Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm. – Tài liệu text

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản vừa đủ của tài liệu tại đây ( 196.44 KB, 21 trang )

đập thấp xuống mức 66 – 72 lần/phút, huyết áp khoảng 105/66 đến 109/69.

Thành mạch vững chắc, mao mạch phát triển, từ đó góp phần nhanh chóng nâng

cao được trình độ kỹ thuật, thể lực.

* Đặc điểm phát triển hệ thống hô hấp.

Ở tuổi 16 – 18 hệ thống hô hấp đã phát triển gần đạt trình độ của người

trưởng thành. Tần số hô hấp giảm còn 18 – 19 lần phút do dung tích sống tăng và

VO2 max tăng. Chính nhờ sự tăng lớn của dung tích sống cũng như năng lực hấp

thụ oxy tối đa và năng lực chịu đựng nợ oxy của các em 16 – 18 tuổi được nâng

cao làm cho sức bền ưa khí tăng qua đó góp phần tăng sức mạnh tốc độ của

VĐV.

Do các hoóc môn giới tính phát triển làm cho sự phát triển cơ thể cũng có

nhiều khác biệt giữa nam và nữ, như chu kỳ kinh nguyệt làm ảnh hưởng nhất

định tới hiệu quả huấn luyện phát triển sức bền và các tố chất thể lực khác …

1.2.2. Đặc điểm tâm lý lứa tuổi 16 – 18.

Đặc điểm nổi bật về tâm lý của lứa tuổi 16 – 18 là chịu ảnh hưởng mạnh mẽ

của cả 2 nhân tố bên trong và bên ngoài.

* Nhân tố bên trong gồm các yếu tố như sự khát vọng ham muốn hiểu biết,

khám phá thế giới trong đó có sự thử sức với các hoạt động TDTT. Vì vậy TDTT

đã có sức cuốn hút mạnh mẽ đối với các em.

Ở tuổi 16 – 18 về tình cảm do các em thích làm người lớn vì vậy mà các biểu

hiện nghĩa hiệp, sự vui buồn chia xẻ thường đan xen nhau. Chính vì vậy, trong

quá trình huấn luyện thể thao cho các em HLV phải kịp thời nắm bắt diễn biến

tình cảm của các em để có thể điều chỉnh uốn nắn kịp thời. Chỉ có như vậy mới

có thể đạt được hiệu quả tốt trong giảng dạy huấn luyện.

* Về nhân tố bên ngoài bao gồm các yếu tố từ ngoại cảnh tác động đến tâm

lý của các em 16 – 18 tuổi.

Tóm lại để nắm vững được đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của các em để sử

dụng các đối sách giảng dạy huấn luyện hợp lý là tiền đề của sự nâng cao

hiệu quả giảng dạy huấn luyện của các giáo viên và huấn luyện viên thể thao.

1.2.3. Đặc điểm huấn luyện của môn Vovinam.

Cũng như các môn thể thao khác huấn luyện quyền Vovinam là một quá

trình sư phạm nhằm tác động một cách có hệ thống vào khả năng chức phận của

5

cơ thể vận động viên để hướng tới thành tích thể thao cao nhất. Đặc trưng cơ bản

của quá trình này là sự tác động của lượng vận động thông qua các bài tập với

các hình thức và phương tiện khác nhau để nâng cao hiệu quả của quá trình huấn

luyện. Bên cạnh đó việc sử dụng các các phương pháp, phương tiện huấn luyện

để tạo nên những tác động quan trọng góp phần thúc đẩy, rút ngắn thời gian huấn

luyện và nâng cao thành tích thể thao. Nhiệm vụ của huấn luyện Vovinam dựa

trên đặc điểm và cấu trúc đặc thù các yêu cầu cơ bản cua quá trình huấn

luyện phải đảo bảo được sự phát triển toàn diện của VĐV. Phải được thực hiện

có mục đích rõ ràng dựa trên kế hoạch đã được đề ra. Đây là nhiệm vụ đặc biệt

quan trọng là nhân tố cơ bản quyết định kết quả huấn luyện. Huấn luyện

Vovinam cũng là một quá trình sư phạm nên cần quán triệt và tuân thủ nghiêm

ngặt các nguyên tắc giảng dạy cơ bản.

1.2.4. Đặc trưng của phương phương pháp huấn luyện quyền Vovinam.

Trong môn phái Vovinam Việt Võ Đạo, hầu hết các bài quyền tay không và

vũ khí đều theo nguyên tắc chung “Một phát triển thành ba” (Học các đòn căn

bản lẽ, được ghép lại thành bài quyền, sau đó phối hợp lại thành bài đối luyện,

song luyện, song đấu) nhằm giúp cho người môn sinh có nhiều hình thức ôn tập

thuần thục và dễ nhớ, phát triển các kỷ năng nhanh, mạnh, bền, khéo léo đồng

thời tạo sự gắn bó, xuyên suốt, có tính logic, khoa học trong tập luyện và giảng

dạy.

Hiện nay, ngoài việc tập luyện các bài đơn luyện để tăng cường thể lực, nâng cao sức khỏe,

thi lên cấp đai theo chương trình, các bài quyền còn được đưa vào thi đấu, tranh giải tại các địa

phương; do đó việc tập luyện và huấn luyện các bài quyền (đơn luyện) đều phải đạt được mục

đích, tiêu chuẩn chung như : phải thuộc đòn cơ bản, nắm vững động tác lẻ rồi mới ghép vào

bài. Thực hiện bài tập đúng trình tự, chính xác từng động tác, dứt khoát trước khi bắt đầu động

tác kế tiếp.

2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu.

2.1. Thực trạng và những khó khăn, thuận lợi trước khi thực hiện huấn luyện

đội tuyển Vovinam.

2.1.1. Những điểm khó khăn:

+ Về phía giáo viên:

– Thời gian huấn luyện ít còn bị phụ thuộc nhiều vào học sinh.

– Các tài liệu, tư liệu về giảng dạy Vovinam có ít đặc biệt các phương pháp

huấn luyện Vovinam cho học sinh THPT hầu như là không có.

6

– Có một giáo viên tham gia huấn luyện đội tuyển.

+ Vế phía học sinh

– Các nội dung luyện tập Vovinam để đi thi đấu là rất khó và cao so với

trình độ của học sinh mới học vì các nội dung thi Vovinam trong đại hội toàn

quốc là những nội dung trong chương trình học Vovinam phong trào của người

đã tập từ hơn 2 năm, thậm chí cho đến từ 3 năm trở lên mới có thể thực hiện

được như : Bài song luyện 3, Quyền kiếm, Đoàn chân tấn công…

– Học sinh ở trường THPT triệu sơn 2 đa số là con nhà thuần nông ngoài

công việc học tập các em còn phải phụ giúp gia đình công việc nhà và hầu như

các em ít có điều kiện và thời gian để chơi các môn thể thao nhất là các môn võ

thuật thì còn mới lạ đối với các em. Việc học sinh học tập văn hóa cả ngày nên

không có thời gian nhiều và thích hợp cho việc luyện tập, thể lực cơ bản của các

em còn yếu.

+ Về phía nhà trường và gia đình phụ huynh học sinh

– Chưa được sự quan tâm, tin tưởng sâu sắc của ban giam hiệu nhà trường

cũng như tổ chuyên môn.

– Cơ sở vật chất, trang thiết bị dụng cụ phục vụ cho quá trình học tập và huấn

luyện của nhà trường chưa có hoặc đáp ứng được cho quá trình huấn luyện.

– Nhận thức và ủng hộ của cha, me học sinh về việc luyện tập võ để đi thi đấu

đội tuyển cho con em họ là chưa cao đôi khi còn gây ra sự cản trở lớn.

2.1.2.Những điểm thuận lợi:

– Bản thân thường xuyên đi dạy và huấn luyện võ phong trào trong

nhiều năm. Có trình độ chuyên môn về võ thuật cao như đạt được nhiều đai

đẳng trong các môn võ. TAEKWONDO; KARATE-DO; VOVINAM.

– Học sinh nhiệt tình và siêng năng chăm chỉ luyện tập.

– Là một giáo viên trẻ, luôn nhiệt tình, năng động trong công việc chịu khó

tìm tòi, học hỏi và tâm huyết với nghề.

Chính từ những thực trạng của những khó khăn và thuận lợi đó đã làm tôi

luôn băn khoăn, trăn trở, suy nghĩ làm thế nào đó để tìm ra các phương pháp

huấn luyện và khắc phục được những khó khăn đó để trên cơ sở đó tìm ra

đuợc phương pháp huấn luyện..

7

2.2. Thực trạng về chương trình và các phương pháp huấn luyện quyền

Vovinam cho học sinh THPT.

Việc huấn luyện quyền Vovinam cho học sinh có thể được xem là một

nghệ thuật sư phạm mang tính kỷ thuật. Người HLV phải biết vận dụng kiến

thức về võ học, võ thuật…để truyền thụ cho môn sinh về lý thuyết, kỹ thuật đòn

thế.

Việc huấn luyện môn sinh chịu tác động từ nhiều phía:Từ HLV, từ chương

trình, sân bãi, điều kiện thể lực của các em … Ở độ tuổi cuối cấp 17-18 là lứa

tuổi hầu như phát triển hoàn thiện về sinh lý. Thực tế trong huấn luyện trong

nhiều năm qua, ở đối tượng này mọi người huấn luyện viên, võ sư đều cho rằng:

– Rất khó huấn luyện độ mềm dẻo ở cơ khớp cho các em, trong khoảng thời

gian ngắn việc này nó ảnh hưởng không nhỏ đến kỹ thuật và biên độ động tác.

– Những nội dung huấn luyện đội tuyển thi hội khỏe phù đổng môn Vovinam

cho học sinh THPT mới học là quá khó. Ví dụ như: Trong bài quyền ngũ môn ở

trình độ người mới học 3-4 tháng chưa đủ kỹ thuật để có thể đá đạp lái 180 độ…

– Chưa có một chương trình nào hay phương pháp huấn luyện Vovinam nào

được soạn thảo riêng để huấn luyện cho Học sinh THPT.

-Năm học 2011-2012 Vovinam mới được đưa chính vào trường học phổ

thông nên tấp cả đang còn mới lạ và nghèo nàn về phương pháp và cơ sở vật chất

Chính vì vậy xuất phát từ những yếu tố trên mà HLV phải tự chọn ra cho

mình một phương pháp tốt nhất, hiệu quả và phù hợp nhất để huấn luyện.

2.3. Cơ sở để đưa ra các phương pháp huấn luyện.

Trước tiên theo tôi quan niệm cũng như lý luận trong dạy học và huấn luyện

thể dục thể thao là phải dựa trên các nguyên tắc luyện tập. Như nguyên tắc vừa

sức, hệ thống…Vì theo lý luận TDTT thì luyện tập TDTT muốn đạt được hiệu

quả cao thì các phương pháp đưa ra phải phù hợp với lứa tuổi, giới tính, tâm sinh

lý và trình độ vận động của người học. Đây là một trong những cơ sở quan trọng

để tôi đưa ra phương pháp huấn luyện phù hợp với học sinh, chính vì thế sáng

kiến của tôi đã lần lượt trải qua hai giai đoạn như sau

Giai đoạn 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn để lựa chọn một số phương pháp

huấn luyện đội tuyển võ Vovinam cho học sinh trường THPT Triệu sơn 2.

8

Giai đoạn 2: Từng bước tiến hành áp dụng các phương pháp và đánh giá

hiệu quả của nó trong quá trình huấn huấn luyện đội tuyển Vovinam học sinh

trường THPT triệu sơn 2.

3. Các phương pháp sử dụng và đối tượng của sáng kiến.

3.1. Các phương pháp sử dụng trong quá trình viết sáng kiến.

3.1.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu.

3.1.2. Phương pháp phỏng vấn trực tiếp các võ Sư, các HLV võ

3.1.3. Phương pháp quan sát sư phạm.

3.1.4. Phương pháp kiểm tra sư phạm.

3.1.5. Phương pháp toán học thống kê.

3.1.6. Phương pháp tổ chức viết sáng kiến kinh nghiệm.

3.2. Đối tượng của sáng kiến.

Đối tượng áp dụng chính: Là 08 em học sinh bao gồm (04 nam + 04 nữ) là

học sinh học lớp 10 và lớp 11 trong trường THPT Triệu sơn 2.

4. Giải pháp và tổ chức thực hiện.

4.1. Các bước tiến hành huấn luyện một bài quyền.

4.1.1. Các bước huấn luyện một bài quyền

Để biểu diễn được một bài quyền hay thì người luyện tập phải đạt được mục

đích, tiêu chuẩn chung như : phải thuộc đòn cơ bản, nắm vững động tác lẻ rồi

mới ghép vào bài. Thực hiện bài tập đúng trình tự, chính xác từng động tác, dứt

khoát trước khi bắt đầu động tác kế tiếp.

Trước khi huấn luyện bài quyền cần giới thiệu qua :

Tên gọi bài quyền, xuất xứ, ý nghĩa, nội dung chính trong bài quyền (ghép các

thế chiến lược, các động tác lẻ, đòn cơ bản của từng trình độ trong chương trình).

Số động tác của toàn bài, đồ hình, phương hướng và 1 số đặc điểm chung

trong bài quyền.

Yêu cầu phải đạt : Đánh nhanh, mạnh, dứt khoát, chính xác từng động tác,

thời gian thực hiện, khả năng chịu đựng, giữ thăng bằng, tấn bộ pháp vững chắc,

thân thái tốt (biểu hiện nét mặt, nhãn thần ).

4.1.2. Huấn luyện các thế võ.

Trước tiên phải nói tên thế võ hoặc giới thiệu, định nghĩa, lọai đòn thế sẽ học

như Khóa gỡ là gì. Chiến lược là gì. Các thế phản đòn tay, đòn chân, học để làm

gì….

9

Biểu diễn cho võ sinh xem 1 thế võ để có khái niệm bao quát về thế võ đó.

Bước 1: Giới thiệu, nói tên thế võ, đòn mới :

Trước tiên phải nói tên thế võ hoặc giới thiệu, định nghĩa, lọai đòn thế sẽ học

như: Khóa gỡ là gì. Chiến lược là gì, các thế phản đòn tay, đòn chân, học để làm

gì….

Biểu diễn cho võ sinh xem 1 thế võ để có khái niệm bao quát về thế võ đó.

Bước 2: Giải thích thế võ gồm có mấy động tác :

Việc này tiến hành từng bước :

– Giới thiệu toàn bộ động tác.

– Yêu cầu làm động tác.

– Cách thức làm động tác.

Sau đó nhấn mạnh phần cơ bản, chủ yếu quyết định đến kết quả động tác. Khi

giảng dạy cần chú trọng đến:

– Vị trí của chân đứng, thế đứng

– Sự vận động của cánh tay chân

– Sự chuyển động của cổ tay, bàn tay, chân trụ

– Hướng dẫn cách té ngã, chống đỡ an toàn đối với người chịu đòn

Chú ý, khi giải thích phải rõ ràng, chính xác, ngắn gọn,nổi bật được những điểm

cần chú ý. Tránh giải thích dài dòng làm cho võ sinh ngồi lâu để nghe. Để cho võ

sinh ở trạng thái tĩnh trong giờ tập võ, là điểm tối kỵ cần phải tránh. Dùng lời nói

dễ hiểu, gần gủi trình độ người tập, nhất là khi dùng lời chuyên môn.

Bước 3: Làm mẫu động tác

Huấn luyện viên làm mẩu động tác phải chính xác, rõ ràng, đẹp mắt, đúng yếu

lĩnh và kỹ thuật nhằm gây cho võ sinh hứng thú luyện tập, ấn tượng sâu sắt vào

ký ức để võ sinh dễ tiếp thu vào làm theo.

Có 2 cách làm mẫu :

– Làm mẫu toàn bộ động tác

– Làm mẫu từng phần, từng cử động, sau đó kết hợp lại, làm toàn bộ 1 lần rồi giải

thích.

Vừa làm mẫu, vừa dẫn giải, là một biện pháp có hiệu quả cao trong giảng dạy

động tác. Người làm mẫu có 2 vị trí để thị phạm :

– Đối diện

– Cùng chiều

10