NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM.DOC

Ngày đăng: 07/09/2012, 14:54

kinh tế. Quá trình cải cách kinh tế là thử thách lớn nhất đối với tất cả các dân tộc và các chế độ muốn thay đổi mô hình hoạt động kinh tế của mình. nhiều xu hướng khác nhau, song một chủ đề chung là chuyển nền kinh tế sang định hướng thị trường. Các nhà lãnh đạo chính trị nhiều nơi trên thế giới đã đi đến kết luận rằng: nhìn chung, thị trường đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng một cách vững chắc. Tuy nhiên, cách thức để đạt được mục tiêu đó cũng rất khác nhau. Và cũng đây, mỗi nước xẽ tìm cho mình một con đường đi lên, dựa trên nền tảng lịch sử, văn hoá dân tộc.Với xu hướng phát triển tất yếu của thời đại, Việt Nam cũng chọn cho mình một con đường phát triển kinh tế. Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã chọn cho đất nước của mình con đường phát triển nền kinh tế thị trường sự quản lí của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là con đường phát triển tất yếu phù hợp với những điều kiện khách quan vốn có. Cũng xác định, việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ đưa nước ta thoát khỏi tình trạng lạc hậu, vươn lên một nền kinh tế hiện đại, ngang tầm với các nước trên thế giới, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. 1II. Khái niệm về kinh tế thị trường: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo chế thị trường sự quản lí của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế thị trường là trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hoá. Hay còn nói, kinh tế thị trườngkinh tế hàng hoá vận động theo chế thị trường, trong đó toàn bộ các yếu tố “đầu vào” và “đầu ra” của sản xuất đều thông qua thị trường. Điều kiện ra đời và tồn tại của kinh tế hàng hoá cũng như các trình độ phát triển của nó do sự phát triển của lực lượng sản xuất tạo ra. Kinh tế hàng hoá phát triển hai trình độ khác nhau:- giai đoạn thấp, còn gọi là kinh tế hàng hoá giản đơn, dựa trên sở hữu tư nhân nhỏ về tư liệu sản xuất, kết hợp với sức lao động cá nhân, trình độ lao động thấp, năng suất lao động không cao.- Giai đoạn cao, kinh tế hàng hoá phát triển với qui mô lớn dựa trên sở sản xuất lớn bằng máy móc, năng suất lao động cao, bao gồm kinh tế hàng hoá TBCN và kinh tế hàng hoá XHCN. Kinh tế hàng hoá qui mô lớn vận động theo yêu cầu các qui luật kinh tế khách quan trên thị trường người ta gọi là nền kinh tế thị trường.Kinh tế hàng hoá và kinh tế thị trường về bản chúng cùng nguồn gốc và bản chất nhưng không đồng nhất với nhau. Chúng khác nhau về trình độ phát triển.Cơ sở của thị trường là sự phân công lao động xã hội, trình độ và qui mô thị trường gắn liền với trình độ phát triển của phân công lao động xã hội, sản xuất và sức mua của xã hội. Theo Mác, “thị trường nghĩa là lĩnh vực trao đổi”. Lê Nin cho rằng, “khái niệm thị trường hoàn toàn không thể tách rời khái niệm phân công lao động xã hội … Hễ đâu và khi nào phân công 2xã hội và sản xuất hàng hoá thì đó và khi ấy thị trường. Qui mô của thị trường gắn chặt với trình độ chuyên môn hoá”.Sau hơn 30 năm xây dựng nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, hơn 10 năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành xây dựng nền kinh tế vận hành theo chế thị trường, sự quản lí của Nhà nước theo định hướng XHCN. III- NHỮNG HƯỚNG XHCN VIỆT NAM.1.Đặc tính chung thống nhất của kinh tế thị trường. Thị trường những đặc trưng chủ yếu sau :Thứ nhất, các chủ thể kinh tế tính độc lập, quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh, nhưng sự cạnh tranh gay gắt giữa các chủ thể kinh tế tham gia thị trường nhằm giành giật những điều kiện kinh doanh thuận lợi. Trong đó, tất yếu sẽ người được và người thua. Tuy nhiên, cần phân biệt cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh.Thứ hai, giá cả do thị trường quyết định. Giá cả là phạm trù kinh tế trung tâm, là công cụ quan trọng thông qua cung cầu để kích thích và điều tiết hoạt động kinh tế của các chủ thể kinh tế tham gia thị trường. Sự biến động của cung cầu kéo theo sự biến động của giá cả thị trường và ngược lại, giá cả thị trường cũng điều tiết cung cầu. Hệ thống thị trường được phát triển đầy đủ và tác dụng làm sở cho việc phân phối các nguồn lực kinh tế vào trong các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế.Thứ ba, nền kinh tế vận động theo những qui luật vốn của kinh tế thị trường như qui luật giá trị, qui luật cung cầu, qui luật cạnh tranh…Sự tác động của các qui luật đó hình thành chế tự điều tiết của nền kinh tế.Thứ tư, đối với nền kinh tế thị trường hiện đại thì còn sự điều tiết vĩ mô của nhà nước thông qua pháp luật kinh tế, kế hoạch hoá, các chính sách kinh tế. Tính hiệu quả của nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải một thị trường 3hoàn chỉnh – thị trường xã hội thống nhất, là một thị trường đồng bộ giữa các loại thị trường ( thị trường lực lượng sản xuất, tư liệu tiêu dùng, vốn, kĩ thuật, sức lao động… ) và luật pháp thương mại chi phối.Có ba hình thái thị trường : Một là, thị trường cạnh tranh hoàn hảo là thị trường nhiều người bán và nhiều người mua, sản phẩm đồng nhất, gia nhập hoặc rời bỏ thị trường rất dễ dàng và doanh nghiệp là người chấp nhận giá; Hai là, thị trường độc quyền là thị trường chỉ một người bán, sản phẩm là độc nhất, gia nhập hay rời bỏ thị trường là khó khăn; Ba là, thị trường cạnh tranh không hoàn hảo là thị trường độc quyền hai người hay độc quyền nhóm, cạnh tranh tính độc quyền.Trong nền kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường vận động theo chế thị trường sự quản lí của nhà nước, căn cứ vào thị trường, các doanh nghiệp sẽ quyết định sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai với số lượng là bao nhiêu. 2. Tính đặc thù của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam là nền kinh tế thị trường XHCN nhưng chưa hoàn toàn là nền kinh tế thị trường XHCN. Bởi vì, chúng ta còn đang trong thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, còn sự đan xen và đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, vừa có, vừa chưa đầy đủ yếu tố XHCN. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam, một mặt vừa những tính chất chung của nền kinh tế thị trường. Mặt khác, do dựa trên sở và được dẫn dắt, chi phối bởi nguyên tắc và bản chất của CNXH, cho nên, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nước ta những đăc trưng bản chất dưới đây : 42.1. Về mục tiêu phát triển kinh tế thị trường: Trong nhiều đặc tính thể làm tiêu thức để phân biệt nền kinh tế thị trường nước ta với nền kinh tế thị trường khác, phải nói đến mục đích chính trị, mục tiêu kinh tế xã hội mà nhà nước và nhân dân ta đã lựa chọn làm định hướng chi phối sự vân động phát triển nền kinh tế.Mục tiêu hàng đầu của phát triển kinh tế thị trường nước ta là giải phóng sức sản xuất, động viên mọi nguồn lực trong nước và ngoài nước để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng sở vật chất của CNXH, nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội, cải thiện từng bước đời sống nhân dân. Nước ta thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng, lấy sản xuất gắn liền với cải thiện đời sống nhân dân, tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, khuyến khích làm giàu hợp pháp, gắn liền với xoá đói giảm nghèo.2.2. Nền kinh tế thị trường gồm nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.Việc xác lập vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước là vấn đề tính nguyên tắc và là sự khác biệt tính định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường nước ta đã quyết định kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo trong cấu kinh tế nhiều thành phần. Bởi lẽ mỗi một chế độ xã hội đều một sở kinh tế tương ứng của nó. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới – XHCN nước ta.Mỗi thành phần kinh tế trong thời kì quá độ lên CNXH bản chất kinh tế – xã hội riêng, chịu sự tác động của các qui luật kinh tế riêng, nên bên cạnh sự thống nhất còn những khác biệt và mâu thuẫn khiến cho nền kinh tế thị trường nước ta khả năng phát triển theo những hướng khác nhau. Chúng ta xác định, ngoài việc củng cố và phát triển các thành phần kinh tế 5dựa trên chế độ công hữu, chúng ta còn phải khuyến khích các thành phần kinh tế dựa trên chế độ tư hữu phát triển để hình thành nền kinh tế thị trường rộng lớn. Các đơn vị kinh tế thuộc mọi thành phần đều bình đẳng với nhau trước pháp luật, vừa hợp tác vừa cạnh tranh nhau để phát triển. Tuy nhiên, vì dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất nên chúng không tránh khỏi tính tự phát chạy theo lợi nhuận đơn thuần, nảy sinh những hiện tượng tiêu cực làm tổn hại đến lợi ích chung của xã hội. Vì vậy, kinh tế nhà nước phải được xây dựng và phát triển hiệu quả để thực hiện tốt vai trò của mình.2.3. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện nhiều hình thúc phân phối theo thu nhập, trông đó lấy phân phối theo lao động là chủ yếu. Mỗi chế độ xã hội chế độ phân phối tương ứng với nó. Chế độ phân phối do quan hệ sản suất thống trị, trước hết là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất. Phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong thời kì quá độ lên CNXH, nhiều cế độ sở hữu cùng tồn tại. Mỗi chế độ sở hữu nguyên tắc phân phối tương ứngvới nó, vì thế trong thời kì quá độ tồn tại cấu đa dạng về hình thức phân phối theo thu nhậpTrong chế thị trường nước ta, tồn tại các hình thức phân phối theo thu nhập sau : phân phối theo lao động, theo nguồn vốn, theo giá trị sức lao động, phân phối thông qua các quĩ phúc lợi xã hội. Sự khác biệt bản giữa kinh tế thị trường định hướng XHCN với kinh tế thị trường TBCN là chỗ xác lập chế độ công hữu và thực hiện phân phối theo lao động. Đây là kinh tế của chế độ công hữu. Vì thế phân phối theo lao động được xác định là hình thức phân phối chủ yếu trong thời kì quá độ lên CNXH.6Nước ta xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN. Phát triển kinh tế thị trường là phương tiện để đạt được mục tiêu bản xây dựng XHCN, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Vì vậy mỗi bước tăng trưởng kinh tế nước ta phải gắn liền với cải thiện đời sống nhân dân, với tiến bộ và công bằng xã hội.2.4. chế vận hành nền kinh tế chế thị trường sự quản lí của nhà nước XHCN. chế thị trường nhiều mặt tích cực nhưng cũng không ít những mặt khuyết tật. Trong điều kiện ngày nay, hầu như tất cả các nền kinh tế của các nước trên thế giới đều sự quản lí của nhà nước để nhằm hạn chế những mặt khuyết tật đó. Tức là chế vận hành nền kinh tế của tất cả các nước đều là chế thị trường sự quản lí của nhà nước. Nhưng điều khác biệt trong chế vận hành nền kinh tế của ta là chỗ Nhà nước quản lí nền kinh tế không phải là nhà nước tư sản, mà là nhà nước XHCN. Sự quản lí của Nhà nước XHCN nhằm đưa nền kinh tế đi theo đúng hướng XHCN, vì vậy phải tăng cường vai trò quản lí của nhà nước thông qua các công cụ quản lí vĩ mô.Nhà nước quản lí nền kinh tế thị trường định hướng XHCN theo nguyên tắc kết hợp kế hoạch với thị trường. Đây là hai phương tiện khác nhau để điều tiết nền kinh tế. Kế hoạch là sự điều chỉnh ý thức của chủ thể quản lí đối với nền kinh tế, còn chế thị trường là sự tự điều tiết của bản thân nền kinh tế. Kế hoạch và thị trường cần được kết hợp với nhau trong chế vận hành nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, được thực hiện cả tầm vi mô lẫn vĩ mô. Thị trường là căn cứ để xây dựng và kiểm tra các kế hoạch phát triển kinh tế. Những mục tiêu và biện pháp mà kế hoạch nêu ra muốn được thực hiện hiệu quả phải xuất phát từ yêu cầu của thị 7trường. Mặt khác, muốn cho thị trường hoạt động phù hợp với định hướng XHCN thì nó phải được hướng dẫn và điều tiết bởi kế hoạch. 2.5. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN cũng là nền kinh tế mở, hội nhập.Đặc điểm này phản ánh sự khác biệt giữa nền kinh tế thị trường định hướng XHCN mà chúng ta đang xây dựng với nền kinh tế đóng khép kín trước đổi mới, đồng thời phản ánh xu hướng hội nhập của nền kinh tế nước ta trong điều kiện toàn cầu hoá nền kinh tế.Do sự tác động của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, Vì vậy, mở cửa kinh tế, hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới là tất yếu đối với nước ta nhằm thu hút vốn, khoa học công nghệ hiện đại, kinh nghiệm tiên tiến của các nước để khai thác tiềm năng và thế mạnh của nước ta, thực hiện phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực để xây dựng và phát triển kinh tế thị trường hiện đại theo kiểu rút ngắn. Thực hiện mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại theo hướng đa phương hoá các hình thúc đối ngoại, gắn thị trường trong nước với thị trường trong nước và thế giới, nhưng vẫn giữ được độc lập chủ quyền và bảo vệ được lợi ích quốc gia, dân tộc trong quan hệ kinh tế đối ngoại.Trong thời gian tới, vẫn tiếp tục mở rộng đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại. Phải đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu là hướng ưu tiên và là trọng điểm của kinh tế đối ngoại, chủ động và tích cực thâm nhập thị trường thế giới, mở rộng thị phần trên các thị trường quen thuộc, tranh thủ hội để mở ra thị trường mới, cải thiện môi trường đầu tư và bằng nhiều hình thức thu hút vồn đầu tư của nước ngoài.8II – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN kinh tế Việt Nam.1.1. Trình độ phát triển kinh tế thị trường nước ta còn giai đoạn sơ khai.Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển từ nền kinh tế kém phát triển mang nặng tính tự cấp tự túc sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo chế thị trường. Đây thể hiện thực trạng nền kinh tế yếu kém của nước ta khi chuyển sang kinh tế thị trường. Điều đó được biểu hiện : sở vật chất, kĩ thuật còn trình độ thấp bên cạnh một số lĩnh vực, một số sở kinh tế đã được trang bị kĩ thuật và công nghệ hiện đại thì vẫn còn nhiều ngành kinh tế máy móc cũ kĩ, công nghệ lạc hậu, lao động thủ công vẫn chiếm tỉ trọng lớn trong tổng số lao động xã hội. Do đó, năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất của nước ta còn thấp so với khu vực và thế giới. Kết cấu hạ tầng đường giao thông, bến cảng, hệ thống thông tin liên lạc… vẫn còn lạc hậu, chưa phát triển dẫn đến sự giao lưu giữa các vùng, các dịa phương bị chia cắt, tách biệt nhau nên không thể khai thác hết được tiềm năng, thế mạnh của các vùng, các địa phương. Do sở vật chất kĩ thuật còn trình độ thấp làm cho phân công lao động kém phát triển, chuyển dịch cấu chậm. Nông nghiệp vẫn chiếm phần lớn lực lượng lao động, khoảng 70%, nhưng chỉ sản xuất khoảng 26% GDP, các ngành công nghệ cao chiếm tỉ trọng thấp.9 Kả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp còn yếu thị trường trong nước cũng như thị trường nước ngoài. Do sở vật chất, kĩ thuật và công nghệ lạc hậu, năng suất lao động thấp. Do đó, khối lượng hàng hoá nhỏ bé, chủng loại hàng hoá chưa nhiều, chất lượng hàng hoá chưa cao, giá cả cao, vì thế khả năng cạnh tranh yếu.1.2. Thị trường dân tộc thống nhất đang trong quá trình hình thành chưa đồng bộ . Giao thông vận tải kém phát triển nên chưa lôi cuốn được tất cả các vùng trong nước vào một mạng lưới lưu thông thống nhất.Thị trường hàng hoá – dịch vụ đã hình thành nhưng còn hạn hẹp và còn nhiều hiện tượng tiêu cực : hàng giả, hàng nhập lậu, hàng nhái nhãn hiệu…Thị trường hàng hoá sức lao động mới hình thành. Nét nổi bật của thị trường này là sức cung về lao động tay nghề nhỏ hơn sức cầu, trong khi đó cung về lao động giản đơn lại vượt quá cầu, nhiều người sức lao động không tìm được việc làm.Thị trường tiền tệ, thị trường vốn nhiều tiến bộ nhưng vẫn còn nhiều trắc trở, thủ tục rườm rà, nhiều vướng mắc. Thị trường chứng khoán ra đời nhưng ít doanh nghiệp đủ điều kiện tham gia.1.3. Nhiều thành phần kinh tế tham gia thị trường. Do vậy, chính vì điều đó, nền kinh tế nước ta nhiều loại hình sản xuất hàng hoá cùng tồn tại, đan xen nhau, trong đó sản xuất hàn hoá nhỏ phân tán còn phổ biến.10[…]… theo chế thị trường, sự quản lí của Nhà nước theo định hướng XHCN. III- NHỮNG ĐẶC ĐIỂM BẢN CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN VIỆT NAM.1 .Đặc tính chung thống nhất của kinh tế thị trường. Thị trường những đặc trưng chủ yếu sau :Thứ nhất, các chủ thể kinh tế tính độc lập, quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh, nhưng sự cạnh tranh gay gắt giữa các chủ thể kinh tế tham… tố XHCN. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam, một mặt vừa những tính chất chung của nền kinh tế thị trường. Mặt khác, do dựa trên sở và được dẫn dắt, chi phối bởi nguyên tắc và bản chất của CNXH, cho nên, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nước ta những đăc trưng bản chất dưới đây : 4 Nước ta xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN. … tế thị trường gồm nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.Việc xác lập vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước là vấn đề tính ngun tắc và là sự khác biệt tính bản chất giữa kinh tế thị trường định hướng XHCN với kinh tế thị trường TBCN. Tính định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường nước ta đã quyết định kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo trong cấu kinh tế. .. sự quản lí của nhà nước, căn cứ vào thị trường, các doanh nghiệp sẽ quyết định sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai với số lượng là bao nhiêu. 2. Tính đặc thù của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam là nền kinh tế thị trường XHCN nhưng chưa hoàn tồn là nền kinh tế thị trường XHCN. Bởi vì, chúng ta… kinh tế thị trường định hướng XHCN với kinh tế thị trường TBCN là chỗ xác lập chế độ công hữu và thực hiện phân phối theo lao động. Đây là đặc trưng bản chất của kinh tế thị trường định hướng XHCN, nó là hình thức thực hiện về mặt kinh tế của chế độ công hữu. Vì thế phân phối theo lao động được xác định là hình thức phân phối chủ yếu trong thời kì quá độ lên CNXH.6 Theo Quyết định số 64 của Thủ…2.1. Về mục tiêu phát triển kinh tế thị trường: Trong nhiều đặc tính thể làm tiêu thức để phân biệt nền kinh tế thị trường nước ta với nền kinh tế thị trường khác, phải nói đến mục đích chính trị, mục tiêu kinh tế xã hội mà nhà nước và nhân dân ta đã lựa chọn làm định hướng chi phối sự vân động phát triển nền kinh tế. Mục tiêu hàng đầu của phát triển kinh tế thị trường nước ta là giải phóng sức… phần. Bởi lẽ mỗi một chế độ xã hội đều một sở kinh tế tương ứng của nó. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới – XHCN nước ta.Mỗi thành phần kinh tế trong thời kì q độ lên CNXH bản chất kinh tế – xã hội riêng, chịu sự tác động của các qui luật kinh tế riêng, nên bên cạnh sự thống nhất cịn những khác biệt và mâu thuẫn khiến cho nền kinh tế thị trường. .. chỉnh ý thức của chủ thể quản lí đối với nền kinh tế, còn chế thị trường là sự tự điều tiết của bản thân nền kinh tế. Kế hoạch và thị trường cần được kết hợp với nhau trong chế vận hành nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, được thực hiện cả tầm vi mô lẫn vĩ mô. Thị trường là căn cứ để xây dựng và kiểm tra các kế hoạch phát triển kinh tế. Những mục tiêu và biện pháp mà kế hoạch nêu ra… nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, trong khi công nghệ của các ngành Công nghiệp nước ta phần lớn còn lạc hậu, chậm được đổi mới, năng suất lao động thấp, chất lượng sản 18 trường. Mặt khác, muốn cho thị trường hoạt động phù hợp với định hướng XHCN thì nó phải được hướng dẫn và điều tiết bởi kế hoạch. 2.5. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN cũng là nền kinh tế mở, hội nhập. Đặc điểm. .. chất lượng và sức cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp; giảm ô nhiễm môi trường; sử dụng tiết kiệm và hiệu 21 II – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN kinh tế Việt Nam.1.1. Trình độ phát triển kinh tế thị trường nước ta còn giai đoạn sơ khai.Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển từ nền kinh tế kém phát triển mang nặng. Tính đặc thù của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là nền kinh tế thị trường. tính bản chất giữa kinh tế thị trường định hướng XHCN với kinh tế thị trường TBCN. Tính định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường nước ta đã quyết định kinh

NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM I__Lời Mở ĐầuChúng ta đang sống trong một thời đại cách mạng công nghiệp. Quanh ta khắp nơi trên thế giới đã và đang diễn ra quá trình chuyển đổi trong đời sốngtế. Quá trình cải cáchlà thử thách lớn nhất đối với tất cả các dân tộc và các chế độ muốn thay đổi mô hình hoạt độngmình.nhiều xukhác nhau, songmột chủ đề chung là chuyển nềnsangtrường. Các nhà lãnh đạo chính trịnhiều nơi trên thế giới đã đi đến kết luận rằng: nhìn chung,đảm bảo cho nềntăngmột cách vững chắc. Tuy nhiên, cách thức để đạt được mục tiêu đó cũng rất khác nhau. Và cũngđây, mỗi nước xẽ tìm cho mình một con đường đi lên, dựa trên nền tảng lịch sử, văn hoá dân tộc.Với xuphát triển tất yếuthời đại,Nam cũng chọn cho mình một con đường phát triểntế. Đảng, Nhà nước và nhân dânNam đã chọn cho đất nướcmình con đường phát triển nềnsự quản líNhà nước theoxã hội chủ nghĩa. Đó là con đường phát triển tất yếu phù hợp vớiđiều kiện khách quan vốn có. Cũng xác định, việc phát triểnxã hội chủ nghĩa sẽ đưa nước ta thoát khỏi tình trạng lạc hậu, vươn lên một nềnhiện đại, ngang tầm với các nước trên thế giới, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. 1II. Khái niệm vềtrường:xã hội chủ nghĩa thực chất là nềnhàng hoá nhiều thành phần, vận động theochếsự quản línhà nước, theoxã hội chủ nghĩa.là trình độ phát triển caohàng hoá. Hay còn nói,làhàng hoá vận động theochếtrường, trong đó toàn bộ các yếu tố “đầu vào” và “đầu ra”sản xuất đều thông quatrường. Điều kiện ra đời và tồn tạihàng hoá cũng như các trình độ phát triểnnó do sự phát triểnlực lượng sản xuất tạo ra.hàng hoá phát triểnhai trình độ khác nhau:-giai đoạn thấp, còn gọi làhàng hoá giản đơn, dựa trên sở hữu tư nhân nhỏ về tư liệu sản xuất, kết hợp với sức lao động cá nhân, trình độ lao động thấp, năng suất lao động không cao.- Giai đoạn cao,hàng hoá phát triển với qui mô lớn dựa trênsở sản xuất lớn bằng máy móc, năng suất lao động cao, bao gồmhàng hoá TBCN vàhàng hoá XHCN.hàng hoá qui mô lớn vận động theo yêu cầu các qui luậtkhách quan trênngười ta gọi là nềntrường.Kinhhàng hoá vàvềchúngcùng nguồn gốc vàchấtkhông đồng nhất với nhau. Chúng khác nhau về trình độ phát triển.Cơ sởlà sự phân công lao động xã hội, trình độ và qui môgắn liền với trình độ phát triểnphân công lao động xã hội, sản xuất và sức muaxã hội. Theo Mác, “thịnghĩa là lĩnh vực trao đổi”. Lê Nin cho rằng, “khái niệmhoàn toàn không thể tách rời khái niệm phân công lao động xã hội … Hễđâu và khi nàophân công 2xã hội và sản xuất hàng hoáđó và khi ấytrường. Qui môgắn chặt với trình độ chuyên môn hoá”.Sau hơn 30 năm xây dựng nềnkế hoạch hoá tập trung, hơn 10 năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành xây dựng nềnvận hành theochếtrường,sự quản líNhà nước theoXHCN. III- ĐẶC ĐIỂM BẢN CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNHNAM.1.Đặc tính chung thống nhấttrường.trưng chủ yếu sau :Thứ nhất, các chủ thểtính độc lập,quyền tự chủ trong sản xuấtdoanh,sự cạnh tranh gay gắt giữa các chủ thểtham gianhằm giành giậtđiều kiệndoanh thuận lợi. Trong đó, tất yếu sẽngười được và người thua. Tuy nhiên, cần phân biệt cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh.Thứ hai, giá cả doquyết định. Giá cả là phạm trùtrung tâm, là công cụ quan trọng thông qua cung cầu để kích thích và điều tiết hoạt độngcác chủ thểtham giatrường. Sự biến độngcung cầu kéo theo sự biến độnggiá cảvà ngược lại, giá cảcũng điều tiết cung cầu. Hệ thốngđược phát triển đầy đủ vàtác dụng làmsở cho việc phân phối các nguồn lựcvào trong các ngành, các lĩnh vựcnềntế.Thứ ba, nềnvận động theoqui luật vốnnhư qui luật giá trị, qui luật cung cầu, qui luật cạnh tranh…Sự tác độngcác qui luật đó hình thànhchế tự điều tiếtnềntế.Thứ tư, đối với nềnhiện đạicònsự điều tiết vĩ mônhà nước thông qua pháp luậttế, kế hoạch hoá, các chính sáchtế. Tính hiệu quảnềnđòi hỏi phảimột3hoàn chỉnh –xã hội thống nhất, là mộtđồng bộ giữa các loạilực lượng sản xuất, tư liệu tiêu dùng, vốn, kĩ thuật, sức lao động… ) vàluật pháp thương mại chi phối.Có ba hình thái: Một là,cạnh tranh hoàn hảo lànhiều ngườivà nhiều người mua, sản phẩm đồng nhất, gia nhập hoặc rời bỏrất dễ dàng và doanh nghiệp là người chấp nhận giá; Hai là,độc quyền làchỉmột người bán, sản phẩm là độc nhất, gia nhập hay rời bỏlà khó khăn; Ba là,cạnh tranh không hoàn hảo làđộc quyền hai người hay độc quyền nhóm, cạnh tranhtính độc quyền.Trong nềnhàng hoá,vận động theochếsự quản línhà nước, căn cứ vàotrường, các doanh nghiệp sẽ quyếtsản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai với số lượng là bao nhiêu. 2. Tínhthùnềnxã hội chủ nghĩaNam. NềnNam là nềnchưa hoàn toàn là nềnXHCN. Bởi vì, chúng ta còn đang trong thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, cònsự đan xen và đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, vừa có, vừa chưa đầy đủ yếu tố XHCN. Nềnxã hội chủ nghĩaNam, một mặt vừatính chất chungnềntrường. Mặt khác, do dựa trênsở và được dẫn dắt, chi phối bởi nguyên tắc vàchấtCNXH, cho nên,xã hội chủ nghĩanước tatrưngchất dưới đây : 42.1. Về mục tiêu phát triểntrường: Trong nhiềutínhthể làm tiêu thức để phân biệt nềnnước ta với nềnkhác, phải nói đến mục đích chính trị, mục tiêuxã hội mà nhà nước và nhân dân ta đã lựa chọn làmchi phối sự vân động phát triển nềntế.Mục tiêu hàng đầuphát triểnnước ta là giải phóng sức sản xuất, động viên mọi nguồn lực trong nước và ngoài nước để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựngsở vật chấtCNXH, nâng cao hiệu quảxã hội, cải thiện từng bước đời sống nhân dân. Nước ta thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mớiĐảng, lấy sản xuất gắn liền với cải thiện đời sống nhân dân, tăngđi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, khuyến khích làm giàu hợp pháp, gắn liền với xoá đói giảm nghèo.2.2. Nềngồm nhiều thành phần, trong đónhà nước giữ vai trò chủ đạo.Việc xác lập vai trò chủ đạonhà nước là vấn đềtính nguyên tắc và là sự khác biệttính bản chất giữa kinh tế thị trường định hướng XHCN với kinh tế thị trường TBCN. Tínhnềnnước ta đã quyếtnhà nước phải giữ vai trò chủ đạo trongcấunhiều thành phần. Bởi lẽ mỗi một chế độ xã hội đềumộtsởtương ứngnó.nhà nước cùng vớitập thể tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới –nước ta.Mỗi thành phầntrong thời kì quá độ lên CNXHchất- xã hội riêng, chịu sự tác độngcác qui luậtriêng, nên bên cạnh sự thống nhất cònkhác biệt và mâu thuẫn khiến cho nềnnước takhả năng phát triển theokhác nhau. Chúng ta xác định, ngoài việc củngvà phát triển các thành phần5dựa trên chế độ công hữu, chúng ta còn phải khuyến khích các thành phầndựa trên chế độ tư hữu phát triển để hình thành nềnrộng lớn. Các đơn vịthuộc mọi thành phần đều bình đẳng với nhau trước pháp luật, vừa hợp tác vừa cạnh tranh nhau để phát triển. Tuy nhiên, vì dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất nên chúng không tránh khỏi tính tự phát chạy theo lợi nhuận đơn thuần, nảy sinhhiện tượng tiêu cực làm tổn hại đến lợi ích chungxã hội. Vì vậy,nhà nước phải được xây dựng và phát triểnhiệu quả để thực hiện tốt vai tròmình.2.3. Trong nềnxã hội chủ nghĩa, thực hiện nhiều hình thúc phân phối theo thu nhập, trông đó lấy phân phối theo lao động là chủ yếu. Mỗi chế độ xã hộichế độ phân phối tương ứng với nó. Chế độ phân phối do quan hệ sản suất thống trị, trước hết là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất. Phù hợp với trình độ phát triểnlực lượng sản xuất trong thời kì quá độ lên CNXH,nhiều cế độ sở hữu cùng tồn tại. Mỗi chế độ sở hữunguyên tắc phân phối tương ứngvới nó, vì thế trong thời kì quá độ tồn tạicấu đa dạng về hình thức phân phối theo thu nhậpTrongchếnước ta, tồn tại các hình thức phân phối theo thu nhập sau : phân phối theo lao động, theo nguồn vốn, theo giá trị sức lao động, phân phối thông qua các quĩ phúc lợi xã hội. Sự khác biệtgiữavớiTBCN làchỗ xác lập chế độ công hữu và thực hiện phân phối theo lao động. Đây là đặc trưng bản chất của kinh tế thị trường định hướng XHCN, nó là hình thức thực hiện về mặtchế độ công hữu. Vì thế phân phối theo lao động được xáclà hình thức phân phối chủ yếu trong thời kì quá độ lên CNXH.6Nước ta xây dựng và phát triểnXHCN. Phát triểnlà phương tiện để đạt được mục tiêuxây dựng XHCN, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Vì vậy mỗi bước tăngnước ta phải gắn liền với cải thiện đời sống nhân dân, với tiến bộ và công bằng xã hội.2.4.chế vận hành nềnlàchếsự quản línhà nước XHCN.chếnhiều mặt tích cựccũngkhông ítmặt khuyết tật. Trong điều kiện ngày nay, hầu như tất cả các nềncác nước trên thế giới đềusự quản línhà nước để nhằm hạn chếmặt khuyết tật đó. Tức làchế vận hành nềntất cả các nước đều làchếsự quản línhà nước.điều khác biệt trongchế vận hành nềnta làchỗ Nhà nước quản lí nềnkhông phải là nhà nước tư sản, mà là nhà nước XHCN. Sự quản líNhà nướcnhằm đưa nềnđi theo đúngXHCN, vì vậy phải tăng cường vai trò quản línhà nước thông qua các công cụ quản lí vĩ mô.Nhà nước quản lí nềntheo nguyên tắc kết hợp kế hoạch vớitrường. Đây là hai phương tiện khác nhau để điều tiết nềntế. Kế hoạch là sự điều chỉnhý thứcchủ thể quản lí đối với nềntế, cònchếlà sự tự điều tiếtthân nềntế. Kế hoạch vàcần được kết hợp với nhau trongchế vận hành nềnXHCN, được thực hiệncả tầm vi mô lẫn vĩ mô.là căn cứ để xây dựng và kiểm tra các kế hoạch phát triểntế.mục tiêu và biện pháp mà kế hoạch nêu ra muốn được thực hiệnhiệu quả phải xuất phát từ yêu cầu7trường. Mặt khác, muốn chohoạt động phù hợp vớinó phải đượcdẫn và điều tiết bởi kế hoạch. 2.5. Nềncũng là nềnmở, hội nhập.Đặcnày phản ánh sự khác biệt giữa nềnmà chúng ta đang xây dựng với nềnđóng khép kín trước đổi mới, đồng thời phản ánh xuhội nhậpnềnnước ta trong điều kiện toàn cầu hoá nềntế.Do sự tác độngcuộc cách mạng khoa học – công nghệ, Vì vậy, mởtế, hội nhập vàokhu vực và thế giới là tất yếu đối với nước ta nhằm thu hút vốn, khoa học công nghệ hiện đại,nghiệm tiên tiếncác nước để khai thác tiềm năng và thế mạnhnước ta, thực hiện phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực để xây dựng và phát triểnhiện đại theo kiểu rút ngắn. Thực hiện mở rộng quan hệđối ngoại theođa phương hoá các hình thúc đối ngoại, gắntrong nước vớitrong nước và thế giới,vẫn giữ được độc lập chủ quyền và bảo vệ được lợi ích quốc gia, dân tộc trong quan hệđối ngoại.Trong thời gian tới, vẫn tiếp tục mở rộng đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệđối ngoại. Phải đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu làưu tiên và là trọngđối ngoại, chủ động và tích cực thâm nhậpthế giới, mở rộngphần trên cácquen thuộc, tranh thủhội để mở ramới, cải thiện môiđầu tư và bằng nhiều hình thức thu hút vồn đầu tưnước ngoài.8II – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN VIỆT NAM .1. Thực trạng nềnNam.1.1. Trình độ phát triểnnước ta còngiai đoạn sơ khai.Nềnnước ta đang trong quá trình chuyển từ nềnkém phát triển mang nặng tính tự cấp tự túc sang nềnhàng hoá nhiều thành phần vận động theochếtrường. Đây thể hiện thực trạng nềnyếu kémnước ta khi chuyển sangtrường. Điều đó được biểu hiện :sở vật chất, kĩ thuật còntrình độ thấp bên cạnh một số lĩnh vực, một sốsởđã được trang bị kĩ thuật và công nghệ hiện đạivẫn còn nhiều ngànhmáy móc cũ kĩ, công nghệ lạc hậu, lao động thủ công vẫn chiếm tỉ trọng lớn trong tổng số lao động xã hội. Do đó, năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuấtnước ta còn thấp so với khu vực và thế giới. Kết cấu hạ tầng đường giao thông, bến cảng, hệ thống thông tin liên lạc… vẫn còn lạc hậu, chưa phát triển dẫn đến sự giao lưu giữa các vùng, các dịa phương bị chia cắt, tách biệt nhau nên không thể khai thác hết được tiềm năng, thế mạnhcác vùng, các địa phương. Dosở vật chất kĩ thuật còntrình độ thấp làm cho phân công lao động kém phát triển, chuyển dịchcấu chậm. Nông nghiệp vẫn chiếm phần lớn lực lượng lao động, khoảng 70%,chỉ sản xuất khoảng 26% GDP, các ngành công nghệ cao chiếm tỉ trọng thấp.9 Kả năng cạnh tranhcác doanh nghiệp còn yếutrong nước cũng nhưnước ngoài. Dosở vật chất, kĩ thuật và công nghệ lạc hậu, năng suất lao động thấp. Do đó, khối lượng hàng hoá nhỏ bé, chủng loại hàng hoá chưa nhiều, chất lượng hàng hoá chưa cao, giá cả cao, vì thế khả năng cạnh tranh yếu.1.2.dân tộc thống nhất đang trong quá trình hình thành chưa đồng bộ. Giao thông vận tải kém phát triển nên chưa lôi cuốn được tất cả các vùng trong nước vào một mạng lưới lưu thông thống nhất.Thịhàng hoá – dịch vụ đã hình thànhcòn hạn hẹp và còn nhiều hiện tượng tiêu cực : hàng giả, hàng nhập lậu, hàng nhái nhãn hiệu…Thịhàng hoá sức lao động mới hình thành. Nét nổi bậtnày là sức cung về lao độngtay nghề nhỏ hơn sức cầu, trong khi đó cung về lao động giản đơn lại vượt quá cầu, nhiều ngườisức lao động không tìm được việc làm.Thịtiền tệ,vốnnhiều tiến bộvẫn còn nhiều trắc trở, thủ tục rườm rà, nhiều vướng mắc.chứng khoán ra đờiít doanh nghiệp đủ điều kiện tham gia.1.3. Nhiều thành phầntham giatrường. Do vậy, chính vì điều đó, nềnnước tanhiều loại hình sản xuất hàng hoá cùng tồn tại, đan xen nhau, trong đó sản xuất hàn hoá nhỏ phân tán còn phổ biến.10[…]… theochếtrường,sự quản líNhà nước theoXHCN. III-TRƯỜNGNAM.1 .Đặc tính chung thống nhấttrường.trưng chủ yếu sau :Thứ nhất, các chủ thểtính độc lập,quyền tự chủ trong sản xuấtdoanh,sự cạnh tranh gay gắt giữa các chủ thểtham… tố XHCN. Nềnxã hội chủ nghĩaNam, một mặt vừatính chất chungnềnthị trường. Mặt khác, do dựa trênsở và được dẫn dắt, chi phối bởi nguyên tắc vàchấtCNXH, cho nên,hướng xã hội chủ nghĩanước tatrưngchất dưới đây : 4 Nước ta xây dựng và phát triểnXHCN. …gồm nhiều thành phần, trong đónhà nước giữ vai trò chủ đạo.Việc xác lập vai trò chủ đạonhà nước là vấn đềtính ngun tắc và là sự khác biệttínhchất giữahướngvớiTBCN. Tínhnềnnước ta đã quyếtnhà nước phải giữ vai trò chủ đạo trongcấutế. ..sự quản línhà nước, căn cứ vàotrường, các doanh nghiệp sẽ quyếtsản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai với số lượng là bao nhiêu. 2. Tínhthùnềnxã hội chủ nghĩa Việt Nam. NềnNam là nềnthịchưa hoàn tồn là nềnXHCN. Bởi vì, chúng ta… kinhvớiTBCN làchỗ xác lập chế độ công hữu và thực hiện phân phối theo lao động. Đây làtrưngchấtXHCN, nó là hình thức thực hiện về mặtchế độ công hữu. Vì thế phân phối theo lao động được xáclà hình thức phân phối chủ yếu trong thời kì quá độ lên CNXH.6 Theo Quyếtsố 64Thủ…2.1. Về mục tiêu phát triểntrường: Trong nhiềutínhthể làm tiêu thức để phân biệt nềntrường nước ta với nềnkhác, phải nói đến mục đích chính trị, mục tiêuxã hội mà nhà nước và nhân dân ta đã lựa chọn làmhướng chi phối sự vân động phát triển nềntế. Mục tiêu hàng đầuphát triểnnước ta là giải phóng sức… phần. Bởi lẽ mỗi một chế độ xã hội đềumộtsởtương ứngnó.nhà nước cùng với kinhtập thể tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới –nước ta.Mỗi thành phầntrong thời kì q độ lên CNXHchấttế – xã hội riêng, chịu sự tác độngcác qui luậtriêng, nên bên cạnh sự thống nhất cịnkhác biệt và mâu thuẫn khiến cho nềntếtrường. .. chỉnhý thứcchủ thể quản lí đối với nềntế, cònchếlà sự tự điều tiếtbản thân nềntế. Kế hoạch vàcần được kết hợp với nhau trongchế vận hành nềnXHCN, được thực hiệncả tầm vi mô lẫn vĩ mô.là căn cứ để xây dựng và kiểm tra các kế hoạch phát triểntế.mục tiêu và biện pháp mà kế hoạch nêu ra… nhậpquốcngày càng sâu rộng, trong khi công nghệcác ngành Công nghiệp nước ta phần lớn còn lạc hậu, chậm được đổi mới, năng suất lao động thấp, chất lượng sản 18 trường. Mặt khác, muốn chohoạt động phù hợp vớiXHCNnó phải đượcdẫn và điều tiết bởi kế hoạch. 2.5. Nềncũng là nềnmở, hội nhập. Đặc điểm. .. chất lượng và sức cạnh tranhcác sản phẩm công nghiệp; giảmnhiễm môi trường; sử dụng tiết kiệm và hiệu 21 II – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN VIỆT NAM .1. Thực trạng nềnNam.1.1. Trình độ phát triểnnước ta còngiai đoạn sơ khai.Nềnnước ta đang trong quá trình chuyển từ nềnkém phát triển mang nặng. Tính đặc thù của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là nền kinh tế thị trường. tính bản chất giữa kinh tế thị trường định hướng XHCN với kinh tế thị trường TBCN. Tính định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường nước ta đã quyết định kinh