra sự hòa hợp trong đời
sống vợ chồng, nếu khơng sẽ ảnh hưởng đến sự bền vững của hạnh phúc gia đình.
Chức năng sinh sản để duy trì nòi giống : Đây là chức năng đặc biệt, làm cho gia đình khác biệt với các nhóm
xã hội khác và cũng là chức năng quan trọng của mỗi gia đình và xã hội. Đó chính là khả năng tái sản xuất con người, nghĩa là phải sinh con đẻ cái khơng
ngừng thay thế số dân già, chết … đồng thời cũng góp phần tái sản xuất sức lao ñộng của con người. Tuy nhiên, việc sinh đẻ cũng cần phải có kế hoạch.
Nhiều gia đình quan niệm “đơng con là nhà có phúc” hay “trọng nam khinh nữ” mà gây nên tình trạng gia tăng dân số và khơng đảm bảo được việc ni
– dạy ñầy ñủ cho các con.Vì vậy, chức năng sinh ñẻ ngày nay cần phải được kế hoạch hóa. Chỉ như vậy mới ñảm bảo tái sản xuất con người hợp lý, vừa
ñảm bảo chất lượng cuộc sống cho ñứa trẻ sinh ra, vừa ñảm bảo hạnh phúc cho gia ñình và xã hội.
Sinh con là nguồn hạnh phúc của gia đình,song cũng là gánh nặng nếu như vỡ kế hoạch. Hạnh phúc trọn vẹn khi ta biết dạy dỗ con cái nên người.
Chức năng nuôi dưỡng giáo dục con cái :
18
Nếu chức năng tái sản xuất con người là chức năng đặc trưng của gia đình, thì giáo dục là chức năng của nhiều tổ chức xã hội nhà trường, các tổ
chức đồn thể khác trong đó giáo dục gia đình vẫn giữ vai trò quan trọng trong q trình xã hội hóa con người. Bởi vì gia đình là mơi trường xã hội ñầu
tiên của trẻ. Trước khi tới trường, những ñặc trưng xã hội của con người đã được hình thành từ mơi trường gia đình.Gia đình chính là mơi trương văn hóa
đầu tiên mà đứa trẻ tiếp xúc, là nơi hình thành nhân cách gốc cho đứa trẻ. – Sự hồn thiện chức năng giáo dục của gia đình phụ thuộc vào trình độ
nhận thức, ý thức trách nhiệm của cha mẹ ñối với việc giáo dục con cái . Từ đó đòi hỏi những người làm cha làm mẹ phải có ý thức trách nhiệm cũng như
nhận thức rõ ràng về vai trò của mình , có kiến thức nuôi dạy con cái nên người.
– Nuôi dưỡng, giáo dục con cái là trách nhiệm của các bậc cha mẹ. – Cha mẹ phải tạo ra mơi trường tốt đẹp để giáo dục con cái từ khi lọt lòng.
Để làm được điều đó, các bậc cha mẹ ln ln phải là tấm gương sáng cho con cái noi theo.
– Trong giai ñoạn hiện nay, sự phát triển của kinh tế và văn hóa xã hội đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho gia đình trong việc giáo dục con cái. Tuy
nhiên sự phát triển ấy lại làm cho giáo dục gia đình hiện nay đang đứng trước những thách đố mới. Sự phát triển của xã hội ñặt ra cho giáo dục, trong đó có
giáo dục gia ñình nhiệm vụ ngày càng cao, trong khi ñiều kiện sản xuất lao động của kinh tế thị trường khơng cho phép gia đình thực hiện đầy đủ chức
năng giáo dục của mình. – Nội dung giáo dục của gia ñình bên cạnh hình thành hành vi, kỹ năng
sống phù hợp với sự phát triển của xã hội hiện ñại, quá trình giáo dục trẻ em trước tuổi trưởng thành phải chú ý nhiều ñến nội dung kiến thức khoa học.
19
– Những ñặc trưng về truyền thống, gia phong, cung cách ứng xử, lối sống… của gia đình cũng ñược con cái kế thừa thông qua nếp sinh hoạt hàng
ngày và sự dạy dỗ của cha mẹ. Chính vì vậy con cái mang những dấu ấn tâm lý của cha mẹ và những người lớn khác trong ñời sống tinh thần của nó.Vì
vậy mà cha mẹ, người lớn phải là tấm gương tốt ñể con cái noi theo. – Xã hội phát triển rất phức tạp, giáo dục gia đình phải tạo ra “màng
lọc” cho trẻ trong vấn ñề tiếp nhận kinh nghiệm xã hội lồi người: Tiếp thu được kinh nghiệm hiện ñại, biết nhận thức ñúng về những vấn ñề cơ bản trong
cuộc sống, có quan điểm rõ ràng , ñồng thời phải biết loại trừ những cái xấu, những tác nhân xấu từ môi trường xã hội. Để thực hiện được điều này thì
chính những bậc làm cha làm mẹ phải có kiến thức, nhận thức đúng đắn cúng như có những quan ñiểm thật minh bạch về vấn đề và có mục đích chung
trong phương hướng giáo dục con cái . Như vậy, gia đình là trường học ñầu tiên của con người, tạo ñiều kiện
thuận lợi cho ñứa trẻ tập làm người. Mọi thành công, thất bại, mọi sự vui mừng hay buồn tủi, sự tự chủ hay biết kiềm chế của trẻ, sự ăn nói theo kiểu
người được các bậc cha mẹ, ông bà rèn dần dần trong cuộc sống gia đình. Đó là những cái vốn quý báu gọi là nhân cách gốc sẽ giúp cho trẻ vào ñời sau
này. Chức năng kinh tế :
Trong bất cứ thời ñại nào, nền kinh tế của gia đình giữ vai trò quyết định cho sự bền vững của gia đình. Kinh tế gia đình mà phát triển sẽ có ảnh
hưởng ñến các chức năng khác của gia ñìn, giúp cho gia đình thỏa mãn được các nhu cầu của mình như: ăn, học, vui chơi giải trí, ni dạy con cái và chăm
sóc cha mẹ….Ngược lại, kinh tế gia đình khơng ổn ñịnh, kém phát triển sẽ ảnh hưởng ñến hạnh phúc và sự ổn ñịnh của gia đình.
20
Muốn thực hiện được chức năng này thì cả 2 vợ chồng cần phải có việc làm ổn ñịnh cũng như có mức thu nhập ñảm bảo cho gia đình tồn tại và phát
triển. + Trong xã hội nơng nghiệp lạc hậu, gia đình là một đơn vị sản xuất, một
ñơn vị kinh tế ñộc lập. Mọi thành viên trong gia đình, dưới sự chỉ huy của một người, thường là ơng, hay cha, chồng, cùng lao động chung trong một cơ
sở sản xuất tiểu nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, tiểu thương nghiệp…Và tất cả cùng ăn, cùng ở trong một ngơi nhà. Tồn bộ thu nhập của gia đình
cũng tập trung. Vì vậy, mọi thành viên lệ thuộc với nhau vào chính đơn vị kinh tế này. Họ chung sức cùng làm cùng hưởng, chính ñiều này tạo nên mối
liên kết gia ñình bền vững, hòa thuận. + Thời kì bao cấp, chức năng kinh tế của gia đình bị tước bỏ, kinh tế
gia đình hồn tồn do xã hội quyết định. + Trong xã hội hiện ñại ngày nay chức năng kinh tế gia đình được
chuyển hóa dưới dạng hoàn toàn khác. Ngày nay kinh tế hộ gia đình dưới hình thức các cơng ty trách nhiệm
hữu hạn ñang giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Khơng chỉ đóng góp thu nhập cho đất nước, gia đình còn thể hiện như một đơn vị tiêu
dùng các giá trị vật chất, tinh thần do xã hội làm ra điều đó lại thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển.
Tuy nhiên thời đại cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng có tác động tiêu cực ñến gia ñình. Ở nhiều gia ñình, ñồng tiền chi phối các mối quan hệ, làm thay
ñổi các giá trị truyền thống. Trước kia, mơ hình kinh tế gắn kết các thành viên gia đình, ngày nay mỗi thành viên trong gia đình lao động ở cơ sở khác nhau,
mọi người khơng còn quan hệ với nhau trong một tổ chức sản xuất, chỉ liên hệ với nhau bởi sự ñóng góp tiền ñể lập ngân sách chung của gia ñình nhằm thỏa
mãn nhu cầu của gia ñình. Chức năng kinh tế chuyển từ chức năng sản xuất sang chức năng tiêu dùng và ñiều phối các chức năng khác. Điều đó dễ làm
21
lỏng lẻo mối liên kết của các thành viên, nếu gia đình khơng thống nhất được ngân sách chung, mỗi người một vốn, chỉ cần có sự bất hòa về mặt tình cảm
là dễ dẫn tới tan vỡ. Hiện tượng ly hôn tăng nhanh ở những nước cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa chứng minh cho hiện tượng này.
Như vậy, ñể thực hiện tốt chức năng kinh tế, ñảm bảo hạnh phúc gia đình, những người chủ gia đình khơng chỉ cần thiết phải có cơng ăn việc làm
tạo thu nhập ổn ñịnh cho gia đình mà còn phải điều tiết chức năng này cho hợp lý: chi tiêu có kế hoạch đồng thời cũng phải biết không nên quá coi trọng
việc làm ăn kiếm tiền mà qn đi trách nhiệm với gia đình và chăm sóc ni dạy con cái.
Chức năng tổ chức cuộc sống vật chất và thỏa mãn nhu cầu tâm lý: Mục tiêu chính của của chức năng tổ chức cuộc sống gia đình, là mang
lại hạnh phúc cho mọi thành viên trong gia đình.Vì vậy cần phải tổ chức cuộc sống gia đình sao cho hợp lý, khoa học, trong đó bao gồm các công việc như
chi tiêu, sự phân công lao động và cách thức điều hành các cơng việc, sự bàn bạc dân chủ giữa các thành viên. Gia đình không chỉ thỏa mãn nhu cầu vật
chất cho mỗi thành viên mà còn thỏa mãn nhu cầu tinh thần cho họ. Nhu cầu tâm lý là nhu cầu được u thương, chăm sóc, quan tâm của
những người thân trong gia đình, con cái ñông vui và nhu cầu ñược nghỉ ngơi, thư giãn sau những giờ làm việc, học tập căng thẳng. Gia ñình thỏa mãn ñược
nhu cầu này cho các thành viên, thực sự ñã là “tổ ấm cho mọi người”. Khác với các nhóm xã hội khác, gia đình là một nhóm bao gồm những
người thân yêu ruột thịt, chung sống hàng ngày với nhau. Xuất phát từ mối quan hệ huyết thống mọi thành viên trong gia đình gắn bó, yêu thương lẫn
nhau, sống có trách nhiệm lo lắng cho nhau. Vợ chồng, cha mẹ, con cái là chỗ dựa của nhau, luôn quan tâm chia sẻ những vui buồn, khó khăn, an ủi động
viên nhau trong cuộc sống. Gia đình là mơi trường an toàn cho những trẻ nhỏ, là chỗ dựa vững chắc giả tỏa ñược những căng thẳng, thất vọng của mỗi
22
người sau những giờ làm việc căng thẳng nơi cơ quan cơng sở. Chính vì vậy đi đâu, làm gì ai cũng hướng về tổ ấm của mình. Tuy nhiên để thỏa mãn được
nhu cầu này gia đình phải có truyền thống văn hóa tốt ñẹp, người ñứng ñầu gia ñình nhất là các bậc cha mẹ phải có trách nhiệm tổ chức cuộc sống hợp lý,
tạo ñiều kiện ñể mọi người gần gũi quan tâm lẫn nhau. Do ảnh hưởng sâu ñậm của tư tưởng Nho giáo và ñiều kiện kinh tế xã
hội, gia ñình truyền thống và gia ñình thời bao cấp thực tốt được chức năng này.
Trong gia đình hiện đại ngày nay, chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm lý cho các thành viên trong gia đình hiện nay đang có những chuyển biến đáng
kể. – Kinh tế phát triển mỗi gia đình đều có đủ phương tiện hiện đại thỏa
mãn nhu cầu thưởng thức văn hóa. – Các quan hệ trong gia đình nhìn chung vẫn duy trì được truyền thống
tốt ñẹp, các giá trị nhân văn ñược ñề cao. Nhu cầu thưởng thức văn hóa giao lưu phát triển, gia đình có điều kiện thỏa mãn cho các thành viên tốt hơn. Tuy
nhiên chức năng này của gia đình có sự chênh lệch khá lớn giữa các vùng, miền, và giữa các loại gia đình có nghề nghiệp khác nhau. Ở thành phố tỉ lệ
các gia đình tan vỡ, ly hơn đang có chiều hướng gia tăng và cao hơn ở nông thôn, nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ yếu tố tâm lý gia đình hoặc ở những
gia ñình làm ăn kinh tế, ñiều kiện thời gian dành cho con cái ít hơn. Lối sống của một số gia đình bị ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai, mối quan hệ giữa các
thành viên trong gia đình lỏng lẻo dễ tan vỡ. Như vậy, việc tổ chức tốt cuộc sống gia đình thì dù có nghèo mà mọi
người hòa thuận, u thương lẫn nhau thì đó cũng là một gia đình hạnh phúc Chức năng chăm sóc và ni dưỡng người già và người thân mất sức lao
động :
23
Chăm sóc, ni dưỡng người già, người thân mất sức lao ñộng là bổn phận và trách nhiệm của mỗi thành viên trong gia ñình, “chị ngã em nâng” là
truyền thống quý báu của gia đình Việt Nam. Trong thời đại ngày nay, các con thường ñi lao ñộng xa nên thường
khơng có điều kiện chăm sóc, ni dưỡng trực tiếp bố mẹ, ông bà khi yếu. Song ln ln phải có ý thức trách nhiệm với bố mẹ, ông bà, chị em trong
gia đình. Tóm lại, các chức năng của gia đình đang được phục hồi và có điều
kiện thực hiện tốt hơn và có vai trò ñặc biệt quan trọng không chỉ ñối với các thành viên mà còn tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế xã hội của ñất
nước. Chức năng của gia đình được đề cao cũng có nghĩa gia đình đanh có vai trò và vị thế quan trọng trong ñời sống kinh tế xã hội của ñất nước trong giai
ñoạn hiện nay. Như vậy, xã hội là mơi trường để gia đình tồn tại, phát triển và thực
hiện các chức năng của mình. Để xây dựng hạnh phúc gia đình đòi hỏi mỗi gia đình phải thực hiện tốt chức năng của mình, có như vậy mới đảm bảo
ñược sự ổn ñịnh, phát triển và hạnh phúc gia đình.
2.2 Hạnh phúc gia đình 2.2.1 Khái niệm hạnh phúc :

Nhận thức về hạnh phúc gia đình và xu hướng hành vi chọn bạn ñời của sinh viên trường CĐSP Thái Bình .Sinh viên trường CĐSP Thái Bình.300 sinh viên trường CĐSP Thái Bình .4.4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Do điều kiện còn hạn chế, chúng tôi chỉ nghiên cứu: Nhận thức vềhạnh phúc gia đình và xu hướng hành vi chọn bạn ñời của sinh viên trường CĐSP Thái Bình.5 Gỉa thuyết khoa học- Nhận thức của sinh viên về hạnh phúc gia đình có nhiều thay đổi nhưng một số giá trị truyền thống như : hòa thuận, chung thủy vẫn ñược coitrọng . – Sinh viên ñánh giá cao những giá trị tốt ñẹp của truyền thống gia đìnhvà trách nhiệm của vợ, chồng trong việc xây dựng hạnh phúc gia đình. – Sự lựa chọn bạn ñời của sinh viên trường CĐSP Thái Bình theo xuhướng thực tế, họ quan tâm nhiều ñến những tiêu chuẩn ñảm bảo cuộc sống vật chất ñầy ñủ, hạnh phúc của gia đình trong tương lai như: Nghề nghiệp,sức khỏe, trí tuệ, gia đình cơ bản …6 Phương pháp nghiên cứuĐể thực hiện nhiệm vụ của đề tài, chúng tơi đã sử dụng phối hợp một số các phương pháp sau:6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn : 6.2.1 Phương pháp ñiều tra bằng Anket6.2.2 Phương pháp ñàm thoại, phỏng vấn sâu 6.3 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học .PHẦN NỘI DUNG Chương 1 : Cơ sở lý luận của ñề tàiHạnh phúc gia ñình và chọn bạn ñời ñã ñược nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu .Trên thế giới :Từ khoảng thế kỉ I ñến thế kỉ IV, dân tộc Ấn Độ đã có tác phẩm“Camasutra” của tác giả wll. Durant viết về tình yêu , xây dựng gia đìnhnhư thế nào cho phù hợp. Trong giai ñoạn này, Ấn Độ ñang diễn ra cuộc vận ñộng thanh niên quan niệm đúng đắn trong tình u và hơn nhân. Tác phẩmđã ñược ñánh giá cao và ñược sử dụng trong ñề tài nghiên cứu cấp quốc gia của Ấn Độ.ñến các vấn ñề hôn nhân qua các thời kì phát triển lịch sử: “ Trong lịch sử phát triển của xã hơi lồi người có 3 hình thức hơn nhânchính tương ứng với 3 giai đoạn chính trong sự phát triển của loài người : – Thời mơng muội : Hình thức hơn nhân là quần hơn, con người sốngtrong xã hội quan hệ tính giao bừa bãi. – Thời dã man : Chế ñộ quần hơn theo quan hệ huyết thống đã loại bỏ,khơng ñược lấy nhau trong dòng tộc. Con người ñến tuổi trưởng thành đều có một chồng hay một vợ chính .- Thời văn minh : Đã hình thành gia ñình một vợ một chồng, ñã xuất hiện tệ ngoại tình và nạn mại dâm”Nhà tâm lý học người Mỹ Tal Ben – shahar trong cơng trình nghiêncứu của mình về hạnh phúc gia đình “ Learn the Secret of Daily Joy and Lasting Fulfillment” tạm dịch là ñể hạnh phúc hơn hãy học những bí mậtniềm vui hàng ngày và hiện thức hóa lâu dài”,ñã ñề cập ñến hạnh phúc và hạnh phúc gia đình như một ý nghĩa của cuộc ñời, cách ñể có được hạnhphúc, và muốn có được hạnh phúc con người phải hành ñộng như thế nào? Và cơng trình này sau khi xuất bản thành cuốn sách cùng tên ñã thu hút rất nhiềuñộc giả cũng như các nhà nghiên cứu về gia đình và xã hội học quan tâm, ñánh giá cao.Trong những năm 90 ở Mỹ, các nhà tâm lý học Richard Stevens, Brett Kahn, nhà triết học kiêm kinh tế học Reveees, nhà hoạt ñộng xã hộiAndrew Mawson ñã tiến hành cơng trình nghiên cứu “ Trở thành người hạnhphúc như thế nào?”, cơng trình này được sự tài trợ của đài truyền hình BCC2 và đã kết thúc thành cơng. Trong cơng trình này đã đề cập một cách cụ thể vềhạnh phúc và hạnh phúc gia đình, con người sẽ trở thành hạnh phúc và có được hạnh phúc gia đình khi các cá nhân tích cực vì nhau, quan tâm chia sẻvới nhau.Trong tác phẩm “ Bức tranh gia đình” 2004 của T.S Johan Goetheđã nghiên cứu về tồn bộ đời sống gia đình và ảnh hưởng của gia đình đến sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ. Đồng thời tác phẩm cũng ñã ñưa ranhững phương thức ñể xây dựng một gia đình hạnh phúc. Quan điểm và cách tiếp cận của Johan Goethe ñược các nhà nghiên cứu về gia đình đánh giá vớinhận xét : “ Đây là tác phẩm mà những gia đình trẻ cần ñọc”. Tác phẩm cũng ñã ñược in và xuất bản nhiều lần, ñược ñánh giá là một trong những quyểnsách bán chạy nhất nước Mỹ lúc bấy giờ.TS. David Niven sau nhiều năm nghiên cứu và giảng dạy mơn Tâm lýhọc tại Mỹ đã tổng kết những kinh nghiệm cũng như kiến thức của mình về “Bí quyết để có một gia đình hạnh phúc” cùng với Giáo sư Steve Brukettngười ñã dành cả cuộc ñời ñể nghiên cứu về con người viết thành cuốn sáchmang tên : “ Bí quyết để có một gia đình hạnh phúc”, cuốn sách này đãđược Cơng ty Fits News – Trí Việt mua bản quyền xuất bản, và ñược Nxb Trẻxuất bản năm 2007. Trong tác phẩm này David Niven ñã viết “ Cuộc sống gia đình hạnh phúc hay khơng là tùy thuộc vào ý thức xây dựng và gìn giữ củanhững người trong cuộc. Dù sống trong hồn cảnh gia đình như thế nào ñi chăng nữa nhưng nếu bạn biết cách sắp xếp, vun vén và quan trọng hơn cả làñối xử với nhau bằng con tim chân thành thì bạn hồn tồn có thể được hưởng hạnh phúc gia đình”Tại Việt Nam :Nhà xuất bản Khoa học xã hội năm 1991 xuất bản cuốn “Người phụ nữ và gia đình Việt Nam hiện nay” có bài viết : “ suy nghĩ về những yếu tố cơbản tạo ñộ bền vững của hạnh phúc gia đình, đó là sự hòa hợp tình cảm, hòa hợp tình dục, phong cách ni dạy con, cách tổ chức cuộc sống gia đình”Tác giả Ngơ Cơng Hồn với cuốn : “Tâm lý học gia đình”- 1993 đãđề cập đến những quan niệm ñầy ñủ về một gia ñình và khả năng giữ gìn, bảo tồn và phát huy hạnh phúc trong gia ñình.Tác giả Nguyễn Đình Xuân với cuốn “Tâm lý học gia đình”- 1993;cuốn “ Tuổi trẻ sự nghiệp tình yêu”- 1997; cuốn “Giáo dục ñời sống gia đình”- 1997. Đã đề cập đến tình yêu giữa cha mẹ vợ chồng và mối quan hệcủa nó đối với việc xây dựng hạnh phúc gia đình, bên cạnh đó tác giả cũng đề cập đến vấn ñề bạn ñời và chọn bạn ñời,ñến hôn nhân.Trong báo cáo tại hội nghị “ Người mẹ Việt Nam và vấn đề ni dạycon” của giáo sư Đặng Xuân Hồi đã đề cập đến sự cần thiết phải có kếhoạch, chương trình cụ thể nhằm giúp thanh niên có quan niệm đúng đắn về tình u, chọn bạn đời và có tâm thế nhất định cho việc làm cha làm mẹ saunày, và có hoạch ñịnh trong tương lai ñể xây dựng cuộc sống gia đình sau này.Trong cuốn “ Hạnh phúc gia đình trẻ” nhiều tác giả Nxb Trẻ,1994 tập hợp một số bài nghiên cứu về gia đình và hạnh phúc gia đình của nhữnggia đình trẻ, trong đó đã đề cập đến những vấn ñề về như : Cách thức tổ chứccuộc sống gia đình, vai trò của người phụ nữ và đàn ơng trong việc xây dựng, gìn gữ hạnh phúc gia đình, những xung đột trong gia đình…Trong cơng trình nghiên cứu về “Gia đình trẻ và việc thi hành nhân cách thanh niên” của PTS.Dương Tự Đam, ñã bàn về vấn ñề : xây dựnghạnh phúc gia đình khơng chỉ góp phần hình thành nhân cách của trẻ ngay từ bé mà còn góp phần tạo nên một xã hội phồn thịnh. Đồng thời, cơng trìnhnghiên cứu cũng ñã ñề cập ñến những cơ sở lý luận và thực tiễn cùng với những vấn ñề cơ bản về nội dung, phương pháp giáo dục con cái góp phầnhình thành nhân cách thanh niên thời đại mới. Nội dung của cơng trình nghiên cứu ñã ñược Nxb Thanh niên xuất bản thành cuốn sách “Gia đình trẻ và việcthi hành nhân cách thanh niên”- 2007. Tóm lại, vấn đề hạnh phúc gia đình và sự lựa chọn bạn ñời ñã ñược cáctác giả trong và ngồi nước quan tâm và nghiên cứu, nó đang trở thành một vấn ñề nổi bật ñược xã hội và thời ñại quan tâm. Tuy nhiên, các nghiên cứucũng mới chỉ dừng lại ở mức ñộ nghiên cứu về hạnh phúc gia đình và lựa chọn bạn ñời của thanh niên mà chưa nghiên cứu sâu trên sinh viên ñặc biệt làsinh viên sư phạm.Để hiểu một cách hoàn chỉnh thế nào là hạnh phúc gia đình, trước hết cần phải hiểu khái niệm gia đình và hạnh phúc.2.1. Khái niệm về gia đình: 2.1.1 Định nghĩa về gia đình:Ngay từ khi lồi người mới hình thành, ñể tồn tại và phát triển con người ta bắt buộc phải liên kết với nhau theo nhóm. Trong sự liên kết đó, mộtqui luật tự nhiên là người đàn ơng liên kết với người ñàn bà sinh ra con cái. Lúc ñầu mối liên kết này diễn ra theo kiểu quần hôn, dần dần có sự phân hóaphát triển thành gia đình. Trải qua q trình biến đổi lịch sử, gia đình phát triển ngày càng tiến bộ cùng với sự tiến bộ của xã hội. Là nơi xuất thân của10mỗi con người, là một thiết chế quan trọng của xã hội, gia đình có ý nghĩa vô cùng quan trọng không chỉ ñối với mỗi cá nhân mà còn đối với cả xã hội.Hiện nay gia đình ñã ñược rất nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau quan tâm nghiên cứu, do vậy có rất nhiều quan niệm khác nhau về giađình. Có rất nhiều cách tiếp cận nghiên cứu gia đình dưới các góc độ khácnhau : + Ở góc độ kinh tế học, gia đình được nghiên cứu với tư cách là mộtñơn vị kinh tế, ñơn vị tiêu dùng. + Nhân chủng học nghiên cứu gia đình theo sự biến ñổi ña dạng củacác loại hình gia đình giữa các nền văn hóa. + Sử học nghiên cứu các mơ hình gia đình ñã qua trong các thời kỳ lịchsử. + Dân tộc học nghiên cứu đặc trưng gia đình ở các dân tộc khác nhau.Theo các nhà nghiên cứu xã hôi học, dân tộc học thì gia đình từ thời nguyên thủy gồm một nhóm xã hội nhỏ cùng chung sống và đến nay nhóm xãhội này vẫn tồn tại với một số chức năng cơ bản của nó. Theo Mác – Ăngghen, gia đình là “ mối quan hệ giữa chồng và vợ, giữacha mẹ và con cái”Nhà xã hội học người Nga T.Aphanaxeva ñã tổng kết có 3 quan điểmkhác nhau về gia đình : – Quan điểm thứ nhất : Gia đình là một nhóm nhỏ xã hội liên kết vớinhau bằng một chỗ ở, bằng một ngân sách chung và các mối quan hệ ruột thịt. – Quan ñiểm thứ hai : Cho rằng cần bổ sung thêm vào định nghĩa trêncho hồn chỉnh là giữa các thành viên có gắn bó giúp đỡ lẫn nhau, “gia đình là một nhóm xã hội liên kết với nhau trong một nhà, bằng một ngân sáchchung và các mối quan hệ giúp đỡ lẫn nhau bằng tình cảm và trách nhiệm”11- Quan điểm thứ ba : “ Gia đình hiện ñại là một nhóm xã hội bao gồm bố mẹ, và con cái của một vài thế hệ, các thành viên trong gia đình có mốiquan hệ ràng buộc về vật chất, tinh thần theo những ngun tắc, mục đích sống như nhau về các vấn ñề chủ yếu trong sinh hoạt , văn hóa, kinh tế, tìnhcảm, lao động vui chơi, học tập, sinh con và dạy con…”[ 10, 5 ]Nhà triết học người Ý Galimberto cho rằng : theo quan niệm phổbiến nhất, gia đình là tế bào của xã hội, bao gồm hai cá thể khác giới và những người nối dõi của cả hai.Nhà nghiên cứu về gia đình Levy Stranss lại cho rằng: “Gia đình làmột nhóm xã hội ñược quy ñịnh bởi các ñặc ñiểm : bắt nguồn từ hôn nhân, bao gồm vợ chồng con cái phát sinh từ hôn phối,các thành viên gắn bó vớinhau bởi ràng buộc của pháp lý, bởi các nghĩa vụ và quyền lợi” [ 24, 31]David Niven trong cuốn “ Bí quyết để có một gia đình hạnh phúc” đãtổng kết : Nói đến gia đình là nói đến những mối quan hệ ruột thịt. Nhưng xét ở góc độ xã hội thì nó vẫn là mối quan hệ phức tạp giữa những cá nhân trongmột tập thể. Cũng tương tự như bất kì mối quan hệ nào khác trong cuộc sống, con người muốn tìm thấy cảm giác an tồn, thân thiết và thoải mái. Vì vậy giađình chính là “tổ ấm” mà con người muốn và cần có. Các nhà khoa học Pháp thì coi “Gia đình là cha mẹ và con cái sốngcùng một mái nhà” Theo quan niệm của phương Đơng thì gia đình thường được quan niệmnhư sau: “Gia” mang ý nghĩa là nhà ở, “ Đình” có nghĩa là chỗ phát lệnh cho cả nước noi theo. Nghĩa xưa của gia đình là một ñơn vị kinh tế nhỏ, sốngchung dưới một mái nhà trong cộng ñồng xã hội.[17, 23]Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện cho rằng : gia ñình gồm các mối quan hệ vợchồng, bố mẹ với con cái, anh chị em với nhau, đó gọi là tình tổ ấm.PGS. TS Ngơ Cơng Hồn viết trong “tâm lý học gia đình” như sau : “gia đình là một nhóm nhỏ xã hội. Các thành viên trong nhóm có quan hệ gắn12bó về hơn nhân hoặc huyết thống, tâm lý, cùng có chung các giá trị vật chất, tinh thần ổn định trong các thời điểm lích sử nhất định” [ 10, 8]Theo Nguyễn Đình Xn : Gia đình là một đơn vị, một nhóm nhỏnhất của xã hội với số lượng thành viên ít nhất là hai người: vợ và chồng, sau đó sinh sơi nảy nở thêm con cái, trong đó mối quan hệ vợ chồng là giườngcột” [ tâm lý học tình u gia đình của Nguyễn Đình Xuân, Nxb Giáo dục năm 1996 ]Theo tài liệu Giáo dục ñời sống gia ñình do giáo sư Trần Trọng Thủy viết: Gia đình là một nhóm nhỏ liên kết với nhau với những mối quanhệ hôn nhân, huyết thống hay nhận con nuôi, tạo thành một hệ riêng biệt, tác ñộng qua lại và giao tiếp lẫn nhau qua vai trò xã hội của từng người: là chồng,là vợ, là cha, là mẹ, là con trai, con gái, anh em, tạo thành một nền văn hóa chung.Một số quan điểm khác cho rằng: gia đình là một nhóm xã hội gắn bó về mặt hôn nhân hoặc huyết thống có chung những giá trị vật chất và tinhthần ổn ñịnh trong các thời kì lịch sử và xã hội nhất ñịnh. Như vậy có rất nhiều ñịnh nghĩa khác nhau về gia đình, tùy thuộc vàocách tiếp cận của mỗi tác giả trong việc xem xét khái niệm về gia đình. Từ những quan điểm trên, ở góc độ tâm lý học, chúng tôi rút ra địnhnghĩa chung nhất về gia đình làm cơng cụ nghiên cứu của đề tài như sau : Gia đình là một nhóm nhỏ xã hội, các thành viên gắn bó với nhau bằng quan hệhơn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nhận con nuôi, các thành viên cùng chung sống, có ngân sách chung, có trách nhiệm với nhau, thỏa mãnnhu cầu vật chất và tinh thần, tình cảm, vừa đáp ứng nhu cầu riêng tư của cá nhân, vừa thỏa mãn nhu cầu xã hội về tái sản xuất con người và duy trì nòigiống.13Để nhận thức đúng đắn về hạnh phúc gia ñình thì cần phải tìm hiểu ñặc trưng cơ bản của gia đình.Thơng qua việc nghiên cứu,phân tích và tổng hợp tài liệu, chúng tơi đã thống kê có 4 ñặc trưng cơ bản của gia ñình, cụ thể :- Gia đình là một nhóm nhỏ trong xã hội, nhất thiết phải có từ 2 người trở lên. Như vậy, gia đình là một nhóm xã hội đặc biệt, khác với các thiết chếxã hội khác. Ở ñây cần phân biệt khái niệm gia đình với khái niệm hộ. Khái niệm hộ ñược hiểu như một nhóm người ở chung một mái nhà, gồm nhữngngười có quan hệ ruột thịt, họ hàng, có quỹ thu chi chung. Hộ cũng có thể bao gồm những người bạn bè quen biết cùng học tập, cùng lao động. Có trườnghợp hộ là một người sống ñộc thân hộ ñộc thân, cũng có thể hộ là một tập thể sống trong một mái nhà nhưng khơng có quỹ thu chi riêng. Gọi là hộ tậpthể. – Gia ñình ñược hình thành và phát triển trên cơ sở quan hệ hôn nhânhuyết thống . Trong quan hệ xã hội hai người khác giới hiểu biết về nhau, rung độngvề nhau, có nhu cầu về nhau nhu cầu tình cảm, nhu cầu tình dục… và khi họ quyết ñịnh thực hiện sống chung với nhau ñể ñược thỏa mãn nhu cầu, ñó làthời ñiểm xuất hiện một gia đình mới trong xã hội. Nói cách khác, gia đình được hình thành bắt đầu từ sự kết hơn chính thức hoạc khơng chính thứcgiữa hai người đàn ơng và đàn bà, tạo nên quan hệ mới – quan hệ vợ chồng. Sống chung với nhau, họ bắt ñầu sinh con, từ ñây những mối quan hệmới trong gia đình được hình thành đó là : Quan hệ cha mẹ – con cái, quan hệ ông bà với các cháu, quan hệ anh chị em…Trong các mối quan hệ ấy thì quan hệ vợ chồng là quan trọng nhất quyết ñịnh ñến sự hình thành, tồn tại và phát triển của gia đình. Nếu quan hệvợ chồng được xây dựng trên cơ sở hiểu biết nhau, yêu thương nhau một cách thực sự và mỗi người ý thức rõ ñược trách nhiệm, bổn phận của mình trong14quan hệ với nhau thì gia đình ấy sẽ hạnh phúc, ngược lại gia đình đó sẽ tan vỡ, là nỗi bất hạnh của mỗi người. Vì vậy, đòi hỏi trước khi kết hơn phải cótình cảm với nhau, có sự hiểu biết về nhau và phải có sự lựa chọn phù hợp với quan điểm, cách sống của mình.- Mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình là mối quan hệ ruột thịt, huyết thống. Gia đình gồm có cha mẹ, con cái do cha mẹ sinh ra. Cha mẹtruyền lại cho con cái những ñặc ñiểm về mặt thể chất thông qua gen di truyền sinh học. Trong gia đình còn có ơng bà nội ngoại hoặc cơ, dì, chú, bác cùngsống chung. Hoặc có những gia đình nhận con nuôi, em nuôi, tuy khơng có quan hệ huyết thống nhưng do tình cảm quan hệ của họ với các thành viêntrong gia đình vẫn như quan hệ ruột thịt. Mọi thành viên trong gia đình sống có trách nhiệm, lo lắng cho nhau, yêu thương nhau bằng một tình cảm đặcbiệt của quan hệ huyết thống. Khơng có quan hệ này thì khơng gọi là gia đình theo đúng nghĩa của nó.- Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình có mối quan hệ mật thiết với xã hội, vì vậy mà nó biến đổi cùng với sự thay đổi của xã hội .Xét ở góc độ hơn nhân: + Thời phong kiến : Hơn nhân của thanh niên đến tuổi lấy vợ lấy chồngtheo sự sắp xếp của cha mẹ “ cha mẹ ñặt ñâu con ngồi ñấy” nhưng khởi đầu của hơn nhân là tình thương, trách nhiệm và nghĩa vụ được hòa quyện vàonhau, họ ln ý thức được bổn phận của mình trong gia đình và họ coi hơn nhân là việc hệ trọng của cả cuộc đời con người. Đó là cơ sở ñầu tiên tạo nênsự bền vững của gia ñình thời phong kiến. + Ngày nay, hôn nhân của nam nữ ñược họ tự do quyết ñịnh, nhiềuthanh niên theo kiểu hôn nhân tự do thái q, theo sở thích của cá nhân mình vì vậy mà họ coi hơn nhân gia đình khơng còn là công việc hệ trọng như trướcnữa. Trong gia đình vợ chồng quan hệ bình đẳng với nhau nhiều khi “ bình đẳng q mức” dẫn đến cảnh vợ chồng xung ñột với nhau, ý thức trách nhiệm15của họ với gia đình vì vậy cũng giảm sút. Nhiều cặp vợ chồng cho rằng : Khi ñã xung ñột với nhau, khơng còn u nhau thì ly hơn là cách tốt nhất, là giảithoát cần thiết cho mỗi người, nhiều khi họ khơng nghĩ sâu xa đến quyền lợi của con cái. Chính vì vậy so với trước đây tỉ lệ ly hôn ngày nay cao hơn nhiềuso với gia đình thời phong kiến. Điều đó cho thấy rằng : sự bền vững của gia đình liên quan trực tiếp.Trước tiên ñến sự nhận thức của mỗi người về gia đình, vai trò, trách nhiệm của người vợ người chồng trong gia đình.Gia đình Việt Nam hiện nay vẫn là mơ hình gia đình truyền thống ña chức năng và ñể ñạt ñược mục tiêu xây dựng hạnh phúc, ấm no hòa thuận thìgia đình cần phải thực hiện hàng loạt các chức năng của mình. Vấn đề này cũng có nhiều quan điểm khác nhau.Tác giả Mai Thúy Bích viết trong “lối sống gia đình ngày nay”, Nxb Phụ nữ, Hà Nội , 1987 ñưa ra 6 chức năng của gia đình :1.Sinh đẻ duy trì nòi giống 2.Tổ chức sinh hoạt gia đình3.Xã hội hóa giáo dục thế hệ trẻ 4.Tổ chức thời gian tự do cho các thành viên5.Thỏa mãn những nhu cầu tình cảm 6. Chăm sóc người già và những thành viên khơng có khảnăng lao động . Theo tác giả Trần Trọng Thủy viết trong “giáo dục ñời sống gia đình”Hà Nội, 1990. Gia đình phải thực hiện các chức năng : 1.Sinh đẻ và ni dạy con2.Tổ chức cuộc sống vật chất và văn hóa 3.Tổ chức kinh tế16Trong “tâm lý học gia đình”, tác giả Ngơ Cơng Hồn đã tổng kết có 6 chức năng mà gia đình cần phải thực hiện :1. Sinh ñẻ 2. Chức năng giáo dục trẻ em3.Chức năng tiêu dùng 4. Chức năng kinh tế5. Chức năng thỏa mãn nhu cầu 6. Chức năng chăm sóc người già.Theo tác giả Nguyễn Khắc Viện, trong cuốn “bàn về tâm lý học gia đình”, Nxb Thế giới, 1990, ngồi các chức năng trên thì gia đình còn có chứcnăng thứ 7 đó là chức năng tình cảm lứa ñôi giữa vợ và chồng . Các quan niệm trên ñều là hợp lý. Các chức năng mà các tác giả ñã nêura là những nhiệm vụ cơ bản mà gia đình phải thực hiện và là những yếu tố tạo ra sự bền vững của gia đình trong cả q trình phát sinh, phát triển xã hộilồi người. Khái qt các quan điểm trên, chúng tơi cho rằng gia đình gồm 6 chứcnăng cơ bản : Chức năng tình dục lứa đơi giữa vợ và chồng :Trong quan hệ vợ chồng, chức năng quan hệ tình dục hay ái ân là không thể thiếu được. Nhiều cơng trình nghiên cứu khoa học đã chứng minhsự tan vỡ gia đình là do khơng có quan hệ tình dục, do phản bội nhau, có quan hệ tình dục với người khác hoặc do khơng có sự hòa hợp tình dục giữa haingười.Vì vậy, cả hai vợ chồng cần có kiến thức cần thiết cũng như có sự “cởi mở” với nhau để có được sự thỏa mãn ở cả hai người. Dưới góc độ khoa họcvà nhân văn chức năng này có vị trí quan trọng hàng đầu trong việc giữ gìn hạnh phúc gia đình.Từ trước tới nay, con người vẫn rất e ngại khi nói đến vấn đề này, chỉ vì quan niệm cổ hủ, lạc hậu cho rằng chuyện quan hệ ái ân là chuyện thường17tình khơng cần dạy rồi ai cũng biết. Đã ñến lúc chúng ta phải nhìn nhận vấn đề này dưới góc độ khoa học và nhân văn, nghiêm túc.Nói đến chức năng tình dục là nói đến chuyện ái ân giữa vợ và chồng. Trong chuyện này, ái ân vừa là hành vi bản năng tự nhiên nhằm thỏa mãn nhucầu tình dục vừa là hành vi xã hội mang màu sắc ñạo ñức thẩm mỹ vượt xa khỏi bản năng tình dục của động vật.Muốn vậy, người vợ và người chồng trước đó phải có tình u đơi lứa, có những rung cảm về mặt tình cảm và phải mang lại khoái cảm cho nhau vềcả thể xác lẫn tâm hồn. Vợ chồng phải nắm vững quy luật về đời sống tình dục và đặc ñiểm nhu cầu tình dục của nhau ñể tạo ra sự hòa hợp trong đờisống vợ chồng, nếu khơng sẽ ảnh hưởng đến sự bền vững của hạnh phúc gia đình.Chức năng sinh sản để duy trì nòi giống : Đây là chức năng đặc biệt, làm cho gia đình khác biệt với các nhómxã hội khác và cũng là chức năng quan trọng của mỗi gia đình và xã hội. Đó chính là khả năng tái sản xuất con người, nghĩa là phải sinh con đẻ cái khơngngừng thay thế số dân già, chết … đồng thời cũng góp phần tái sản xuất sức lao ñộng của con người. Tuy nhiên, việc sinh đẻ cũng cần phải có kế hoạch.Nhiều gia đình quan niệm “đơng con là nhà có phúc” hay “trọng nam khinh nữ” mà gây nên tình trạng gia tăng dân số và khơng đảm bảo được việc ni- dạy ñầy ñủ cho các con.Vì vậy, chức năng sinh ñẻ ngày nay cần phải được kế hoạch hóa. Chỉ như vậy mới ñảm bảo tái sản xuất con người hợp lý, vừañảm bảo chất lượng cuộc sống cho ñứa trẻ sinh ra, vừa ñảm bảo hạnh phúc cho gia ñình và xã hội.Sinh con là nguồn hạnh phúc của gia đình,song cũng là gánh nặng nếu như vỡ kế hoạch. Hạnh phúc trọn vẹn khi ta biết dạy dỗ con cái nên người.Chức năng nuôi dưỡng giáo dục con cái :18Nếu chức năng tái sản xuất con người là chức năng đặc trưng của gia đình, thì giáo dục là chức năng của nhiều tổ chức xã hội nhà trường, các tổchức đồn thể khác trong đó giáo dục gia đình vẫn giữ vai trò quan trọng trong q trình xã hội hóa con người. Bởi vì gia đình là mơi trường xã hội ñầutiên của trẻ. Trước khi tới trường, những ñặc trưng xã hội của con người đã được hình thành từ mơi trường gia đình.Gia đình chính là mơi trương văn hóađầu tiên mà đứa trẻ tiếp xúc, là nơi hình thành nhân cách gốc cho đứa trẻ. – Sự hồn thiện chức năng giáo dục của gia đình phụ thuộc vào trình độnhận thức, ý thức trách nhiệm của cha mẹ ñối với việc giáo dục con cái . Từ đó đòi hỏi những người làm cha làm mẹ phải có ý thức trách nhiệm cũng nhưnhận thức rõ ràng về vai trò của mình , có kiến thức nuôi dạy con cái nên người.- Nuôi dưỡng, giáo dục con cái là trách nhiệm của các bậc cha mẹ. – Cha mẹ phải tạo ra mơi trường tốt đẹp để giáo dục con cái từ khi lọt lòng.Để làm được điều đó, các bậc cha mẹ ln ln phải là tấm gương sáng cho con cái noi theo.- Trong giai ñoạn hiện nay, sự phát triển của kinh tế và văn hóa xã hội đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho gia đình trong việc giáo dục con cái. Tuynhiên sự phát triển ấy lại làm cho giáo dục gia đình hiện nay đang đứng trước những thách đố mới. Sự phát triển của xã hội ñặt ra cho giáo dục, trong đó cógiáo dục gia ñình nhiệm vụ ngày càng cao, trong khi ñiều kiện sản xuất lao động của kinh tế thị trường khơng cho phép gia đình thực hiện đầy đủ chứcnăng giáo dục của mình. – Nội dung giáo dục của gia ñình bên cạnh hình thành hành vi, kỹ năngsống phù hợp với sự phát triển của xã hội hiện ñại, quá trình giáo dục trẻ em trước tuổi trưởng thành phải chú ý nhiều ñến nội dung kiến thức khoa học.19- Những ñặc trưng về truyền thống, gia phong, cung cách ứng xử, lối sống… của gia đình cũng ñược con cái kế thừa thông qua nếp sinh hoạt hàngngày và sự dạy dỗ của cha mẹ. Chính vì vậy con cái mang những dấu ấn tâm lý của cha mẹ và những người lớn khác trong ñời sống tinh thần của nó.Vìvậy mà cha mẹ, người lớn phải là tấm gương tốt ñể con cái noi theo. – Xã hội phát triển rất phức tạp, giáo dục gia đình phải tạo ra “mànglọc” cho trẻ trong vấn ñề tiếp nhận kinh nghiệm xã hội lồi người: Tiếp thu được kinh nghiệm hiện ñại, biết nhận thức ñúng về những vấn ñề cơ bản trongcuộc sống, có quan điểm rõ ràng , ñồng thời phải biết loại trừ những cái xấu, những tác nhân xấu từ môi trường xã hội. Để thực hiện được điều này thìchính những bậc làm cha làm mẹ phải có kiến thức, nhận thức đúng đắn cúng như có những quan ñiểm thật minh bạch về vấn đề và có mục đích chungtrong phương hướng giáo dục con cái . Như vậy, gia đình là trường học ñầu tiên của con người, tạo ñiều kiệnthuận lợi cho ñứa trẻ tập làm người. Mọi thành công, thất bại, mọi sự vui mừng hay buồn tủi, sự tự chủ hay biết kiềm chế của trẻ, sự ăn nói theo kiểungười được các bậc cha mẹ, ông bà rèn dần dần trong cuộc sống gia đình. Đó là những cái vốn quý báu gọi là nhân cách gốc sẽ giúp cho trẻ vào ñời saunày. Chức năng kinh tế :Trong bất cứ thời ñại nào, nền kinh tế của gia đình giữ vai trò quyết định cho sự bền vững của gia đình. Kinh tế gia đình mà phát triển sẽ có ảnhhưởng ñến các chức năng khác của gia ñìn, giúp cho gia đình thỏa mãn được các nhu cầu của mình như: ăn, học, vui chơi giải trí, ni dạy con cái và chămsóc cha mẹ….Ngược lại, kinh tế gia đình khơng ổn ñịnh, kém phát triển sẽ ảnh hưởng ñến hạnh phúc và sự ổn ñịnh của gia đình.20Muốn thực hiện được chức năng này thì cả 2 vợ chồng cần phải có việc làm ổn ñịnh cũng như có mức thu nhập ñảm bảo cho gia đình tồn tại và pháttriển. + Trong xã hội nơng nghiệp lạc hậu, gia đình là một đơn vị sản xuất, mộtñơn vị kinh tế ñộc lập. Mọi thành viên trong gia đình, dưới sự chỉ huy của một người, thường là ơng, hay cha, chồng, cùng lao động chung trong một cơsở sản xuất tiểu nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, tiểu thương nghiệp…Và tất cả cùng ăn, cùng ở trong một ngơi nhà. Tồn bộ thu nhập của gia đìnhcũng tập trung. Vì vậy, mọi thành viên lệ thuộc với nhau vào chính đơn vị kinh tế này. Họ chung sức cùng làm cùng hưởng, chính ñiều này tạo nên mốiliên kết gia ñình bền vững, hòa thuận. + Thời kì bao cấp, chức năng kinh tế của gia đình bị tước bỏ, kinh tếgia đình hồn tồn do xã hội quyết định. + Trong xã hội hiện ñại ngày nay chức năng kinh tế gia đình đượcchuyển hóa dưới dạng hoàn toàn khác. Ngày nay kinh tế hộ gia đình dưới hình thức các cơng ty trách nhiệmhữu hạn ñang giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Khơng chỉ đóng góp thu nhập cho đất nước, gia đình còn thể hiện như một đơn vị tiêudùng các giá trị vật chất, tinh thần do xã hội làm ra điều đó lại thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển.Tuy nhiên thời đại cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng có tác động tiêu cực ñến gia ñình. Ở nhiều gia ñình, ñồng tiền chi phối các mối quan hệ, làm thayñổi các giá trị truyền thống. Trước kia, mơ hình kinh tế gắn kết các thành viên gia đình, ngày nay mỗi thành viên trong gia đình lao động ở cơ sở khác nhau,mọi người khơng còn quan hệ với nhau trong một tổ chức sản xuất, chỉ liên hệ với nhau bởi sự ñóng góp tiền ñể lập ngân sách chung của gia ñình nhằm thỏamãn nhu cầu của gia ñình. Chức năng kinh tế chuyển từ chức năng sản xuất sang chức năng tiêu dùng và ñiều phối các chức năng khác. Điều đó dễ làm21lỏng lẻo mối liên kết của các thành viên, nếu gia đình khơng thống nhất được ngân sách chung, mỗi người một vốn, chỉ cần có sự bất hòa về mặt tình cảmlà dễ dẫn tới tan vỡ. Hiện tượng ly hôn tăng nhanh ở những nước cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa chứng minh cho hiện tượng này.Như vậy, ñể thực hiện tốt chức năng kinh tế, ñảm bảo hạnh phúc gia đình, những người chủ gia đình khơng chỉ cần thiết phải có cơng ăn việc làmtạo thu nhập ổn ñịnh cho gia đình mà còn phải điều tiết chức năng này cho hợp lý: chi tiêu có kế hoạch đồng thời cũng phải biết không nên quá coi trọngviệc làm ăn kiếm tiền mà qn đi trách nhiệm với gia đình và chăm sóc ni dạy con cái.Chức năng tổ chức cuộc sống vật chất và thỏa mãn nhu cầu tâm lý: Mục tiêu chính của của chức năng tổ chức cuộc sống gia đình, là manglại hạnh phúc cho mọi thành viên trong gia đình.Vì vậy cần phải tổ chức cuộc sống gia đình sao cho hợp lý, khoa học, trong đó bao gồm các công việc nhưchi tiêu, sự phân công lao động và cách thức điều hành các cơng việc, sự bàn bạc dân chủ giữa các thành viên. Gia đình không chỉ thỏa mãn nhu cầu vậtchất cho mỗi thành viên mà còn thỏa mãn nhu cầu tinh thần cho họ. Nhu cầu tâm lý là nhu cầu được u thương, chăm sóc, quan tâm củanhững người thân trong gia đình, con cái ñông vui và nhu cầu ñược nghỉ ngơi, thư giãn sau những giờ làm việc, học tập căng thẳng. Gia ñình thỏa mãn ñượcnhu cầu này cho các thành viên, thực sự ñã là “tổ ấm cho mọi người”. Khác với các nhóm xã hội khác, gia đình là một nhóm bao gồm nhữngngười thân yêu ruột thịt, chung sống hàng ngày với nhau. Xuất phát từ mối quan hệ huyết thống mọi thành viên trong gia đình gắn bó, yêu thương lẫnnhau, sống có trách nhiệm lo lắng cho nhau. Vợ chồng, cha mẹ, con cái là chỗ dựa của nhau, luôn quan tâm chia sẻ những vui buồn, khó khăn, an ủi độngviên nhau trong cuộc sống. Gia đình là mơi trường an toàn cho những trẻ nhỏ, là chỗ dựa vững chắc giả tỏa ñược những căng thẳng, thất vọng của mỗi22người sau những giờ làm việc căng thẳng nơi cơ quan cơng sở. Chính vì vậy đi đâu, làm gì ai cũng hướng về tổ ấm của mình. Tuy nhiên để thỏa mãn đượcnhu cầu này gia đình phải có truyền thống văn hóa tốt ñẹp, người ñứng ñầu gia ñình nhất là các bậc cha mẹ phải có trách nhiệm tổ chức cuộc sống hợp lý,tạo ñiều kiện ñể mọi người gần gũi quan tâm lẫn nhau. Do ảnh hưởng sâu ñậm của tư tưởng Nho giáo và ñiều kiện kinh tế xãhội, gia ñình truyền thống và gia ñình thời bao cấp thực tốt được chức năng này.Trong gia đình hiện đại ngày nay, chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm lý cho các thành viên trong gia đình hiện nay đang có những chuyển biến đángkể. – Kinh tế phát triển mỗi gia đình đều có đủ phương tiện hiện đại thỏamãn nhu cầu thưởng thức văn hóa. – Các quan hệ trong gia đình nhìn chung vẫn duy trì được truyền thốngtốt ñẹp, các giá trị nhân văn ñược ñề cao. Nhu cầu thưởng thức văn hóa giao lưu phát triển, gia đình có điều kiện thỏa mãn cho các thành viên tốt hơn. Tuynhiên chức năng này của gia đình có sự chênh lệch khá lớn giữa các vùng, miền, và giữa các loại gia đình có nghề nghiệp khác nhau. Ở thành phố tỉ lệcác gia đình tan vỡ, ly hơn đang có chiều hướng gia tăng và cao hơn ở nông thôn, nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ yếu tố tâm lý gia đình hoặc ở nhữnggia ñình làm ăn kinh tế, ñiều kiện thời gian dành cho con cái ít hơn. Lối sống của một số gia đình bị ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai, mối quan hệ giữa cácthành viên trong gia đình lỏng lẻo dễ tan vỡ. Như vậy, việc tổ chức tốt cuộc sống gia đình thì dù có nghèo mà mọingười hòa thuận, u thương lẫn nhau thì đó cũng là một gia đình hạnh phúc Chức năng chăm sóc và ni dưỡng người già và người thân mất sức laođộng :23Chăm sóc, ni dưỡng người già, người thân mất sức lao ñộng là bổn phận và trách nhiệm của mỗi thành viên trong gia ñình, “chị ngã em nâng” làtruyền thống quý báu của gia đình Việt Nam. Trong thời đại ngày nay, các con thường ñi lao ñộng xa nên thườngkhơng có điều kiện chăm sóc, ni dưỡng trực tiếp bố mẹ, ông bà khi yếu. Song ln ln phải có ý thức trách nhiệm với bố mẹ, ông bà, chị em tronggia đình. Tóm lại, các chức năng của gia đình đang được phục hồi và có điềukiện thực hiện tốt hơn và có vai trò ñặc biệt quan trọng không chỉ ñối với các thành viên mà còn tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế xã hội của ñấtnước. Chức năng của gia đình được đề cao cũng có nghĩa gia đình đanh có vai trò và vị thế quan trọng trong ñời sống kinh tế xã hội của ñất nước trong giaiñoạn hiện nay. Như vậy, xã hội là mơi trường để gia đình tồn tại, phát triển và thựchiện các chức năng của mình. Để xây dựng hạnh phúc gia đình đòi hỏi mỗi gia đình phải thực hiện tốt chức năng của mình, có như vậy mới đảm bảoñược sự ổn ñịnh, phát triển và hạnh phúc gia đình.2.2 Hạnh phúc gia đình 2.2.1 Khái niệm hạnh phúc :