Các công cụ lưu thông trên thị trường tiền tệ – https://laodongdongnai.vn
– Tuy nhiên, trên thực tế, việc điều chỉnh lượng tiền và cáckhoản nợ thường
4. Các công cụ của thị trường tài chính
4.1. Các công cụ lưu thông trên thị trường tiền tệ
Các công cụ lưu thông trên thị trường tiền tệ có đặc thù chung là kỳ hạn thanh toán giao dịch
ngắn, tính thanh toán cao và độ rủi ro đáng tiếc thấp. Chúng gồm có những loại hầu hết sau :
4.1.1. Tín phiếu kho bạc (Treasury bill)
Tín phiếu kho bạc là công cụ vay nợ ngắn hạn của chính phủ do Kho bạc phát
hành để bù đắp cho những thiếu hụt tạm thời của ngân sách nhà nước.
Tín phiếu kho bạc thuộc loại chứng khoán chiết khấu. Đó là loại chứng khoán
không được nhà phát hành trả lãi song lại được bán với giá chiết khấu tức là giá
thấp hơn mệnh giá. Khi đến hạn, nhà đầu tư được nhận lại đủ mệnh giá, vì vậy phần
chênh lệch giữa mệnh giá chứng khoán và giá mua chứng khoán chính là lãi của nhà
đầu tư.
Tín phiếu kho bạc có các kỳ hạn 3, 6 và 12 tháng. Tín phiếu kho bạc được
xem là công cụ tài chính có độ rủi ro thấp nhất trên thị trường tiền tệ bởi vì hầu như
không có khả năng vỡ nợ từ người phát hành, tức là không thể có chuyện chính phủ
mất khả năng thanh toán khoản nợ khi đến kỳ hạn thanh toán, chính phủ lúc nào
cũng có thể tăng thuế hoặc in tiền để trả nợ. Tuy nhiên mức lãi suất của nó thường
thấp hơn các công cụ khác lưu thông trên thị trường tiền tệ.
Tín phiếu kho bạc thường được phát hành theo từng lô bằng phương pháp đấu
giá. Người mua chủ yếu là các ngân hàng, ngoài ra còn có các công ty và các trung
gian tài chính khác. Tín phiếu kho bạc được xem là công cụ có tính lỏng cao nhất
trên thị trường tiền tệ do nó được mua và bán nhiều nhất. Tín phiếu kho bạc thường được Ngân hàng TW những nước sử dụng như một công cụ để điều hành quản lý chủ trương tiền tệ trải qua thị trường mở .
4.1.2. Các chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng được
instrument) do các ngân hàng phát hành, cam kết trả lãi định kỳ cho khoản tiền gửi
và sẽ hoàn trả vốn gốc (được gọi là mệnh giá của chứng chỉ) cho người gửi tiền khi
đến ngày đáo hạn.Lúc đầu, các chứng chỉ tiền gửi không được phép bán lại và nếu
người gửi tiền rút vốn trước hạn thì sẽ phải chịu phạt. Nhưng về sau để tăng tính
hấp dẫn của các chứng chỉ tiền gửi này, các ngân hàng bắt đầu cho phép các chứng
chỉ tiền gửi có mệnh giá lớn (ví dụ ở Mỹ là trên 100.000 USD) được phép bán lại
trước hạn (với một mức giá khấu trừ), thậm chí có thể bán cho chính ngân hàng phát
hành. Khi đó chúng được gọi là các chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng
(NCDs). NCDs thường được các ngân hàng dùng để huy động các nguồn vốn lớn từ
các công ty, các quỹ tương hỗ thị trường tiền tệ, các tổ chức của chính phủ.v.v.. Tại
Mỹ, tổng dư nợ từ phát hành các NCDs của các ngân hàng gần đây đã vượt quá tổng
số dư nợ của tín phiếu kho bạc Mỹ.
4.1.3. Thương phiếu (Commercial paper)
Thương phiếu là những giấy nhận nợ do các công ty có uy tín phát hành để
vay vốn ngắn hạn từ thị trường tài chính. Thương phiếu được phát hành theo hình
thức chiết khấu, tức là được bán với giá thấp hơn mệnh giá. Chênh lệch giữa giá
mua và mệnh giá thương phiếu chính là thu nhập của người sở hữu thương phiếu.
Những thương phiếu nguyên thuỷ (commercial bill) chỉ xuất hiện trong các
hoạt động mua bán chịu hàng giữa các công ty kinh doanh với nhau. Nó có thể do
người bán chịu hay người mua chịu hàng hoá phát hành nhưng bản chất vẫn là giấy
xác nhận quyền đòi tiền khi đến hạn của người sở hữu thương phiếu. Ngày nay,
thương phiếu xuất hiện mang tính đa dạng hơn. Thương phiếu được phát hành
không chỉ trong quan hệ mua bán chịu hàng hoá mà còn được phát hành để vay vốn
trên thị trường tiền tệ. Các công ty danh tiếng khi có nhu cầu vốn có thể phát hành
thương phiếu bán trực tiếp cho người mua theo
mức giá chiết khấu. Những người góp vốn đầu tư thương phiếu ngoài những ngân hàng nhà nước còn có những trung gian kinh tế tài chính và công ty khác .
Các thương phiếu có mức độ rủi ro cao hơn tín phiếu kho bạc nhưng mức lãi
suất chiết khấu cũng cao hơn. Thị trường thương phiếu ngày nay rất sôi động và
phát triển với tốc độ rất nhanh. Việc chuyển nhượng thương phiếu được thực hiện
bằng hình thức ký hậu.
4.1.4. Chấp phiếu ngân hàng (Banker’s acceptance)
Chấp phiếu ngân hàng là các hối phiếu kỳ hạn do các công ty ký phát và được
ngân hàng đảm bảo thanh toán bằng cách đóng dấu “đã chấp nhận” lên tờ hối
phiếu. Trong các giao dịch mua bán chịu, khi người bán không tin vào khả năng
thanh toán của người mua, họ sẽ yêu cầu người mua phải có sự bảo đảm thanh toán
từ một ngân hàng có uy tín. Khi ngân hàng chấp nhận bảo lãnh cho khoản thanh
toán, nó cho phép người bán ký phát hối phiếu đòi tiền thẳng ngân hàng và ngân
hàng sẽ đóng dấu chấp nhận trả tiền lên tờ hối phiếu đó. Như vậy, người trả tiền hối
phiếu bây giờ không phải là người mua nữa mà là ngân hàng, do vậy người bán
được đảm bảo khá chắc chắn về khả năng thanh toán của tờ hối phiếu. Để được
ngân hàng ký chấp nhận vào tờ hối phiếu, người mua chịu phải ký quỹ gửi vào ngân
hàng một phần hoặc toàn bộ số tiền của tờ hối phiếu hoặc được ngân hàng đồng ý
cho vay để thanh toán hối phiếu. Ngân hàng sẽ thu từ người mua chịu một khoản
phí bảo đảm thanh toán. Các chấp phiếu ngân hàng này được sử dụng khá phổ biến
trong lĩnh vực xuất nhập khẩu. Do được ngân hàng chấp nhận thanh toán nên các
chấp phiếu ngân hàng là một công cụ nợ có độ an toàn khá cao, nhất là khi ngân
hàng chấp nhận là các ngân hàng lớn, có uy tín. Những người sở hữu chấp phiếu có
thể đem bán chúng trên thị trường tiền tệ với giá chiết khấu để thu tiền mặt ngay
khi cần vốn gấp.
4.1.5. Hợp đồng mua lại (Repurchase agreement – Repo)
Hợp đồng mua lại là một hợp đồng trong đó ngân hàng bán một số lượng tín
phiếu kho bạc mà nó đang nắm giữ, kèm theo điều khoản mua lại số tín phiếu đó
sau một vài ngày hay một vài tuần với mức giá cao hơn.
Về thực chất đây là một công cụ để vay nợ ngắn hạn (thường không quá hai
tuần) của các ngân hàng trong đó sử dụng tín phiếu kho bạc làm vật thế chấp.
Sau đây là ví dụ về cách sử dụng một “ Repo ” để vay vốn : Một công ty lớn của Mỹ là General Motors ( GM ), có một số ít vốn nhàn nhã trong thông tin tài khoản là 1 triệu USD. Công ty muốn tranh thủ cho vay thời gian ngắn khoản tiền này. Ngân hàng Citibank khi đó đang có nhu yếu vay 1 triệu USD trong 1 tuần. Ngân hàng quyết định hành động sử dụng một “ Repo ” để vay của GM bằng cách ký hợp đồng bán cho GM 1 triệu USD tín phiếu kho bạc mà ngân hàng nhà nước đang nắm giữ với cam kết sẽ mua lại số tín phiếu này
với giá cao hơn sau đó 1 tuần. Như vậy, trải qua hợp đồng mua lại – “ Repo ” nói trên, công ty GM đã cung ứng cho Citibank một khoản vay thời gian ngắn, lãi trả cho GM chính là khoản chênh lệch giữa giá cả lại tín phiếu cho ngân hàng nhà nước sau đó 1 tuần và giá mua tín phiếu lúc đầu. Trong trường hợp xảy ra rủi ro đáng tiếc Citibank không thanh toán giao dịch được nợ cho GM khi đến hạn, 1 triệu USD tín phiếu kho bạc vẫn thuộc chiếm hữu của GM và công ty hoàn toàn có thể bán trên thị trường tiền tệ để tịch thu vốn về. Như vậy 1 triệu USD tín phiếu kho bạc ( một công cụ có tính lỏng cao nhất và bảo đảm an toàn nhất trên thị trường tiền tệ ) đã được sử dụng làm vật thế chấp ngân hàng trong “ Repo ” để bảo vệ năng lực giao dịch thanh toán nợ của Citibank và đã làm cho GM yên tâm khi cho vay .
Ngoài những công cụ thông dụng trên, ở những nước có thị trường tiền tệ tăng trưởng ( ví dụ như Mỹ ) còn có thêm một số ít công cụ khác như :
4.1.6 Quĩ liên bang (Fed Funds)
Quỹ liên bang là những khoản vay nợ ngắn hạn (thường chỉ qua một đêm)
điển hình giữa các ngân hàng Mỹ. Đối tượng vay ở đây là những món tiền gửi của
các ngân hàng tại Cục dự trữ liên bang Mỹ36. Khi tiền gửi của một ngân hàng tại
Fed không đạt đến tổng số mà Fed qui định phải có, nó sẽ tiến hành vay từ những
ngân hàng nào có khoản tiền gửi tại Fed vượt quá qui định để bù đắp cho khoản
thiếu hụt của mình.
Thị trường vay quỹ liên bang rất nhạy cảm đối với các nhu cầu tín dụng của
ngân hàng khiến cho lãi suất của các khoản vay này (gọi là lãi suất quĩ liên bang)
được xem là một phong vũ biểu để đo mức độ căng thẳng của thị trường tín dụng
trong hệ thống ngân hàng. Khi lãi suất cao là lúc các ngân hàng đang bị sức ép về
vốn, khi lãi suất thấp là nhu cầu tín dụng của các ngân hàng thấp.
Xem thêm: Công cụ của thị trường tiền tệ
4.1.7 Đô la châu Âu (Euro dollars)
Những đồng đô la Mỹ do các ngân hàng ngoại quốc ở bên ngoài nước Mỹ
hoặc những chi nhánh của ngân hàng Mỹ ở ngoại quốc nắm giữ được gọi là đô la
châu Âu. Các ngân hàng Mỹ có thể vay những món tiền này từ các ngân hàng nước
ngoài hoặc từ các chi nhánh của ngân hàng Mỹ ở nước ngoài khi họ cần vốn. Đồng
đô la châu Âu ngày nay đã trở thành một nguồn vốn ngắn hạn quan trọng đối với
các ngân hàng Mỹ (năm 1998 là trên 100 tỷ USD).
(Trang 84 -87 )
Một phần của tài liệu NGHIÊN CỨU VỀ TIỀN TỆ
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Thị Trường






