Luận văn tốt nghiệp Kỹ năng sống trẻ mầm non – Tài liệu text
Luận văn tốt nghiệp Kỹ năng sống trẻ mầm non
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (559.88 KB, 108 trang )
LỜI CẢM ƠN
Sau 2 năm học tập và 1 năm thực hiện nghiên cứu đề tài tốt nghiệp, tôi đã
hoàn thành luận văn của mình.
Để có được kết quả này, tôi xin chân thành cảm ơn sự giảng dạy tận tình
của quý thầy trong chương trình đào tạo sau đại học chuyên ngành Tâm Lý Học.
Tôi cũng vô cùng biết ơn sự tạo điều kiện tối đa về cả vật chất và thời gian cũng
như các điều kiện khác của trường Cao Đẳng Sư phạm Trung Ương Tp.HCM
nơi tôi đang công tác, đã chấp thuận cho tôi tham gia khoá học này.
Để có thể hoàn thành được luận văn tốt nghiệp, tôi rất cảm kích sự hướng
dẫn tận tâm của TS.Lê Xuân Hồng, cùng với sự hỗ trợ tối đa của Ban Giám
Hiệu và giáo viên các lớp mẫu giáo lớn của trường Mầm Non Thực Hành
tp.HCM.
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô thuộc phòng Sau đại học trường
Đại học Sư phạm Tp.HCM đã giúp đỡ tôi giải quyết những khó khăn để tôi có
thể hoàn thành khoá học đúng thời hạn.
Cảm ơn những bạn bè, đồng nghiệp, gia đình đã sẵn sàng giúp đỡ, động
viên để tôi đạt được những kết quả tốt nhất.
Xin chân thành cảm ơn !
1
Ý KIẾN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
2
PHẦN I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Vào đầu thập kỷ 90 các tổ chức của Liên Hiệp Quốc như tổ chức Y tế thế
giới, Quỹ cứu trợ nhi đồng, Tổ chức giáo dục văn hóa và khoa học và các nhà
giáo dục thế giới đã cùng tìm cách giáo dục để tạo cho trẻ năng lực tâm lý xã
hội, nhằm ứng phó với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày.
Đó là kỹ năng sống.
Xã hội hiện nay đã và đang làm thay đổi cuộc sống của con người, nhiều
vấn đề phức tạp liên tục nảy sinh. Bên cạnh những tác động tích cực, còn có
những tác động tiêu cực, gây nguy hại cho con người, đặc biệt là trẻ em.
Nếu mỗi người trong đó có trẻ em không có những kiến thức cần thiết để
biết lựa chọn những giá trị sống tích cực, không có những năng lực để ứng phó,
để vượt qua những thách thức mà hành động theo cảm tính thì rất dễ gặp trở
ngại, rủi ro trong cuộc sống.
Do đó, việc hình thành kỹ năng sống cho mọi người nói chung và trẻ em
nói riêng đang trở thành nhiệm vụ quan trọng.
Giáo dục kỹ năng sống phải được đo bằng sự vận dụng những kỹ năng đó
trong cuộc sống mỗi cá nhân để sống tích cực, sống hạnh phúc, sống có ý nghĩa.
Giáo dục kỹ năng sống nhằm giúp trẻ phát triển hài hòa, toàn diện về
nhân cách. Cung cấp cho mỗi trẻ những kiến thức cần thiết về kỹ năng sống để
các em sống sao cho lành mạnh và có ý nghĩa.
Giúp các em hiểu, biến những kiến thức về kỹ năng sống được cung cấp
thành hành động cụ thể trong quá trình hoạt động thực tiễn với bản thân, với
người khác, với xã hội, ứng phó trước nhiều tình huống, học cách giao tiếp, ứng
xử với mọi người, giải quyết mâu thuẫn trong mối quan hệ và thể hiện bản thân
một cách tích cực
3
Theo UNESCO, 8 tuổi đã là quá trễ để giáo dục kỹ năng sống. Vì đến độ
tuổi này trẻ đã hình thành cho mình phần lớn các giá trị; trừ phi có sự thay đổi
sâu sắc về trải nghiệm trong đời, nếu không thì khó mà lĩnh hội thêm giá trị sau
độ tuổi này. Trẻ từ dưới 2 tuổi đã bắt đầu tiếp thu từ môi trường sống xung
quanh, như giọng nói của người lớn khi trò chuyện với trẻ, cách thức tiếp xúc
với trẻ, tất cả đều tác động đến sự phát triển của trẻ. Vì vậy việc hình thành và
phát triển kỹ năng sống cần được tiến hành từ bậc học mầm non.
2. Mục đích nghiên cứu
– Khảo sát thực trạng kỹ năng sống của trẻ lớp mẫu giáo lớn.
– Xây dựng một số biện pháp tác động sư phạm nhằm hình thành và hoàn
thiện một số kỹ năng sống phù hợp với trẻ lớp mẫu giáo lớn.
– Đề ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của việc hình thành kỹ
năng sống cho trẻ lớp mẫu giáo lớn.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
– Trẻ lớp mẫu giáo lớn trường mầm non Thực Hành thành phố Hồ Chí Minh.
– Giáo viên trường mầm non Thực Hành thành phố Hồ Chí Minh.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
– Một số biểu hiện kỹ năng sống của trẻ lớp mẫu giáo lớn trường mầm
non Thực Hành thành phố Hồ Chí Minh.
4. Giả thuyết nghiên cứu
– Nhiều kỹ năng sống cần thiết của trẻ lớp mẫu giáo lớn trường mầm non
Thực Hành tp.HCM chưa được hình thành.
– Nếu có những biện pháp tác động sư phạm phù hợp thì có thể hình thành
và hoàn thiện được các kỹ năng sống cho trẻ lớp mẫu giáo lớn.
4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài
– Mục tiêu giáo dục mầm non
– Đặc điểm tâm lý của trẻ mẫu giáo lớn
– Khái niệm kỹ năng
– Khái niệm kỹ năng sống
– Phân loại kỹ năng sống
– Phân loại kỹ năng sống của trẻ mẫu giáo lớn
– Nội dung giáo dục kỹ năng sống của trẻ lớp mẫu giáo lớn
– Phương pháp giáo dục kỹ năng sống của trẻ lớp mẫu giáo lớn
– Cơ sở pháp lý của việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn
5.2 Thực nghiệm
– Khảo sát kỹ năng sống của trẻ mẫu giáo lớn ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng.
– Xây dựng một số biện pháp tác động sư phạm nhằm hình thành và hoàn
thiện kỹ năng sống cho trẻ lớp mẫu giáo lớn.
– Tổ chức các hoạt động nhằm hình thành và phát triển kỹ năng sống cho
trẻ lớp mẫu giáo lớn tại lớp thực nghiệm.
– Đánh giá việc hình thành và hoàn thiện kỹ năng sống cho trẻ lớp mẫu
giáo lớn sau thực nghiệm giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng.
5.3 Đưa ra những kiến nghị nhằm tổ chức tốt việc hình thành và phát
triển kỹ năng sống cho trẻ lớp mẫu giáo lớn.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
– Tìm kiếm, đọc, phân tích và tổng hợp tài liệu phục vụ cho đề tài nghiên
cứu như các sách giáo khoa, sách chuyên ngành, các tạp chí, trang web…
5
6.2 Phương pháp thực nghiệm
– Xác định mục đích thực nghiệm
– Hình thành giả thuyết khoa học
– Phân tích đối tượng nghiên cứu
– Tìm hiểu thực trạng
– Xây dựng hệ thống những bài tập nhỏ theo hướng của mục đích thực
nghiệm đặt ra. Đối tượng thực nghiệm được chia thành 2 nhóm: nhóm thực
nghiệm và nhóm đối chứng. Nhóm thực nghiệm được tác động bởi những biến
cố độc lập để xem xét sự diễn biến của chúng có đúng với giả thuyết ban đầu
hay không. Trong khi đó nhóm đối chứng diễn biến hoàn toàn tự nhiên. Với mẫu
nghiên cứu:
Lớp Lá 1 Lớp Lá 2 Tổng
Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ
N % N % N % N % N % N %
11 40.7 26 59.3 20 60.6 13 39.4 31 51.7 29 48.3
– Tiến hành thực nghiệm hình thành
– Thu thập và xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê toán học
– Rút ra nhận xét và kết luận
6.3. Phương pháp phỏng vấn
– Phỏng vấn một số giáo viên trường mầm non Thực hành về việc tổ chức
hoạt động nhằm hình thành và phát triển kỹ năng sống cho trẻ lớp mẫu giáo lớn.
– Phỏng vấn những người có kinh nghiệm về các biện pháp hình thành và
hoàn thiện kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn.
6.4 Phương pháp thống kê toán học
6
– Sử dụng kiểm nghiệm T-test cho hai mẫu độc lập để so sánh sự khác biệt
ý nghĩa giữa trẻ lớp mẫu giáo lớn thực nghiệm và đối chứng.
– Sử dụng kiểm nghiệm chi bình phương để kiểm nghiệm sự khác biệt ý
nghĩa trong việc hình thành và phát triển các kỹ năng sống của trẻ trong lớp thực
nghiệm.
6.5. Phương pháp quan sát.
– Đặt mục đích nghiên cứu
– Lập kế hoạch quan sát
– Tiến hành quan sát
– Ghi lại các kết quả quan sát
– Xử lý các cứ liệu thu thập được
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
– Người nghiên cứu sẽ tiến hành tìm hiểu thực trạng của tất cả kỹ năng
sống của trẻ mẫu giáo lớn dựa vào mục tiêu giáo dục mầm non, chương trình
giáo dục mầm non mới và chuẩn phát triển trẻ mẫu giáo lớn. Tuy nhiên, chúng
tôi chỉ lựa chọn 1 kỹ năng sống mà trẻ còn yếu nhất để tiến hành thực nghiệm
hình thành.
– Vì thời gian và kinh phí có hạn, chúng tôi chỉ tiến hành nghiêm cứu đề
tài này tại lớp Lá 1 và Lá 2 trường mầm non Thực Hành tp.HCM. Chúng tôi hy
vọng đề tài sẽ là một gợi ý tốt cho những nghiên cứu rộng và sâu hơn về kỹ năng
sống cho trẻ.
PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
7
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Vấn đề giáo dục kỹ năng sống ( KNS ) trên thế giới [3,tr.33]
1.1.1.1 Giáo dục kỹ năng sống tại Lào
Từ năm 1997 – 2002, lần đầu tiên giáo dục KNS được thực hiện trong 5
trường trung học cơ sở thuộc một tỉnh, sau đó đã mở rộng ra 700 trường tiểu học
và trung học thuộc 8 tỉnh. Với những nội dung cơ bản như:
– Kỹ năng giao tiếp có hiệu quả
– Kỹ năng tư duy sáng tạo
– Kỹ năng giải quyết vấn đề…
Trong khi thực hiện, một số bài học kinh nghiệm đã được chỉ rõ như: cần
phải biên soạn, in ấn nhiều tài liệu hướng dẫn để phổ biến cho người dạy và
người học. Đồng thời cần tăng cường việc đào tạo giáo viên trực tiếp giáo dục
kỹ năng sống ở các trường về nội dung và phương pháp tích cực hơn.
1.1.1.2 Giáo dục kỹ năng sống tại Campuchia
Tại Campuchia người ta coi KNS là năng lực mà con người cần phải có
để nâng cao các điều kiện sống có hiệu quả nhằm phát triển quốc gia, kỹ năng
tìm việc và kiếm tiền để nuôi sống bản thân và gia đình là những KNS quan
trọng đối với thế hệ trẻ và người lớn. Vì thế trong sự phân loại được chia thành 3
nhóm chủ yếu:
– Nhóm 1: Kỹ năng chung bao gồm
+ Những kỹ năng đơn giản trong đời sống gia đình như: kỹ năng phòng
ngừa những bệnh lây lan qua đường tình dục, kỹ năng an toàn thực phẩm, kỹ
năng hiểu biết về dinh dưỡng…
+ Kỹ năng quản lý gia đình và các phương pháp học tập
8
+ Kỹ năng nâng cao đời sống hàng ngày như: Kỹ năng hiểu biết về những
công nghệ cơ bản trong đời sống hàng ngày
+ Kỹ năng hiểu biết về các giá trị đạo đức, tự chủ…
– Nhóm 2: Kỹ năng tiền nghề nghiệp: Đó là những kỹ năng giao tiếp, kỹ năng
tính toán, tri thức về quyền và trách nhiệm của người chủ và người làm thuê, kỹ
năng giải quyết vần đề…
– Nhóm 3: Các kỹ năng nghề nghiệp: Như trồng trọt, nuôi gia súc, sửa chữa đồ
điện, sử dụng máy tính và nói ngôn ngữ nước ngoài.
Tại Campuchia KNS được đào tạo chính quy trong nhà trường và được
coi như là những nhân tố chính trong chính sách giáo dục nhằm kết nối giáo dục
với nhu cầu thị trường để phát triển kinh tế xã hội. Sự kết nối này sẽ nâng cao
tính hiệu quả nghề nghiệp của người học sau khi tốt nghiệp và tăng cường sự
đầu tư của địa phương và quốc tế, đồng thời sẽ tạo ra nhu cầu tự học của người
học. Chương trình giáo dục KNS trong các trường chính quy đều hướng tới giúp
người học có khả năng:
– Áp dụng kiến thức của các môn học khác nhau vào cuộc sống hiện thực.
– Sau khi rời ghế nhà trường là người tích cực và có trách nhiệm đối với
xã hội
– Tham gia vào thế giới công việc
– Giảm nạn thất nghiệp và nghèo đói để góp phần phát triển xã hội
Để thực hiện được những mục tiêu đó, việc giáo dục KNS tại Campuchia
được thực hiện như sau:
– Các KNS chung được tích hợp vào bài học của các môn học cơ bản từ
lớp 1 đến lớp 12.
– Các kỹ năng nghề nghiệp từ lớp 6 đến lớp 12 được tổ chức dạy và thực
hành trong các tiểu ban công nghệ.
9
– Các kỹ năng nghề đơn giản được lựa chọn thực hiện dựa trên khả năng
của từng trường.
1.1.1.3 Giáo dục kỹ năng sống tại Malaysia
Giáo dục KNS ở Malaysia do Bộ Giáo dục. Họ coi KNS là môn kỹ năng
của cuộc sống và môn này được dạy như một môn học ở trường tiểu học và
THCS. Mục tiêu của môn học này ở trường tiểu học là cung cấp cho người học
những kỹ năng thực tể cơ bản để họ có thể thực hiện các nhiệm vụ và có xu
hướng kinh doanh. Còn ở bậc THCS thì mục tiêu là tạo ra những cá nhân có thể
tự thực hiện, được xoá mù về công nghệ và kinh tế, là người có sự tự tin, sáng
tạo, khả năng tương tác hiệu quả với người khác.
1.1.1.4 Giáo dục kỹ năng sống tại Indonesia
Tại Indonesia KNS được quan niệm là những kỹ năng, kiến thức, thái độ
giúp người học sống một cách độc lập. Giáo dục KNS sẽ:
– Nâng cao cơ hội việc làm cho người học
– Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực từ đó thúc đẩy việc thực hiện chính
sách tự chủ của địa phương
– Tạo ra chất lượng giáo dục cho người nghèo và người có hoàn cảnh đặc biệt.
1.1.1.5. Giáo dục kỹ năng sống tại Thái Lan
Tại đây họ quan niệm, KNS là thuộc tính hay năng lực tâm lý xã hội giúp
cá nhân đương đầu với tất cả tình huống hàng ngày một cách hiệu quả và có thể
đáp ứng với hoàn cảnh tương lai để có thể sống hạnh phúc. Nói cách khác, KNS
là khả năng của cá nhân có thể giải quyết những vấn đề trong đời sống hàng
ngày để an toàn và hạnh phúc. Và ít nhất cần hình thành cho người học 10 KNS
cơ bản sau:
– Ra quyết định
– Giải quyết xung đột
– Sáng tạo
10
– Phân tích và đánh giá
– Giao tiếp
– Quan hệ liên nhân cách
– Làm chủ cảm xúc
– Làm chủ được những cú sốc
– Đồng cảm
– Thực hành
1.1.1.6. Giáo dục kỹ năng sống tại Ấn Độ
KNS được coi là khả năng giúp tăng cường sự lành mạnh về tinh thần và
năng lực của con người. Bao gồm những kỹ năng cơ bản như:
– Giải quyết vấn đề
– Tư duy phê phán
– Tư duy sáng tạo
– Giao tiếp
– Quan hệ liên nhân cách
– Ra quyết định
– Đàm phán
– Tự nhận thức
– Đối phó với stress và cảm xúc
– Từ chối
– Kiên định và hài hoà
1.1.1.7 Giáo dục Kỹ năng sống tại Nepal
KNS được coi như là một phương thức để ứng phó hay là những kỹ năng
cần thiết để tồn tại. Cách phân biệt kỹ năng sống cũng có những điểm khác biệt.
Chẳng hạn họ phân loại KNS thành:
11
– Kỹ năng tồn tại: là những kỹ năng cần có để con người có thể tồn tại
– Kỹ năng chung: Là những kỹ năng giúp con người tìm ra và giải quyết
được những vấn đề của cuộc sống.
– Kỹ năng dịch chuyển: là sự kết hợp của kỹ năng tồn tại kỹ năng chung
và kỹ năng nghề nghiệp. Giúp con người nhanh chóng thích ứng với việc phải
chuyển sang nghề nghiệp mới.
1.1.1.8 Giáo dục kỹ năng sống tại Philipine
Với quan niệm coi kỹ năng sống là những năng lực thích nghi và tính tích
cực của hành vi giúp cho cá nhân có thể ứng phó một cách hiệu quả với những
yêu cầu, những thay đổi, những trải nghiệm và tình huống của đời sống hàng
ngày và vì vậy những kỹ năng cần thiết khi giáo dục kỹ năng sống cho người
học cần có là:
– Tự nhận thức
– Đồng cảm
– Giao tiếp hiệu quả
– Quan hệ liên nhân cách
– Ra quyết định
– Tư duy sáng tạo
– Tư duy phê phán
– Ứng phó
– Làm chủ cảm xúc
– Kinh doanh
Nói tóm lại, với quan niệm và cách phân loại có những nét khác nhau.
Nhưng tựu chung lại hầu hết các nước đều nhận thấy vai trò quan trọng của việc
hình thành kỹ năng sống cho người học.
12
1.1.2 Vấn đề giáo dục kỹ năng sống tại Việt Nam [3, tr.42]
Bắt đầu từ chương trình của UNICEF năm 1996 “Giáo dục kỹ năng sống
để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và
ngoài nhà trường”. Thuật ngữ kỹ năng sống được người Việt Nam biết đến. Lúc
đó quan niệm về kỹ năng sống được giới thiệu trong chương trình này chỉ bao
gồm những kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ
năng ra quyết định, kỹ năng đặt mục tiêu…nhằm vào những chủ đề giáo dục sức
khỏe do các chuyên gia Úc tập huấn.
Đến giai đoạn hai với chương trình “Giáo dục sống khỏe mạnh và kỹ năng
sống” thì quan niệm về kỹ năng sống cơ bản đối với từng nhóm đối tượng được
vận dụng đa dạng hơn. Đó là những kỹ năng cần cho lĩnh vực bảo vệ sức khỏe,
phòng tránh các tệ nạn xã hội dành cho nhóm đối tượng có nguy cơ cao để
đương đầu với những thách thức của xã hội, vận dụng để giải quyết các vấn đề
xã hội khác nhau trong tình huống khác nhau của từng loại đối tượng.
Sau hội thảo “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” do UNESCO tài trợ
được tổ chức năm 2003 thì khái niệm kỹ năng sống được hiểu với nội hàm đầy đủ
và đa dạng. Từ đó, những người làm công tác giáo dục Việt Nam đã hiểu đầy đủ
hơn về kỹ năng sống và trách nhiệm phải giáo dục kỹ năng sống cho người học.
1.2 Những khái niệm cơ bản
1.2.1. Mục tiêu giáo dục mầm non [6]
Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình
cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị
cho trẻ em vào lớp một. Giáo dục mầm non tạo sự khởi đầu cho sự phát triển
toàn diện của trẻ, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc
học tập suốt đời. Với các mục tiêu cụ thể là:
Phát triển thể chất
– Khoẻ mạnh, cân nặng và chiều cao phát triển bình thường theo lứa tuổi.
– Thực hiện được các vận động cơ bản một cách vững vàng, đúng tư thế.
13
– Có khả năng phối hợp các giác quan và vận động; vận động nhịp nhàng,
biết định hướng trong không gian.
– Có kĩ năng trong một số hoạt động cần sự khéo léo của đôi tay.
– Có một số hiểu biết về thực phẩm và ích lợi của việc ăn uống với sức khoẻ.
– Có một số thói quen, kĩ năng tốt trong ăn uống, giữ gìn sức khoẻ và đảm
bảo sự an toàn của bản thân.
Phát triển nhận thức
– Ham hiểu biết, thích khám phá, tìm tòi các sự vật, hiện tượng xung quanh.
– Có khả năng quan sát, so sánh, phân loại, chú ý, ghi nhớ có chủ định.
– Có khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề đơn giản.
– Có khả năng diễn đạt sự hiểu biết bằng các cách khác nhau (bằng hành
động, hình ảnh, lời nói ) với ngôn ngữ nói là chủ yếu.
– Có một số hiểu biết ban đầu về con người, sự vật, hiện tượng xung
quanh và một số khái niệm sơ đẳng về toán.
Phát triển ngôn ngữ
– Có khả năng lắng nghe, hiểu lời nói trong giao tiếp.
– Có khả năng biểu đạt bằng nhiều cách khác nhau (nét mặt, cử chỉ, điệu
bộ).
– Có khả năng diễn đạt rõ ràng và giao tiếp có văn hoá trong cuộc sống
hàng ngày.
– Có một số kĩ năng ban đầu về việc đọc và viết.
Phát triển tình cảm xã hội
– Có ý thức về bản thân.
– Có khả năng nhận biết và thể hiện tình cảm với con người, sự vật, hiện
tượng xung quanh.
14
– Có một số phẩm chất cá nhân: mạnh dạn, tự tin, tự lực.
– Có một số kĩ năng sống: tôn trọng, hợp tác, thân thiện, quan tâm, chia sẻ.
– Thực hiện một số qui tắc, qui định trong sinh hoạt ở gia đình, trường lớp
mầm non, cộng đồng gần gũi.
Phát triển thẩm mỹ
– Có khả năng cảm nhận vẻ đẹp trong thiên nhiên, cuộc sống và trong tác
phẩm nghệ thuật.
– Có khả năng thể hiện cảm xúc, sáng tạo trong các hoạt động âm nhạc,
tạo hình.
– Yêu thích, hào hứng tham gia vào các hoạt động nghệ thuật.
1.2. 2. Đặc điểm tâm lý của trẻ lớp mẫu giáo lớn
1.2.2.1 Sự phát triển cảm giác, tri giác [13, tr.176]
Ở tuổi này sự phát triển về cảm giác và tri giác của trẻ phát triển mạnh
mẽ.
– Đặc điểm lĩnh hội chuẩn cảm giác của trẻ mẫu giáo: Lúc đầu trẻ lĩnh hội
các biến dạng cơ bản của mỗi loại thuộc tính, sau đó trẻ học phân biệt các biến
dạng của các chuẩn.
– Sự phát triển hành động tri giác của trẻ mẫu giáo: Dần chuyển hành
động định hướng bên ngoài thành hành động tri giác và tăng khả năng định
hướng có mục đích, tính kế họach, có điều khiển trong quá trình tri giác.
1.2.2.2 Đặc điểm phát triển trí nhớ của trẻ mẫu giáo lớn
– Các hình thức ghi nhớ và nhớ lại có chủ định bắt đầu xuất hiện ở mẫu
giáo nhỡ và phát triển mạnh ở mẫu giáo lớn do hoạt động của trẻ ngày càng
phức tạp và do yêu cầu của người lớn đối với trẻ ngày càng cao. Loại ghi nhớ có
chủ định chủ yếu của trẻ vẫn là ghi nhớ máy móc.
15
– Trí nhớ vận động: Trẻ có thể dần dần bỏ hình mẫu, nhưng những lời chỉ
dẫn của người lớn vẫn có ý nghĩa. Động tác vững vàng hơn, nhanh và chính xác
hơn, ít có những động tác thừa cơ thể.
– Trí nhớ hình ảnh: Trí nhớ hình ảnh đặc biệt phát triển. Trẻ nhớ những
bức tranh mà trẻ đã vẽ, nhớ phong cảnh mà trẻ đã tham quan. Biểu tượng về thế
giới xung quanh ở trẻ đã gắn kết với nhau, mang tính sinh động và hấp dẫn.
– Trí nhớ từ ngữ logic: Vốn tri thức, biểu tượng và những khái niệm ban
đầu về thế giới xung quanh, đỏi hỏi trẻ phải nắm vững ngôn ngữ, điều này giúp
trẻ phát triển trí nhớ từ ngữ logic.
– Trí nhớ cảm xúc: Trẻ nhớ những cảm xúc vui buồn mà trẻ đã trải qua.
Trí nhớ cảm xúc là một dạng của sự hồi tưởng giúp đời sống của trẻ thêm phong
phú và tinh tế. Sự hồi tưởng có liên quan đến tự ý thức của trẻ. Trong hồi tưởng
của trẻ có những điều liên quan đến những thời điểm quan trọng trong cuộc đời
đứa trẻ và trong quan hệ với người khác. Trí nhớ tác động đến quá trình hình
thành nhân cách.
1.2.2.3. Đặc điểm phát triển tư duy
Ở trẻ lớp mẫu giáo lớn, loại tư duy chủ yếu là tư duy trực quan hình ảnh.
Khi giải quyết vấn đề đặt ra, trẻ hay suy nghĩ dựa vào tư duy trực quan hình ảnh.
Trẻ giải quyết các vấn đề dựa vào các hình ảnh cụ thể vẫn dễ dàng hơn khi bài
toán đó được giao dưới hình thức các con số trừu tượng.
1.2.2.4. Đặc điểm phát triển tưởng tượng
Trí tưởng tượng của trẻ mẫu giáo được phát triển mạnh mẽ. Tuổi mẫu giáo
là giai đoạn phát cảm về sự phát triển tưởng tượng. Trẻ rất hay tưởng tượng. Hình
ảnh tưởng tượng của trẻ bay bổng, rực rỡ, giàu màu sắc xúc cảm và hay vi phạm
hiện thực.
– Tưởng tượng của trẻ vẫn chủ yếu mang tính tái tạo, không chủ định.
Tưởng tượng tái tạo của trẻ mang tính có chủ định và tích cực hơn. Tưởng tượng
có chủ đích dần được hình thành khi trẻ tự xây dựng ý tưởng, lập kế họach và
16
thực hiện ý tưởng ấy. Trẻ có khả năng tưởng tượng thầm trong óc không cần chỗ
dựa trực quan ở bên ngoài. Tưởng tượng sáng tạo dần được phát triển.
1.2.2.5. Vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo
Trò chơi là hoạt động chủ đạo của mẫu giáo. Các đặc điểm của trò chơi
(chủ yếu là trò chơi sắm vai có chủ đề) mang tính ký hiệu – tượng trưng, phải có
sự tham gia bắt buộc của tưởng tượng, giàu tính cảm xúc, mang tính tự nguyện,
mang tính tự lập, trong trò chơi, trẻ nhận cho mình một vai nào đó phù hợp với
chủ đề chơi.
Ở trẻ mẫu giáo lớn, chủ đề chơi của trẻ đa dạng hơn, phản ánh cuộc sống
hiện thực xa hơn như “cửa hàng ăn, hiệu cắt tóc”, “bệnh viện”. Thời gian chơi của
trẻ kéo dài đến hàng giờ và có thể duy trì trong vài ngày. Khi thực hiện các hành
động chơi, trẻ ưu tiên cho việc sử dụng các kết quả của các hành động đó cho
thành viên của trò chơi. Các hành động chơi của trẻ được rút gọn, được khái quát
hóa và mang tính ước lệ. Nội dung chơi cơ bản của trẻ là tuân thủ các quy tắc
hành vi xã hội và các mối quan hệ xã hội phù hợp với vai chơi. Trẻ thường cãi
nhau cái gì giống với thực tế, cái gì không.
1.2.2.6. Đặc điểm giao tiếp của trẻ mẫu giáo lớn
– Đến cuối tuổi mẫu giáo, xuất hiện hình thức giao tiếp cấp cao với người
lớn – giao tiếp nhân cách ngoài tình huống. Trẻ tập trung vào thế giới con người
chứ không phải thế giới đồ vật. Trong các cuộc trò chuyện của trẻ, các chủ đề về
cuộc sống, về công việc của người lớn và các mối quan hệ qua lại của họ chiếm
ưu thế. Nhờ sự hướng dẫn của người lớn, trẻ nắm được những chuẩn mực đạo
đức, đánh giá những hành vi của mình và hành vi của mọi người xung quanh.
Xuất hiện ở trẻ nhu cầu được hiểu biết và thông cảm lẫn nhau.
– Từ 4-6 tuổi trẻ mẫu giáo có giao tiếp công việc tình huống với bạn cùng
tuổi. Nhu cầu giao tiếp cơ bản của trẻ mẫu giáo là cải thiện sự hợp tác trong công
việc và phối hợp các hành động của mình với bạn để đạt mục đích. Đến năm thứ 5
của cuộc đời, trẻ thường hỏi về các thành tích của bạn, đòi hỏi mọi người công
17
nhận các thành tích của bản thân, vạch ra sự thất bại của trẻ khác và thử giấu đi
những thất bại của bản thân.
– Ở trẻ mẫu giáo lớn hình thức giao tiếp công việc ngoài tính huống được
phát triển. Hoạt động chơi của trẻ đòi hỏi trẻ phải thống nhất với bạn và vạch ra từ
trước kế họach của bản thân. Ở trẻ xuất hiện hứng thú với nhân cách của bạn,
không liên hệ gì với các hành động của người bạn đó. Mặc dù các động cơ giao tiếp
về công việc vẫn giữ vai trò chủ đạo, tuy nhiên trẻ đã nói chuyện với nhau về các
chủ đề nhận thức và nhân cách.
– Các đặc điểm giao tiếp với các bạn được thể hiện rõ ràng trong các chủ
đề trò chuyện của trẻ. Trẻ mẫu giáo bé thường nói về những gì trẻ nhìn thấy, hay
là về cái mà trẻ có. Các chủ đề này được duy trì trong suốt tuổi mẫu giáo. Trẻ
mẫu giáo nhỡ thường cho bạn thấy là mình biết làm cái gì và làm được việc đó
như thế nào. Trẻ mẫu giáo lớn trẻ thường hay kể về bản thân, về cái gì trẻ thích
và không thích, chúng chia sẻ với bạn các nhận thức, “kế hoạch cho tương lại”.
1. 2.2.7 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn
– Các hình thức ngôn ngữ có kết cấu chặt chẽ được hình thành, tính biểu
cảm của ngôn ngữ được phát triển. Đứa trẻ nắm được quy luật của tiếng mẹ đẻ,
học cách sắp xếp những ý nghĩ của mình một cách logic, chặt chẽ. Sự lập luận
trở thành phương pháp giải quyết các nhiệm vụ trí tuệ, ngôn ngữ trở thành công
cụ của tư duy và phương tiện của nhận thức.
– Chức năng điều khiển của ngôn ngữ được phát triển biểu hiện trong sự
hiểu các tác phẩm văn học, sự thực hiện hướng dẫn và yêu cầu của người lớn.
Chức năng lập kế hoạch của ngôn ngữ được hình thành khi giải quyết các nhiệm
vụ thực hành và nhiệm vụ trí tuệ.
– Ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo trở thành hoạt động đặc biệt dưới các hình
thức như: sự lắng nghe, đàm thoại, thảo luận và kể chuyện. Hoàn thiện quá trình
phát triển ngữ âm, xuất hiện những tiền đề nắm vững ngữ pháp.
18
1.2.3. Khái niệm kỹ năng, kỹ năng sống
1.2.3.1 Khái niệm kỹ năng
Các tác giả nghiên cứu về kỹ năng đã đưa ra những quan niệm khác nhau
về kỹ năng. Trong các từ điển, kỹ năng được định nghĩa như sau:
– Kỹ năng là cách thức thực hiện hành động đã được chủ thể tiếp thu,
được đảm bảo bằng tập hợp các tri thức và kỹ xảo đã được lĩnh hội” [32]
– Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một
lĩnh vực nào đó vào thực tế [19]
– Kỹ năng là làm một cái gì đó, có được nhờ học tập, thử nghiệm
– Kỹ năng là khả năng vận dụng các tri thức khoa học thu thập được vào
thực tiễn để có thể thực hiện tốt một việc gì đó.
– Kỹ năng là cách thức cơ bản để chủ thể thực hiện hành động, thể hiện bởi
tập hợp những kiến thức đã thu lượm được và những thói quen, kinh nghiệm [1]
Để hình thành kỹ năng các tác giả đã chỉ ra rằng: khi tiến hành một hoạt
động nào đó. Lúc đầu phải xác định mục đích của nó, sau đó chỉ ra và giúp
người học hiểu được cách thức thực hiện hoạt động này, trình tự thực hiện các
hoạt động và cung cấp các biểu tượng về kỹ thuật hoàn thành chúng [5]. Tri thức
về mục đích của hoạt động, các khái niệm, các biểu tượng về các cách thức để
đạt được mục tiêu cần được nắm vững trước khi thực hiện các hành động để
hình thành kỹ năng. Trong quá trình đó các khái niệm, biểu tượng sẽ được mở
rộng hơn, trở nên sâu sắc hơn, hoàn thiện hơn.
Người có kỹ năng về hành động nào đó phải có tri thức về hành động đó,
hành động theo đúng yêu cầu và đạt kết quả trong mọi điều kiện khác nhau.
Theo K.I Platonov và G.G.Golubev kỹ năng là năng lực của người thực hiện
công việc có kết quả với một chất lượng cần thiết trong những điều kiện mới và
những khoảng thời gian tương ứng. Bất kỳ một kỹ năng nào cũng bao hàm trong
đó cả biểu tượng, khái niệm, vốn tri thức, sự tự kiểm tra, điều chỉnh quá trình
hoạt động.
19
– Tác giả Nguyễn Đức Hưởng đưa ra các chỉ báo đánh giá mức độ thuần
thục, thành thạo của kỹ năng như sau:
+ Mức độ hiểu biết về hành động và các thao tác cấu thành hành động
+ Tốc độ thực hiện hành động, thực hiện các thao tác cấu thành hành động
+ Tính nhịp nhàng trong phối hợp các thao tác hành động
+ Hiệu quả của hành động
Khi đánh giá kỹ năng cần phải sử dụng tổng hợp các chỉ báo trên. Nếu chỉ
sử dụng một chỉ báo đơn lẻ thì có thể dẫn đến nhầm lẫn (chẳng hạn như coi
người có tri thức, hoặc người có hành động nhanh, người làm việc có hiệu quả là
người có kỹ năng) [10]
Như vậy có thể nói, kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức vào trong
thực tiễn để thực hiện có kết quả một hành động nào đó.
1.2.3.2 Khái niệm kỹ năng sống [18, tr.8]
Theo WHO ( tổ chức Y tế thế giới), kỹ năng sống là những kỹ năng
mang tính tâm lý xã hội và kỹ năng về giao tiếp được vận dụng trong những tình
huống hàng ngày để tương tác một cách có hiệu quả với người khác và giải quyết
một cách có hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hàng ngày.
Theo UNICEP ( quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc), Kỹ năng sống là
những hành vi cụ thể, thể hiện khả năng chuyển đổi kiến thức và thái độ thành
hành động thích ứng trong cuộc sống. Kỹ năng sống phải dựa trên nhận thức, thái
độ và chuyển biến thành hành vi như một yêu cầu liên hoàn và có định hướng.
Giáo dục dựa trên kỹ năng sống cơ bản là sự thay đổi trong hành vi hay một sự
phát triển hành vi nhằm tạo sự cân bằng giữa kiến thức, thái độ và hành vi.
Theo UNESCO ( tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên
hợp quốc), thì kỹ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức
năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày.
20
Như vậy, kỹ năng sống chính là những kỹ năng tâm lý- xã hội nhằm giúp
cá nhân giải quyết một cách có hiệu quả những yêu cầu, thách thực của cuộc
sống đặt ra và thích nghi với những yêu cầu, thách thức đó.
1.2.4. Phân loại kỹ năng sống [ 3, tr.10]
Có nhiều cách phân loại kỹ năng sống
Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO) gồm ba nhóm kỹ năng:
– Nhóm kỹ năng nhận thức gồm các kỹ năng:
+ Tự nhận thức bản thân: bao gồm sự nhìn nhận về bản thân, tính tình,
mặt mạnh, mặt yếu, ước muốn của chúng ta cũng như những điều mà chúng ta
không thích. Ý thức về bản thân giúp chúng ta nhận ra stress hay tình trạng bị áp
lực để ứng phó kịp thời. Ý thức về bản thân là một tiền đề quan trọng để truyền
thông và giao tiếp có hiệu quả cũng như để thấu cảm với người khác.
+ Kỹ năng sáng tạo: góp phần vào việc lấy quyết định và giải quyết vấn
đề bằng cách giúp chúng ta xem xét tất cả các biện pháp khác nhau và suy nghĩ
về các hậu quả của việc ta hành động hay không hành động.
+ Kỹ năng ra quyết định: Giúp chúng ta chọn những quyết định tích cực
liên quan đến cuộc sống của chúng ta.
+ Kỹ năng giải quyết vấn đề: giúp ta xử lý những khó khăn gặp phải một
cách tích cực nhất. Những vấn đề gặp phải nếu không quan tâm giải quyết sẽ
gây ra stress, dẫn theo những xáo trộn về cuộc sống và sức khoẻ.
+ Kỹ năng tư duy,
+ Kỹ năng xác định giá trị,
+ Kỹ năng tự đặt mục tiêu.
– Nhóm kỹ năng liên quan đến cảm xúc gồm các kỹ năng:
+ Kỹ năng nhận biết và chịu trách nhiệm về cảm xúc của mình,
+ Kỹ năng kiềm chế và kiểm soát được cảm xúc,
21
+ Kỹ năng tự giám sát- tự điều chỉnh cảm xúc của cá nhân.
– Nhóm kỹ năng xã hội: Nhóm này gồm các kỹ năng: [18, tr.8]
+ Kỹ năng giao tiếp và truyền thông: Giúp con người thiết lập và duy trì
các mối quan hệ một cách tích cực,
+ Kỹ năng cảm thông: Là khả năng hình dung hoàn cảnh sống của người
khác. Cảm thông chúng ta chấp nhận người kia dù họ rất khác với chúng ta.
Điều này sẽ giúp cải thiện các mối tương tác xã hội. Đồng thời, cảm thông còn
giúp chúng ta có thái độ phù hợp với những người cần sự giúp đỡ của chúng ta,
+ Kỹ năng thích ứng với cảm xúc của người khác: Đó là cách nhìn nhận
các cảm xúc nơi ta và người khác, ý thức rằng cảm xúc ảnh hưởng đến hành vi
như thế nào và có khả năng ứng phó với cảm xúc một cách phù hợp,
+ Kỹ năng chia sẻ, kỹ năng hợp tác,
+ Kỹ năng gây thiện cảm
Theo quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) có 3 nhóm sau đây:
– Nhóm kỹ năng tự nhận thức và sống với chính mình. Nhóm này gồm:
+ Kỹ năng tự nhận thức và đánh giá bản thân,
+ Kỹ năng xây dựng mục tiêu cuộc sống,
+ Kỹ năng bảo vệ bản thân,
+ Kỹ năng kiên định,
+ Kỹ năng đương đầu với cảm xúc,
+ Kỹ năng đương đầu với căng thẳng…
– Nhóm kỹ năng nhận thức và sống với người khác. Nhóm này có các
kỹ năng:
+ Kỹ năng thiết lập quan hệ,
22
+ Kỹ năng hợp tác và làm việc nhóm: Biểu lộ sự tôn trọng đối với sự
đóng góp và phong cách riêng của người khác. Đồng thời biết đánh giá khả năng
và sự đóng góp của bản thân cho nhóm.
+ Kỹ năng thương lượng: Đây không chỉ là thương lượng với người khác
mà còn thương lượng với chính bản thân mình. Để thương lượng với người khác
một cách có hiệu quả, người ta cần biết rõ mình muốn gì trong cuộc sống, nắm
chắc các giá trị và niềm tin của bản thân để có thể nói KHÔNG với những hành
vi có hại hay những cám dỗ có nguy cơ cao,
+ Kỹ năng đứng vững trước những áp lực tiêu cực.
– Nhóm kỹ năng ra quyết định và làm việc hiệu quả:
+ Kỹ năng phân tích vấn đề,
+ Kỹ năng nhận thức thực tế, ra quyết định, ứng xử và giải quyết vấn đề,
+ Kỹ năng tư duy sáng tạo…
Theo tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên hợp quốc
(UNESCO) gồm hai nhóm sau:
– Nhóm kỹ năng chung: nhóm này gồm những kỹ năng cơ bản mà mỗi cá
nhân đều có thể có để thích ứng với cuộc sống chung bao gồm các kỹ năng: kỹ
năng nhận thức, kỹ năng liên quan đến cảm xúc và các kỹ năng cơ bản về xã hội.
– Nhóm kỹ năng chuyên biệt. Nhóm này gồm các kỹ năng được thể hiện
trong các lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội như: Các kỹ năng về sức khỏe và
dinh dưỡng, kỹ năng liên quan đến giới và giới tính, kỹ năng về các vấn đề xã
hội như ma túy, HIV- AIDS, các kỹ năng liên quan đến môi trường thiên nhiên,
các vấn đề bạo lực, rủi ro, những kỹ năng liên quan đến cuộc sống gia đình, môi
trường cộng đồng, hòa bình và giải quyết xung đột, phòng tránh buôn bán trẻ em
và phụ nữ…
23
Tổ chức ESCAP ( Hội đồng kinh tế xã hội châu Á Thái Bình
Dương của Liên Hợp Quốc)
Theo tổ chức này họ phân loại kỹ năng sống thành 3 dạng
– Kỹ năng sống để phát triển cá nhân,
– Kỹ năng sống để tạo mối quan hệ với người khác,
– Kỹ năng công nghệ theo đề nghị của các đại diện trẻ tại một hội nghị.
Họ nhấn mạnh đến kỹ năng công nghệ thông tin.
Dù có cách sắp xếp khác nhau cho phù hợp với từng mục đích của các tổ
chức, nhưng tất cả đều dựa trên 10 kỹ năng sống cơ bản như:
– Lấy quyết định
– Giải quyết vấn đề
– Suy nghĩ sáng tạo
– Suy nghĩ có phán đoán
– Truyền thông hiệu quả
– Giao tiếp giữa người với người
– Ý thức về bản thân
– Khả năng thấu cảm
– Ứng phó với cảm xúc
– Ứng phó với stress
1.2.5. Kỹ năng sống của trẻ lớp mẫu giáo lớn [7]
1.2.5.1 Kỹ năng hiểu biết và chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng
– Biết một số hoạt động của bản thân trẻ trong sinh hoạt hàng ngày có lợi
cho sức khỏe, sự lớn lên và phát triển của cơ thể
– Kể được tên một số thực phẩm hoặc món ăn cần có trong bữa ăn hàng ngày
– Biết một số hành vi ăn uống có hại cho sức khỏe
24
– Biết thuốc lá có hại cho sức khỏe và thể hiện thái độ không đồng tình
với người hút thuốc;
– Biết che miệng khi ho, hắt hơi, ngáp
1.2.5.2 Kỹ năng chăm sóc vệ sinh cá nhân
– Biết rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh và khi tay bẩn;
– Có thói quen rửa mặt, đánh răng hàng ngày;
– Biết chọn quần áo phù hợp với thời tiết;
– Giữ đầu tóc gọn gàng, quần áo sạch sẽ.
1.2.5.3 Kỹ năng giữ an toàn cá nhân
– Biết kêu cứu khi gặp nguy hiểm;
– Nhận biết và không tự ý sử dụng những đồ vật gây nguy hiểm
– Không đi theo và nhận quà của người lạ khi chưa được người thân cho phép;
– Biết ý nghĩa và có ý thức thực hiện theo quy định của một số biển báo
giao thông, biển báo nơi nguy hiểm.
1.2.5.4 Kỹ năng nhận thức về bản thân
– Nói được họ và tên, địa chỉ nhà hoặc số điện thoại, tên bố, mẹ của mình;
– Biết mình là trai hay gái và có ứng xử phù hợp;
– Nói được khả năng của bản thân
– Biết đề xuất những trò chơi và hoạt động thể hiện sở thích của cá nhân.
1.2.5.5 Kỹ năng tự tin và tự trọng
– Chấp nhận và cố gắng thực hiện công việc được giao;
– Hài lòng khi hoàn thành công việc;
– Chủ động và độc lập trong một số hoạt động đơn giản hằng ngày
– Mạnh dạn bày tỏ ý kiến của bản thân.
25
PHẦN I. PHẦN MỞ ĐẦU1. Lý do chọn đề tàiVào đầu thập kỷ 90 những tổ chức triển khai của Liên Hiệp Quốc như tổ chức triển khai Y tế thếgiới, Quỹ cứu trợ nhi đồng, Tổ chức giáo dục văn hóa truyền thống và khoa học và những nhàgiáo dục quốc tế đã cùng tìm cách giáo dục để tạo cho trẻ năng lượng tâm ý xãhội, nhằm mục đích ứng phó với những nhu yếu và thử thách của đời sống hàng ngày. Đó là kỹ năng sống. Xã hội lúc bấy giờ đã và đang làm biến hóa đời sống của con người, nhiềuvấn đề phức tạp liên tục phát sinh. Bên cạnh những tác động ảnh hưởng tích cực, còn cónhững ảnh hưởng tác động xấu đi, gây nguy cơ tiềm ẩn cho con người, đặc biệt quan trọng là trẻ nhỏ. Nếu mỗi người trong đó có trẻ nhỏ không có những kiến thức và kỹ năng thiết yếu đểbiết lựa chọn những giá trị sống tích cực, không có những năng lượng để ứng phó, để vượt qua những thử thách mà hành vi theo cảm tính thì rất dễ gặp trởngại, rủi ro đáng tiếc trong đời sống. Do đó, việc hình thành kỹ năng sống cho mọi người nói chung và trẻ emnói riêng đang trở thành trách nhiệm quan trọng. Giáo dục kỹ năng sống phải được đo bằng sự vận dụng những kỹ năng đótrong đời sống mỗi cá thể để sống tích cực, sống niềm hạnh phúc, sống có ý nghĩa. Giáo dục kỹ năng sống nhằm mục đích giúp trẻ tăng trưởng hòa giải, tổng lực vềnhân cách. Cung cấp cho mỗi trẻ những kỹ năng và kiến thức thiết yếu về kỹ năng sống đểcác em sống sao cho lành mạnh và có ý nghĩa. Giúp những em hiểu, biến những kỹ năng và kiến thức về kỹ năng sống được cung cấpthành hành vi đơn cử trong quy trình hoạt động giải trí thực tiễn với bản thân, vớingười khác, với xã hội, ứng phó trước nhiều trường hợp, học cách tiếp xúc, ứngxử với mọi người, xử lý xích míc trong mối quan hệ và biểu lộ bản thânmột cách tích cựcTheo UNESCO, 8 tuổi đã là quá trễ để giáo dục kỹ năng sống. Vì đến độtuổi này trẻ đã hình thành cho mình phần đông những giá trị ; trừ phi có sự thay đổisâu sắc về thưởng thức trong đời, nếu không thì khó mà lĩnh hội thêm giá trị sauđộ tuổi này. Trẻ từ dưới 2 tuổi đã khởi đầu tiếp thu từ thiên nhiên và môi trường sống xungquanh, như giọng nói của người lớn khi trò chuyện với trẻ, phương pháp tiếp xúcvới trẻ, tổng thể đều ảnh hưởng tác động đến sự tăng trưởng của trẻ. Vì vậy việc hình thành vàphát triển kỹ năng sống cần được thực thi từ bậc học mần nin thiếu nhi. 2. Mục đích nghiên cứu – Khảo sát tình hình kỹ năng sống của trẻ lớp mẫu giáo lớn. – Xây dựng một số ít giải pháp tác động ảnh hưởng sư phạm nhằm mục đích hình thành và hoànthiện 1 số ít kỹ năng sống tương thích với trẻ lớp mẫu giáo lớn. – Đề ra những đề xuất kiến nghị nhằm mục đích nâng cao hiệu suất cao của việc hình thành kỹnăng sống cho trẻ lớp mẫu giáo lớn. 3. Khách thể và đối tượng người tiêu dùng nghiên cứu3. 1 Khách thể nghiên cứu – Trẻ lớp mẫu giáo lớn trường mần nin thiếu nhi Thực Hành thành phố Hồ Chí Minh. – Giáo viên trường mần nin thiếu nhi Thực Hành thành phố Hồ Chí Minh. 3.2. Đối tượng nghiên cứu – Một số bộc lộ kỹ năng sống của trẻ lớp mẫu giáo lớn trường mầmnon Thực Hành thành phố Hồ Chí Minh. 4. Giả thuyết nghiên cứu – Nhiều kỹ năng sống thiết yếu của trẻ lớp mẫu giáo lớn trường mầm nonThực Hành tp. HCM chưa được hình thành. – Nếu có những giải pháp tác động ảnh hưởng sư phạm tương thích thì hoàn toàn có thể hình thànhvà hoàn thành xong được những kỹ năng sống cho trẻ lớp mẫu giáo lớn. 5. Nhiệm vụ nghiên cứu5. 1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài – Mục tiêu giáo dục mần nin thiếu nhi – Đặc điểm tâm ý của trẻ mẫu giáo lớn – Khái niệm kỹ năng – Khái niệm kỹ năng sống – Phân loại kỹ năng sống – Phân loại kỹ năng sống của trẻ mẫu giáo lớn – Nội dung giáo dục kỹ năng sống của trẻ lớp mẫu giáo lớn – Phương pháp giáo dục kỹ năng sống của trẻ lớp mẫu giáo lớn – Cơ sở pháp lý của việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn5. 2 Thực nghiệm – Khảo sát kỹ năng sống của trẻ mẫu giáo lớn ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. – Xây dựng một số ít giải pháp ảnh hưởng tác động sư phạm nhằm mục đích hình thành và hoànthiện kỹ năng sống cho trẻ lớp mẫu giáo lớn. – Tổ chức những hoạt động giải trí nhằm mục đích hình thành và tăng trưởng kỹ năng sống chotrẻ lớp mẫu giáo lớn tại lớp thực nghiệm. – Đánh giá việc hình thành và triển khai xong kỹ năng sống cho trẻ lớp mẫugiáo lớn sau thực nghiệm giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. 5.3 Đưa ra những yêu cầu nhằm mục đích tổ chức triển khai tốt việc hình thành và pháttriển kỹ năng sống cho trẻ lớp mẫu giáo lớn. 6. Phương pháp nghiên cứu6. 1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu – Tìm kiếm, đọc, nghiên cứu và phân tích và tổng hợp tài liệu Giao hàng cho đề tài nghiêncứu như những sách giáo khoa, sách chuyên ngành, những tạp chí, website … 6.2 Phương pháp thực nghiệm – Xác định mục tiêu thực nghiệm – Hình thành giả thuyết khoa học – Phân tích đối tượng người dùng nghiên cứu – Tìm hiểu tình hình – Xây dựng mạng lưới hệ thống những bài tập nhỏ theo hướng của mục tiêu thựcnghiệm đặt ra. Đối tượng thực nghiệm được chia thành 2 nhóm : nhóm thựcnghiệm và nhóm đối chứng. Nhóm thực nghiệm được tác động ảnh hưởng bởi những biếncố độc lập để xem xét sự diễn biến của chúng có đúng với giả thuyết ban đầuhay không. Trong khi đó nhóm đối chứng diễn biến trọn vẹn tự nhiên. Với mẫunghiên cứu : Lớp Lá 1 Lớp Lá 2 TổngNam Nữ Nam Nữ Nam NữN % N % N % N % N % N % 11 40.7 26 59.3 20 60.6 13 39.4 31 51.7 29 48.3 – Tiến hành thực nghiệm hình thành – Thu thập và xử lý số liệu bằng chiêu thức thống kê toán học – Rút ra nhận xét và kết luận6. 3. Phương pháp phỏng vấn – Phỏng vấn 1 số ít giáo viên trường mần nin thiếu nhi Thực hành về việc tổ chứchoạt động nhằm mục đích hình thành và tăng trưởng kỹ năng sống cho trẻ lớp mẫu giáo lớn. – Phỏng vấn những người có kinh nghiệm tay nghề về những giải pháp hình thành vàhoàn thiện kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn. 6.4 Phương pháp thống kê toán học – Sử dụng kiểm nghiệm T-test cho hai mẫu độc lập để so sánh sự khác biệtý nghĩa giữa trẻ lớp mẫu giáo lớn thực nghiệm và đối chứng. – Sử dụng kiểm nghiệm chi bình phương để kiểm nghiệm sự độc lạ ýnghĩa trong việc hình thành và tăng trưởng những kỹ năng sống của trẻ trong lớp thựcnghiệm. 6.5. Phương pháp quan sát. – Đặt mục tiêu nghiên cứu – Lập kế hoạch quan sát – Tiến hành quan sát – Ghi lại những tác dụng quan sát – Xử lý những cứ liệu tích lũy được7. Giới hạn khoanh vùng phạm vi nghiên cứu : – Người nghiên cứu sẽ thực thi khám phá tình hình của tổng thể kỹ năngsống của trẻ mẫu giáo lớn dựa vào tiềm năng giáo dục mần nin thiếu nhi, chương trìnhgiáo dục mần nin thiếu nhi mới và chuẩn tăng trưởng trẻ mẫu giáo lớn. Tuy nhiên, chúngtôi chỉ lựa chọn 1 kỹ năng sống mà trẻ còn yếu nhất để thực thi thực nghiệmhình thành. – Vì thời hạn và kinh phí đầu tư hạn chế, chúng tôi chỉ thực thi nghiêm cứu đềtài này tại lớp Lá 1 và Lá 2 trường mần nin thiếu nhi Thực Hành tp. HCM. Chúng tôi hyvọng đề tài sẽ là một gợi ý tốt cho những nghiên cứu rộng và sâu hơn về kỹ năngsống cho trẻ. PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨUCHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN1. 1 Lịch sử yếu tố nghiên cứu1. 1.1 Vấn đề giáo dục kỹ năng sống ( KNS ) trên quốc tế [ 3, tr. 33 ] 1.1.1. 1 Giáo dục kỹ năng sống tại LàoTừ năm 1997 – 2002, lần tiên phong giáo dục KNS được thực thi trong 5 trường trung học cơ sở thuộc một tỉnh, sau đó đã lan rộng ra ra 700 trường tiểu họcvà trung học thuộc 8 tỉnh. Với những nội dung cơ bản như : – Kỹ năng tiếp xúc có hiệu suất cao – Kỹ năng tư duy phát minh sáng tạo – Kỹ năng xử lý yếu tố … Trong khi triển khai, một số ít bài học kinh nghiệm kinh nghiệm tay nghề đã được chỉ rõ như : cầnphải biên soạn, in ấn nhiều tài liệu hướng dẫn để phổ cập cho người dạy vàngười học. Đồng thời cần tăng cường việc huấn luyện và đào tạo giáo viên trực tiếp giáo dụckỹ năng sống ở những trường về nội dung và giải pháp tích cực hơn. 1.1.1. 2 Giáo dục kỹ năng sống tại CampuchiaTại Campuchia người ta coi KNS là năng lượng mà con người cần phải cóđể nâng cao những điều kiện kèm theo sống có hiệu suất cao nhằm mục đích tăng trưởng vương quốc, kỹ năngtìm việc và kiếm tiền để nuôi sống bản thân và mái ấm gia đình là những KNS quantrọng so với thế hệ trẻ và người lớn. Vì thế trong sự phân loại được chia thành 3 nhóm đa phần : – Nhóm 1 : Kỹ năng chung gồm có + Những kỹ năng đơn thuần trong đời sống mái ấm gia đình như : kỹ năng phòngngừa những bệnh lây lan qua đường tình dục, kỹ năng bảo đảm an toàn thực phẩm, kỹnăng hiểu biết về dinh dưỡng … + Kỹ năng quản trị mái ấm gia đình và những phương pháp học tập + Kỹ năng nâng cao đời sống hàng ngày như : Kỹ năng hiểu biết về nhữngcông nghệ cơ bản trong đời sống hàng ngày + Kỹ năng hiểu biết về những giá trị đạo đức, tự chủ … – Nhóm 2 : Kỹ năng tiền nghề nghiệp : Đó là những kỹ năng tiếp xúc, kỹ năngtính toán, tri thức về quyền và nghĩa vụ và trách nhiệm của người chủ và người làm thuê, kỹnăng xử lý vần đề … – Nhóm 3 : Các kỹ năng nghề nghiệp : Như trồng trọt, nuôi gia súc, thay thế sửa chữa đồđiện, sử dụng máy tính và nói ngôn từ quốc tế. Tại Campuchia KNS được huấn luyện và đào tạo chính quy trong nhà trường và đượccoi như thể những tác nhân chính trong chủ trương giáo dục nhằm mục đích liên kết giáo dụcvới nhu yếu thị trường để tăng trưởng kinh tế tài chính xã hội. Sự liên kết này sẽ nâng caotính hiệu suất cao nghề nghiệp của người học sau khi tốt nghiệp và tăng cường sựđầu tư của địa phương và quốc tế, đồng thời sẽ tạo ra nhu yếu tự học của ngườihọc. Chương trình giáo dục KNS trong những trường chính quy đều hướng tới giúpngười học có năng lực : – Áp dụng kỹ năng và kiến thức của những môn học khác nhau vào đời sống hiện thực. – Sau khi rời ghế nhà trường là người tích cực và có nghĩa vụ và trách nhiệm đối vớixã hội – Tham gia vào quốc tế việc làm – Giảm nạn thất nghiệp và nghèo khó để góp thêm phần tăng trưởng xã hộiĐể thực thi được những tiềm năng đó, việc giáo dục KNS tại Campuchiađược thực thi như sau : – Các KNS chung được tích hợp vào bài học kinh nghiệm của những môn học cơ bản từlớp 1 đến lớp 12. – Các kỹ năng nghề nghiệp từ lớp 6 đến lớp 12 được tổ chức triển khai dạy và thựchành trong những tiểu ban công nghệ tiên tiến. – Các kỹ năng nghề đơn thuần được lựa chọn triển khai dựa trên khả năngcủa từng trường. 1.1.1. 3 Giáo dục kỹ năng sống tại MalaysiaGiáo dục KNS ở Malaysia do Bộ Giáo dục. Họ coi KNS là môn kỹ năngcủa đời sống và môn này được dạy như một môn học ở trường tiểu học vàTHCS. Mục tiêu của môn học này ở trường tiểu học là cung ứng cho người họcnhững kỹ năng thực tể cơ bản để họ hoàn toàn có thể thực thi những trách nhiệm và có xuhướng kinh doanh thương mại. Còn ở bậc trung học cơ sở thì tiềm năng là tạo ra những cá thể có thểtự triển khai, được xoá mù về công nghệ tiên tiến và kinh tế tài chính, là người có sự tự tin, sángtạo, năng lực tương tác hiệu suất cao với người khác. 1.1.1. 4 Giáo dục kỹ năng sống tại IndonesiaTại Indonesia KNS được ý niệm là những kỹ năng, kỹ năng và kiến thức, thái độgiúp người học sống một cách độc lập. Giáo dục KNS sẽ : – Nâng cao thời cơ việc làm cho người học – Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực từ đó thôi thúc việc thực thi chínhsách tự chủ của địa phương – Tạo ra chất lượng giáo dục cho người nghèo và người có thực trạng đặc biệt quan trọng. 1.1.1. 5. Giáo dục kỹ năng sống tại Thái LanTại đây họ ý niệm, KNS là thuộc tính hay năng lượng tâm ý xã hội giúpcá nhân đương đầu với toàn bộ trường hợp hàng ngày một cách hiệu suất cao và có thểđáp ứng với thực trạng tương lai để hoàn toàn có thể sống niềm hạnh phúc. Nói cách khác, KNSlà năng lực của cá thể hoàn toàn có thể xử lý những yếu tố trong đời sống hàngngày để bảo đảm an toàn và niềm hạnh phúc. Và tối thiểu cần hình thành cho người học 10 KNScơ bản sau : – Ra quyết định hành động – Giải quyết xung đột – Sáng tạo10 – Phân tích và nhìn nhận – Giao tiếp – Quan hệ liên nhân cách – Làm chủ xúc cảm – Làm chủ được những cú sốc – Đồng cảm – Thực hành1. 1.1.6. Giáo dục kỹ năng sống tại Ấn ĐộKNS được coi là năng lực giúp tăng cường sự lành mạnh về niềm tin vànăng lực của con người. Bao gồm những kỹ năng cơ bản như : – Giải quyết yếu tố – Tư duy phê phán – Tư duy phát minh sáng tạo – Giao tiếp – Quan hệ liên nhân cách – Ra quyết định hành động – Đàm phán – Tự nhận thức – Đối phó với stress và cảm hứng – Từ chối – Kiên định và hài hoà1. 1.1.7 Giáo dục Kỹ năng sống tại NepalKNS được coi như là một phương pháp để ứng phó hay là những kỹ năngcần thiết để sống sót. Cách phân biệt kỹ năng sống cũng có những điểm độc lạ. Chẳng hạn họ phân loại KNS thành : 11 – Kỹ năng sống sót : là những kỹ năng cần có để con người hoàn toàn có thể sống sót – Kỹ năng chung : Là những kỹ năng giúp con người tìm ra và giải quyếtđược những yếu tố của đời sống. – Kỹ năng di dời : là sự phối hợp của kỹ năng sống sót kỹ năng chungvà kỹ năng nghề nghiệp. Giúp con người nhanh gọn thích ứng với việc phảichuyển sang nghề nghiệp mới. 1.1.1. 8 Giáo dục kỹ năng sống tại PhilipineVới ý niệm coi kỹ năng sống là những năng lượng thích nghi và tính tíchcực của hành vi giúp cho cá thể hoàn toàn có thể ứng phó một cách hiệu suất cao với nhữngyêu cầu, những biến hóa, những thưởng thức và trường hợp của đời sống hàngngày và thế cho nên những kỹ năng thiết yếu khi giáo dục kỹ năng sống cho ngườihọc cần có là : – Tự nhận thức – Đồng cảm – Giao tiếp hiệu suất cao – Quan hệ liên nhân cách – Ra quyết định hành động – Tư duy phát minh sáng tạo – Tư duy phê phán – Ứng phó – Làm chủ cảm hứng – Kinh doanhNói Kết luận, với ý niệm và cách phân loại có những nét khác nhau. Nhưng tựu chung lại hầu hết những nước đều nhận thấy vai trò quan trọng của việchình thành kỹ năng sống cho người học. 121.1.2 Vấn đề giáo dục kỹ năng sống tại Nước Ta [ 3, tr. 42 ] Bắt đầu từ chương trình của UNICEF năm 1996 “ Giáo dục kỹ năng sốngđể bảo vệ sức khỏe thể chất và phòng chống HIV / AIDS cho thanh thiếu niên trong vàngoài nhà trường ”. Thuật ngữ kỹ năng sống được người Nước Ta biết đến. Lúcđó ý niệm về kỹ năng sống được trình làng trong chương trình này chỉ baogồm những kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng tiếp xúc, kỹ năng xác lập giá trị, kỹnăng ra quyết định hành động, kỹ năng đặt tiềm năng … nhằm mục đích vào những chủ đề giáo dục sứckhỏe do những chuyên viên Úc tập huấn. Đến quá trình hai với chương trình “ Giáo dục sống khỏe mạnh và kỹ năngsống ” thì ý niệm về kỹ năng sống cơ bản so với từng nhóm đối tượng người dùng đượcvận dụng phong phú hơn. Đó là những kỹ năng cần cho nghành nghề dịch vụ bảo vệ sức khỏe thể chất, phòng tránh những tệ nạn xã hội dành cho nhóm đối tượng người dùng có rủi ro tiềm ẩn cao đểđương đầu với những thử thách của xã hội, vận dụng để xử lý những vấn đềxã hội khác nhau trong trường hợp khác nhau của từng loại đối tượng người dùng. Sau hội thảo chiến lược “ Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống ” do UNESCO tài trợđược tổ chức triển khai năm 2003 thì khái niệm kỹ năng sống được hiểu với nội hàm đầy đủvà phong phú. Từ đó, những người làm công tác làm việc giáo dục Nước Ta đã hiểu đầy đủhơn về kỹ năng sống và nghĩa vụ và trách nhiệm phải giáo dục kỹ năng sống cho người học. 1.2 Những khái niệm cơ bản1. 2.1. Mục tiêu giáo dục mần nin thiếu nhi [ 6 ] Mục tiêu của giáo dục mần nin thiếu nhi là giúp trẻ nhỏ tăng trưởng về sức khỏe thể chất, tìnhcảm, trí tuệ, nghệ thuật và thẩm mỹ, hình thành những yếu tố tiên phong của nhân cách, chuẩn bịcho trẻ nhỏ vào lớp một. Giáo dục mần nin thiếu nhi tạo sự khởi đầu cho sự phát triểntoàn diện của trẻ, đặt nền tảng cho việc học ở những cấp học tiếp theo và cho việchọc tập suốt đời. Với những tiềm năng đơn cử là : Phát triển sức khỏe thể chất – Khoẻ mạnh, cân nặng và chiều cao tăng trưởng thông thường theo lứa tuổi. – Thực hiện được những hoạt động cơ bản một cách vững vàng, đúng tư thế. 13 – Có năng lực phối hợp những giác quan và hoạt động ; hoạt động uyển chuyển, biết xu thế trong khoảng trống. – Có kĩ năng trong một số ít hoạt động giải trí cần sự khôn khéo của đôi tay. – Có 1 số ít hiểu biết về thực phẩm và ích lợi của việc siêu thị nhà hàng với sức khoẻ. – Có một số ít thói quen, kĩ năng tốt trong nhà hàng siêu thị, giữ gìn sức khoẻ và đảmbảo sự bảo đảm an toàn của bản thân. Phát triển nhận thức – Ham hiểu biết, thích mày mò, tìm tòi những sự vật, hiện tượng kỳ lạ xung quanh. – Có năng lực quan sát, so sánh, phân loại, chú ý quan tâm, ghi nhớ có chủ định. – Có năng lực phát hiện và xử lý yếu tố đơn thuần. – Có năng lực diễn đạt sự hiểu biết bằng những cách khác nhau ( bằng hànhđộng, hình ảnh, lời nói ) với ngôn từ nói là đa phần. – Có một số ít hiểu biết bắt đầu về con người, sự vật, hiện tượng kỳ lạ xungquanh và 1 số ít khái niệm sơ đẳng về toán. Phát triển ngôn từ – Có năng lực lắng nghe, hiểu lời nói trong tiếp xúc. – Có năng lực miêu tả bằng nhiều cách khác nhau ( nét mặt, cử chỉ, điệubộ ). – Có năng lực diễn đạt rõ ràng và tiếp xúc có văn hoá trong cuộc sốnghàng ngày. – Có một số ít kĩ năng khởi đầu về việc đọc và viết. Phát triển tình cảm xã hội – Có ý thức về bản thân. – Có năng lực phân biệt và bộc lộ tình cảm với con người, sự vật, hiệntượng xung quanh. 14 – Có một số ít phẩm chất cá thể : mạnh dạn, tự tin, tự lực. – Có 1 số ít kĩ năng sống : tôn trọng, hợp tác, thân thiện, chăm sóc, san sẻ. – Thực hiện một số ít qui tắc, qui định trong hoạt động và sinh hoạt ở mái ấm gia đình, trường lớpmầm non, hội đồng thân mật. Phát triển thẩm mỹ và nghệ thuật – Có năng lực cảm nhận vẻ đẹp trong vạn vật thiên nhiên, đời sống và trong tácphẩm nghệ thuật và thẩm mỹ. – Có năng lực biểu lộ cảm hứng, phát minh sáng tạo trong những hoạt động giải trí âm nhạc, tạo hình. – Yêu thích, hào hứng tham gia vào những hoạt động giải trí nghệ thuật và thẩm mỹ. 1.2. 2. Đặc điểm tâm ý của trẻ lớp mẫu giáo lớn1. 2.2.1 Sự tăng trưởng cảm xúc, tri giác [ 13, tr. 176 ] Ở tuổi này sự tăng trưởng về cảm xúc và tri giác của trẻ tăng trưởng mạnhmẽ. – Đặc điểm lĩnh hội chuẩn cảm xúc của trẻ mẫu giáo : Lúc đầu trẻ lĩnh hộicác biến dạng cơ bản của mỗi loại thuộc tính, sau đó trẻ học phân biệt những biếndạng của những chuẩn. – Sự tăng trưởng hành vi tri giác của trẻ mẫu giáo : Dần chuyển hànhđộng khuynh hướng bên ngoài thành hành vi tri giác và tăng năng lực địnhhướng có mục tiêu, tính kế họach, có điều khiển và tinh chỉnh trong quy trình tri giác. 1.2.2. 2 Đặc điểm tăng trưởng trí nhớ của trẻ mẫu giáo lớn – Các hình thức ghi nhớ và nhớ lại có chủ định mở màn Open ở mẫugiáo nhỡ và tăng trưởng mạnh ở mẫu giáo lớn do hoạt động giải trí của trẻ ngày càngphức tạp và do nhu yếu của người lớn so với trẻ ngày càng cao. Loại ghi nhớ cóchủ định hầu hết của trẻ vẫn là ghi nhớ máy móc. 15 – Trí nhớ hoạt động : Trẻ hoàn toàn có thể từ từ bỏ hình mẫu, nhưng những lời chỉdẫn của người lớn vẫn có ý nghĩa. Động tác vững vàng hơn, nhanh và chính xáchơn, ít có những động tác thừa cơ thể. – Trí nhớ hình ảnh : Trí nhớ hình ảnh đặc biệt quan trọng tăng trưởng. Trẻ nhớ nhữngbức tranh mà trẻ đã vẽ, nhớ cảnh sắc mà trẻ đã du lịch thăm quan. Biểu tượng về thếgiới xung quanh ở trẻ đã kết nối với nhau, mang tính sinh động và mê hoặc. – Trí nhớ từ ngữ logic : Vốn tri thức, hình tượng và những khái niệm banđầu về quốc tế xung quanh, đỏi hỏi trẻ phải nắm vững ngôn từ, điều này giúptrẻ tăng trưởng trí nhớ từ ngữ logic. – Trí nhớ xúc cảm : Trẻ nhớ những cảm hứng vui buồn mà trẻ đã trải qua. Trí nhớ xúc cảm là một dạng của sự hồi tưởng giúp đời sống của trẻ thêm phongphú và tinh xảo. Sự hồi tưởng có tương quan đến tự ý thức của trẻ. Trong hồi tưởngcủa trẻ có những điều tương quan đến những thời gian quan trọng trong cuộc đờiđứa trẻ và trong quan hệ với người khác. Trí nhớ tác động ảnh hưởng đến quy trình hìnhthành nhân cách. 1.2.2. 3. Đặc điểm tăng trưởng tư duyỞ trẻ lớp mẫu giáo lớn, loại tư duy đa phần là tư duy trực quan hình ảnh. Khi xử lý yếu tố đặt ra, trẻ hay tâm lý dựa vào tư duy trực quan hình ảnh. Trẻ xử lý những yếu tố dựa vào những hình ảnh đơn cử vẫn thuận tiện hơn khi bàitoán đó được giao dưới hình thức những số lượng trừu tượng. 1.2.2. 4. Đặc điểm tăng trưởng tưởng tượngTrí tưởng tượng của trẻ mẫu giáo được tăng trưởng can đảm và mạnh mẽ. Tuổi mẫu giáolà quá trình phát cảm về sự tăng trưởng tưởng tượng. Trẻ rất hay tưởng tượng. Hìnhảnh tưởng tượng của trẻ bay bổng, tỏa nắng rực rỡ, giàu sắc tố xúc cảm và hay vi phạmhiện thực. – Tưởng tượng của trẻ vẫn hầu hết mang tính tái tạo, không chủ định. Tưởng tượng tái tạo của trẻ mang tính có chủ định và tích cực hơn. Tưởng tượngcó chủ đích dần được hình thành khi trẻ tự thiết kế xây dựng ý tưởng sáng tạo, lập kế họach và16thực hiện sáng tạo độc đáo ấy. Trẻ có năng lực tưởng tượng thầm trong óc không cần chỗdựa trực quan ở bên ngoài. Tưởng tượng phát minh sáng tạo dần được tăng trưởng. 1.2.2. 5. Vui chơi là hoạt động giải trí chủ yếu của trẻ mẫu giáoTrò chơi là hoạt động giải trí chủ yếu của mẫu giáo. Các đặc thù của game show ( đa phần là game show sắm vai có chủ đề ) mang tính ký hiệu – tượng trưng, phải cósự tham gia bắt buộc của tưởng tượng, giàu tính xúc cảm, mang tính tự nguyện, mang tính tự lập, trong game show, trẻ nhận cho mình một vai nào đó tương thích vớichủ đề chơi. Ở trẻ mẫu giáo lớn, chủ đề chơi của trẻ phong phú hơn, phản ánh cuộc sốnghiện thực xa hơn như “ shop ăn, hiệu cắt tóc ”, “ bệnh viện ”. Thời gian chơi củatrẻ lê dài đến hàng giờ và hoàn toàn có thể duy trì trong vài ngày. Khi thực thi những hànhđộng chơi, trẻ ưu tiên cho việc sử dụng những tác dụng của những hành vi đó chothành viên của game show. Các hành vi chơi của trẻ được rút gọn, được khái quáthóa và mang tính ước lệ. Nội dung chơi cơ bản của trẻ là tuân thủ những quy tắchành vi xã hội và những mối quan hệ xã hội tương thích với vai chơi. Trẻ thường cãinhau cái gì giống với trong thực tiễn, cái gì không. 1.2.2. 6. Đặc điểm tiếp xúc của trẻ mẫu giáo lớn – Đến cuối tuổi mẫu giáo, Open hình thức tiếp xúc cấp cao với ngườilớn – tiếp xúc nhân cách ngoài trường hợp. Trẻ tập trung chuyên sâu vào quốc tế con ngườichứ không phải quốc tế vật phẩm. Trong những cuộc trò chuyện của trẻ, những chủ đề vềcuộc sống, về việc làm của người lớn và những mối quan hệ qua lại của họ chiếmưu thế. Nhờ sự hướng dẫn của người lớn, trẻ nắm được những chuẩn mực đạođức, nhìn nhận những hành vi của mình và hành vi của mọi người xung quanh. Xuất hiện ở trẻ nhu yếu được hiểu biết và thông cảm lẫn nhau. – Từ 4-6 tuổi trẻ mẫu giáo có tiếp xúc việc làm trường hợp với bạn cùngtuổi. Nhu cầu tiếp xúc cơ bản của trẻ mẫu giáo là cải thiện sự hợp tác trong côngviệc và phối hợp những hành vi của mình với bạn để đạt mục tiêu. Đến năm thứ 5 của cuộc sống, trẻ thường hỏi về những thành tích của bạn, yên cầu mọi người công17nhận những thành tích của bản thân, vạch ra sự thất bại của trẻ khác và thử giấu đinhững thất bại của bản thân. – Ở trẻ mẫu giáo lớn hình thức tiếp xúc việc làm ngoài tính huống đượcphát triển. Hoạt động chơi của trẻ yên cầu trẻ phải thống nhất với bạn và vạch ra từtrước kế họach của bản thân. Ở trẻ Open hứng thú với nhân cách của bạn, không liên hệ gì với những hành vi của người bạn đó. Mặc dù những động cơ giao tiếpvề việc làm vẫn giữ vai trò chủ yếu, tuy nhiên trẻ đã trò chuyện với nhau về cácchủ đề nhận thức và nhân cách. – Các đặc thù tiếp xúc với những bạn được bộc lộ rõ ràng trong những chủđề trò chuyện của trẻ. Trẻ mẫu giáo bé thường nói về những gì trẻ nhìn thấy, haylà về cái mà trẻ có. Các chủ đề này được duy trì trong suốt tuổi mẫu giáo. Trẻmẫu giáo nhỡ thường cho bạn thấy là mình biết làm cái gì và làm được việc đónhư thế nào. Trẻ mẫu giáo lớn trẻ thường hay kể về bản thân, về cái gì trẻ thíchvà không thích, chúng san sẻ với bạn những nhận thức, “ kế hoạch cho tương lại ”. 1. 2.2.7 Đặc điểm tăng trưởng ngôn từ của trẻ mẫu giáo lớn – Các hình thức ngôn từ có cấu trúc ngặt nghèo được hình thành, tính biểucảm của ngôn từ được tăng trưởng. Đứa trẻ nắm được quy luật của tiếng mẹ đẻ, học cách sắp xếp những ý nghĩ của mình một cách logic, ngặt nghèo. Sự lập luậntrở thành giải pháp xử lý những trách nhiệm trí tuệ, ngôn từ trở thành côngcụ của tư duy và phương tiện đi lại của nhận thức. – Chức năng điều khiển và tinh chỉnh của ngôn từ được tăng trưởng bộc lộ trong sựhiểu những tác phẩm văn học, sự triển khai hướng dẫn và nhu yếu của người lớn. Chức năng lập kế hoạch của ngôn từ được hình thành khi xử lý những nhiệmvụ thực hành thực tế và trách nhiệm trí tuệ. – Ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo trở thành hoạt động giải trí đặc biệt quan trọng dưới những hìnhthức như : sự lắng nghe, đàm thoại, luận bàn và kể chuyện. Hoàn thiện quá trìnhphát triển ngữ âm, Open những tiền đề nắm vững ngữ pháp. 181.2.3. Khái niệm kỹ năng, kỹ năng sống1. 2.3.1 Khái niệm kỹ năngCác tác giả nghiên cứu về kỹ năng đã đưa ra những ý niệm khác nhauvề kỹ năng. Trong những từ điển, kỹ năng được định nghĩa như sau : – Kỹ năng là phương pháp triển khai hành vi đã được chủ thể tiếp thu, được bảo vệ bằng tập hợp những tri thức và kỹ xảo đã được lĩnh hội ” [ 32 ] – Kỹ năng là năng lực vận dụng những kiến thức và kỹ năng thu nhận được trong mộtlĩnh vực nào đó vào thực tiễn [ 19 ] – Kỹ năng là làm một cái gì đó, có được nhờ học tập, thử nghiệm – Kỹ năng là năng lực vận dụng những tri thức khoa học tích lũy được vàothực tiễn để hoàn toàn có thể triển khai tốt một việc gì đó. – Kỹ năng là phương pháp cơ bản để chủ thể triển khai hành vi, bộc lộ bởitập hợp những kỹ năng và kiến thức đã thu lượm được và những thói quen, kinh nghiệm tay nghề [ 1 ] Để hình thành kỹ năng những tác giả đã chỉ ra rằng : khi thực thi một hoạtđộng nào đó. Lúc đầu phải xác lập mục tiêu của nó, sau đó chỉ ra và giúpngười học hiểu được phương pháp triển khai hoạt động giải trí này, trình tự thực thi cáchoạt động và cung ứng những hình tượng về kỹ thuật triển khai xong chúng [ 5 ]. Tri thứcvề mục tiêu của hoạt động giải trí, những khái niệm, những hình tượng về những phương pháp đểđạt được tiềm năng cần được nắm vững trước khi thực thi những hành vi đểhình thành kỹ năng. Trong quy trình đó những khái niệm, hình tượng sẽ được mởrộng hơn, trở nên thâm thúy hơn, triển khai xong hơn. Người có kỹ năng về hành vi nào đó phải có tri thức về hành vi đó, hành vi theo đúng nhu yếu và đạt tác dụng trong mọi điều kiện kèm theo khác nhau. Theo K.I Platonov và G.G.Golubev kỹ năng là năng lượng của người thực hiệncông việc có hiệu quả với một chất lượng thiết yếu trong những điều kiện kèm theo mới vànhững khoảng chừng thời hạn tương ứng. Bất kỳ một kỹ năng nào cũng bao hàm trongđó cả hình tượng, khái niệm, vốn tri thức, sự tự kiểm tra, kiểm soát và điều chỉnh quá trìnhhoạt động. 19 – Tác giả Nguyễn Đức Hưởng đưa ra những chỉ báo nhìn nhận mức độ thuầnthục, thành thạo của kỹ năng như sau : + Mức độ hiểu biết về hành vi và những thao tác cấu thành hành vi + Tốc độ triển khai hành vi, thực thi những thao tác cấu thành hành vi + Tính uyển chuyển trong phối hợp những thao tác hành vi + Hiệu quả của hành độngKhi nhìn nhận kỹ năng cần phải sử dụng tổng hợp những chỉ báo trên. Nếu chỉsử dụng một chỉ báo đơn lẻ thì hoàn toàn có thể dẫn đến nhầm lẫn ( ví dụ điển hình như coingười có tri thức, hoặc người có hành vi nhanh, người thao tác có hiệu suất cao làngười có kỹ năng ) [ 10 ] Như vậy hoàn toàn có thể nói, kỹ năng là năng lực vận dụng kiến thức và kỹ năng vào trongthực tiễn để thực thi có tác dụng một hành vi nào đó. 1.2.3. 2 Khái niệm kỹ năng sống [ 18, tr. 8 ] Theo WHO ( tổ chức triển khai Y tế quốc tế ), kỹ năng sống là những kỹ năngmang tính tâm ý xã hội và kỹ năng về tiếp xúc được vận dụng trong những tìnhhuống hàng ngày để tương tác một cách có hiệu suất cao với người khác và giải quyếtmột cách có hiệu suất cao những yếu tố, những trường hợp của đời sống hàng ngày. Theo UNICEP ( quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc ), Kỹ năng sống lànhững hành vi đơn cử, bộc lộ năng lực quy đổi kiến thức và kỹ năng và thái độ thànhhành động thích ứng trong đời sống. Kỹ năng sống phải dựa trên nhận thức, tháiđộ và chuyển biến thành hành vi như một nhu yếu liên hoàn và có xu thế. Giáo dục dựa trên kỹ năng sống cơ bản là sự biến hóa trong hành vi hay một sựphát triển hành vi nhằm mục đích tạo sự cân đối giữa kiến thức và kỹ năng, thái độ và hành vi. Theo UNESCO ( tổ chức triển khai Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liênhợp quốc ), thì kỹ năng sống là năng lượng cá thể để thực thi không thiếu những chứcnăng và tham gia vào đời sống hàng ngày. 20N hư vậy, kỹ năng sống chính là những kỹ năng tâm ý – xã hội nhằm mục đích giúpcá nhân xử lý một cách có hiệu suất cao những nhu yếu, thách thực của cuộcsống đặt ra và thích nghi với những nhu yếu, thử thách đó. 1.2.4. Phân loại kỹ năng sống [ 3, tr. 10 ] Có nhiều cách phân loại kỹ năng sống Theo tổ chức triển khai Y tế Thế giới ( WHO ) gồm ba nhóm kỹ năng : – Nhóm kỹ năng nhận thức gồm những kỹ năng : + Tự nhận thức bản thân : gồm có sự nhìn nhận về bản thân, tính tình, mặt mạnh, mặt yếu, mong ước của tất cả chúng ta cũng như những điều mà chúng takhông thích. Ý thức về bản thân giúp tất cả chúng ta nhận ra stress hay thực trạng bị áplực để ứng phó kịp thời. Ý thức về bản thân là một tiền đề quan trọng để truyềnthông và tiếp xúc có hiệu suất cao cũng như để thấu cảm với người khác. + Kỹ năng phát minh sáng tạo : góp thêm phần vào việc lấy quyết định hành động và xử lý vấnđề bằng cách giúp tất cả chúng ta xem xét toàn bộ những giải pháp khác nhau và suy nghĩvề những hậu quả của việc ta hành vi hay không hành vi. + Kỹ năng ra quyết định hành động : Giúp tất cả chúng ta chọn những quyết định hành động tích cựcliên quan đến đời sống của tất cả chúng ta. + Kỹ năng xử lý yếu tố : giúp ta giải quyết và xử lý những khó khăn vất vả gặp phải mộtcách tích cực nhất. Những yếu tố gặp phải nếu không chăm sóc xử lý sẽgây ra stress, dẫn theo những trộn lẫn về đời sống và sức khoẻ. + Kỹ năng tư duy, + Kỹ năng xác lập giá trị, + Kỹ năng tự đặt tiềm năng. – Nhóm kỹ năng tương quan đến xúc cảm gồm những kỹ năng : + Kỹ năng phân biệt và chịu nghĩa vụ và trách nhiệm về cảm hứng của mình, + Kỹ năng kiềm chế và trấn áp được cảm hứng, 21 + Kỹ năng tự giám sát – tự kiểm soát và điều chỉnh cảm hứng của cá thể. – Nhóm kỹ năng xã hội : Nhóm này gồm những kỹ năng : [ 18, tr. 8 ] + Kỹ năng tiếp xúc và truyền thông online : Giúp con người thiết lập và duy trìcác mối quan hệ một cách tích cực, + Kỹ năng cảm thông : Là năng lực tưởng tượng thực trạng sống của ngườikhác. Cảm thông tất cả chúng ta đồng ý người kia dù họ rất khác với tất cả chúng ta. Điều này sẽ giúp cải tổ những mối tương tác xã hội. Đồng thời, cảm thông còngiúp tất cả chúng ta có thái độ tương thích với những người cần sự trợ giúp của tất cả chúng ta, + Kỹ năng thích ứng với xúc cảm của người khác : Đó là cách nhìn nhậncác xúc cảm nơi ta và người khác, ý thức rằng xúc cảm tác động ảnh hưởng đến hành vinhư thế nào và có năng lực ứng phó với xúc cảm một cách tương thích, + Kỹ năng san sẻ, kỹ năng hợp tác, + Kỹ năng gây thiện cảm Theo quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc ( UNICEF ) có 3 nhóm sau đây : – Nhóm kỹ năng tự nhận thức và sống với chính mình. Nhóm này gồm : + Kỹ năng tự nhận thức và nhìn nhận bản thân, + Kỹ năng thiết kế xây dựng tiềm năng đời sống, + Kỹ năng bảo vệ bản thân, + Kỹ năng kiên cường, + Kỹ năng đương đầu với xúc cảm, + Kỹ năng đương đầu với stress … – Nhóm kỹ năng nhận thức và sống với người khác. Nhóm này có cáckỹ năng : + Kỹ năng thiết lập quan hệ, 22 + Kỹ năng hợp tác và thao tác nhóm : Biểu lộ sự tôn trọng so với sựđóng góp và phong thái riêng của người khác. Đồng thời biết nhìn nhận khả năngvà sự góp phần của bản thân cho nhóm. + Kỹ năng thương lượng : Đây không chỉ là thương lượng với người khácmà còn thương lượng với chính bản thân mình. Để thương lượng với người khácmột cách có hiệu suất cao, người ta cần biết rõ mình muốn gì trong đời sống, nắmchắc những giá trị và niềm tin của bản thân để hoàn toàn có thể nói KHÔNG với những hànhvi có hại hay những cám dỗ có rủi ro tiềm ẩn cao, + Kỹ năng đứng vững trước những áp lực đè nén xấu đi. – Nhóm kỹ năng ra quyết định hành động và thao tác hiệu suất cao : + Kỹ năng nghiên cứu và phân tích yếu tố, + Kỹ năng nhận thức thực tiễn, ra quyết định hành động, ứng xử và xử lý yếu tố, + Kỹ năng tư duy phát minh sáng tạo … Theo tổ chức triển khai Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên hợp quốc ( UNESCO ) gồm hai nhóm sau : – Nhóm kỹ năng chung : nhóm này gồm những kỹ năng cơ bản mà mỗi cánhân đều hoàn toàn có thể có để thích ứng với đời sống chung gồm có những kỹ năng : kỹnăng nhận thức, kỹ năng tương quan đến cảm hứng và những kỹ năng cơ bản về xã hội. – Nhóm kỹ năng chuyên biệt. Nhóm này gồm những kỹ năng được thể hiệntrong những nghành nghề dịch vụ đơn cử của đời sống xã hội như : Các kỹ năng về sức khỏe thể chất vàdinh dưỡng, kỹ năng tương quan đến giới và giới tính, kỹ năng về những yếu tố xãhội như ma túy, HIV – AIDS, những kỹ năng tương quan đến môi trường tự nhiên vạn vật thiên nhiên, những yếu tố đấm đá bạo lực, rủi ro đáng tiếc, những kỹ năng tương quan đến đời sống mái ấm gia đình, môitrường hội đồng, tự do và xử lý xung đột, phòng tránh kinh doanh trẻ emvà phụ nữ … 23 Tổ chức ESCAP ( Hội đồng kinh tế tài chính xã hội châu Á Thái BìnhDương của Liên Hiệp Quốc ) Theo tổ chức triển khai này họ phân loại kỹ năng sống thành 3 dạng – Kỹ năng sống để tăng trưởng cá thể, – Kỹ năng sống để tạo mối quan hệ với người khác, – Kỹ năng công nghệ tiên tiến theo ý kiến đề nghị của những đại diện thay mặt trẻ tại một hội nghị. Họ nhấn mạnh vấn đề đến kỹ năng công nghệ thông tin. Dù có cách sắp xếp khác nhau cho tương thích với từng mục tiêu của những tổchức, nhưng toàn bộ đều dựa trên 10 kỹ năng sống cơ bản như : – Lấy quyết định hành động – Giải quyết yếu tố – Suy nghĩ phát minh sáng tạo – Suy nghĩ có phán đoán – Truyền thông hiệu quả – Giao tiếp giữa người với người – Ý thức về bản thân – Khả năng thấu cảm – Ứng phó với xúc cảm – Ứng phó với stress1. 2.5. Kỹ năng sống của trẻ lớp mẫu giáo lớn [ 7 ] 1.2.5. 1 Kỹ năng hiểu biết và chăm nom sức khỏe thể chất, dinh dưỡng – Biết một số ít hoạt động giải trí của bản thân trẻ trong hoạt động và sinh hoạt hàng ngày có lợicho sức khỏe thể chất, sự lớn lên và tăng trưởng của khung hình – Kể được tên 1 số ít thực phẩm hoặc món ăn cần có trong bữa ăn hàng ngày – Biết 1 số ít hành vi ẩm thực ăn uống có hại cho sức khỏe24 – Biết thuốc lá có hại cho sức khỏe thể chất và biểu lộ thái độ không đồng tìnhvới người hút thuốc ; – Biết che miệng khi ho, hắt hơi, ngáp1. 2.5.2 Kỹ năng chăm nom vệ sinh cá thể – Biết rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh và khi tay bẩn ; – Có thói quen rửa mặt, đánh răng hàng ngày ; – Biết chọn quần áo tương thích với thời tiết ; – Giữ đầu tóc ngăn nắp, quần áo thật sạch. 1.2.5. 3 Kỹ năng giữ bảo đảm an toàn cá thể – Biết kêu cứu khi gặp nguy khốn ; – Nhận biết và không tự ý sử dụng những vật phẩm gây nguy khốn – Không đi theo và nhận quà của người lạ khi chưa được người thân trong gia đình được cho phép ; – Biết ý nghĩa và có ý thức thực thi theo lao lý của 1 số ít biển báogiao thông, biển báo nơi nguy hại. 1.2.5. 4 Kỹ năng nhận thức về bản thân – Nói được họ và tên, địa chỉ nhà hoặc số điện thoại cảm ứng, tên bố, mẹ của mình ; – Biết mình là trai hay gái và có ứng xử tương thích ; – Nói được năng lực của bản thân – Biết đề xuất kiến nghị những game show và hoạt động giải trí biểu lộ sở trường thích nghi của cá thể. 1.2.5. 5 Kỹ năng tự tin và tự trọng – Chấp nhận và cố gắng nỗ lực triển khai việc làm được giao ; – Hài lòng khi triển khai xong việc làm ; – Chủ động và độc lập trong 1 số ít hoạt động giải trí đơn thuần hằng ngày – Mạnh dạn bày tỏ quan điểm của bản thân. 25
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Nghiên Cứu






