CHƯƠNG 1. TRIẾT HỌC VÀ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI. – Tài liệu text

CHƯƠNG 1. TRIẾT HỌC VÀ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (122.3 KB, 15 trang )

CHƯƠNG I
TRIẾT HỌC VÀ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC
TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

I. TRIẾT HỌC VÀ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC
1. Khái lược về triết học
a. Nguồn gốc của triết học
Triết học ra đời ở cả Phương Đông và Phương Tây khoảng từ thế kỷ VIII đến
thế kỷ VI tr.CN tại các trung tâm văn minh lớn của nhân loại thời Cổ đại.
Triết học là dạng tri thức lý luận xuất hiện sớm nhất trong lịch sử các loại
hình lý ḷn của nhân loại.
Với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, triết học có nguồn gốc nhận thức
và nguồn gốc xã hội.

Nguồn gốc nhận thức
Là hình thức nhận thức cao của con người về thế giới, tư duy triết học xuất
hiện sau tư duy huyền thoại và tơn giáo ngun thủy.
Triết học hình thành khi tư duy của con người đạt tới trình độ trừu tượng hóa,
khái quát hóa, hệ thống hóa những tri thức cụ thể, riêng lẻ về thế giới thành những
khái niệm, phạm trù, quan điểm, quy luật, luận thuyết… đủ sức phở qt để giải
thích thế giới.
Vào thời Cở đại, khi các loại hình tri thức còn ở trong tình trạng tản mạn,
dung hợp và sơ khai, các khoa học độc lập chưa hình thành, thì triết học đóng vai
trò là dạng nhận thức lý luận tổng hợp, giải quyết tất cả các vấn đề lý luận chung

về tự nhiên, xã hội và tư duy. Từ buổi đầu lịch sử triết học và tới tận thời kỳ Trung
Cổ, triết học vẫn là tri thức bao trùm, là “khoa học của các khoa học”.

Nguồn gốc xã hội
Về phương diện xã hội, Triết học chỉ ra đời khi xã hội loài người đã đạt đến
một trình độ sản xuất tương đối cao, phân cơng lao động xã hội hình thành, của cải
1

tương đối dư thừa, giai cấp và nhà nước xuất hiện.

Trong một xã hội như vậy, tầng lớp trí thức xuất hiện, giáo dục và nhà trường
hình thành và phát triển, các nhà thông thái đã đủ năng lực tư duy để trừu tượng
hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa toàn bộ tri thức thời đại và các hiện tượng của tồn
tại xã hội để xây dựng nên các học thuyết, các lý luận, các triết thuyết.
b. Khái niệm Triết học
Ở Trung Quốc, chữ triêt (哲) có nghĩa là sự truy tìm bản chất của đối tượng
nhận thức, thường là con người, xã hội, vũ trụ và tư tưởng. Triết học là biểu hiện
cao của trí tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người về toàn bộ thế giới thiên – địa
– nhân và định hướng nhân sinh quan cho con người.
Ở Ấn Độ, thuật ngữ Dar’sana (triết học) nghĩa gốc là chiêm ngưỡng, hàm ý là
tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với le
phải.

Ở phương Tây, thuật ngữ “Philo – sophia” (triết học), xuất hiện ở Hy Lạp Cổ
đại (“φιλοσοφία -tiếng Hy Lạp) với nghĩa là yêu mên sự thơng thái. Philosophia
vừa mang nghĩa là giải thích vũ trụ, định hướng nhận thức và hành vi, vừa nhấn
mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người.
Với sự ra đời của Triết học Mác – Lênin, triêt học là hệ thống quan điểm lí
luận chung nhất về thê giới và vị trí con người trong thê giới đó, là khoa học về
những quy luật vận động, phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.
Phương pháp nghiên cứu của triết học là xem xét thế giới như một chỉnh thể
trong mối quan hệ giữa các yếu tố và tìm cách đưa lại một hệ thống các quan niệm
về chỉnh thể đó.
c. Vấn đề đối tượng của triết học trong lịch sử
Trong quá trình phát triển, đối tượng của triết học thay đổi theo từng giai đoạn

lịch sử.
Thời cở đại, tri thức của lồi người còn ít, chưa có sự phân chia giữa triết học
với các khoa học khác. Khi đó đối tượng nghiên cứu của triết học là mọi lĩnh vực
tri thức. Đây là nguyên nhân dẫn đến quan niệm “Triết học là khoa học của các
khoa học”.
2

Ở Tây Âu thời Trung cổ, khi quyền lực của Giáo hội bao trùm mọi lĩnh vực
đời sống xã hội thì triết học trở thành nơ lệ của thần học. Nền triêt học tự nhiên bị
thay bằng nền triêt học kinh viện. Triết học thời Trung cổ trong gần thiên niên kỷ
chịu sự quy định và chi phối của hệ tư tưởng Kitô giáo.

Thời Cận đại, sự phát triển của các khoa học chuyên ngành từng bước làm
phá sản tham vọng của triết học muốn đóng vai trò “khoa học của các khoa học”.
Triết học Hêghen là học thuyết triết học cuối cùng thể hiện tham vọng đó.
Hồn cảnh kinh tế – xã hội và sự phát triển mạnh me của khoa học vào đầu thế
kỷ XIX đã dẫn đến sự ra đời của triết học Mác.
Đoạn tuyệt triệt để với quan niệm triết học là “khoa học của các khoa học”,
triết học Mác xác định đối tượng nghiên cứu của mình là tiêp tục giải quyêt mối
quan hệ giữa tồn tại và tư duy, giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật triệt
để và nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.
Các nhà triết học mác xít về sau đã đánh giá, với Mác, lần đầu tiên trong lịch
sử, đối tượng của triết học được xác lập một cách hợp lý.
d. Triết học – hạt nhân lý luận của thế giới quan

Thế giới quan
Thê giới quan là khái niệm triêt học chỉ hệ thống các tri thức, quan điểm,
tình cảm, niềm tin, lý tưởng xác định về thê giới và về vị trí của con người (bao
hàm cả cá nhân, xã hội và nhân loại) trong thê giới đó. Thê giới quan quy định các
nguyên tắc, thái độ, giá trị trong định hướng nhận thức và hoạt động thực tiễn của
con người.
Thế giới quan thường bao hàm trong nó nhân sinh quan – vì nhân sinh quan là
quan niệm của con người về đời sống với các nguyên tắc, thái độ và định hướng
giá trị của hoạt động người.
Những thành phần chủ yếu của thế giới quan là tri thức, niềm tin và lý tưởng.

Trong đó tri thức là cơ sở trực tiếp hình thành thế giới quan, nhưng tri thức chỉ gia
nhập thế giới quan khi đã được kiểm nghiệm ít nhiều trong thực tiễn và trở thành
niềm tin. Lý tưởng là trình độ phát triển cao nhất của thế giới quan.

Hạt nhân lý luận của thế giới quan
3

Triết học là hạt nhân của thế giới quan, bởi:
Thứ nhất, bản thân triết học chính là thế giới quan.

Thứ hai, trong các thế giới quan khác như thế giới quan của các khoa học cụ
thể, thế giới quan của các dân tộc, hay các thời đại… triết học bao giờ cũng là
thành phần quan trọng, đóng vai trò là nhân tố cốt lõi.
Thứ ba, với các loại thế giới quan tôn giáo, thế giới quan kinh nghiệm hay thế
giới quan thơng thường…, triết học bao giờ cũng có ảnh hưởng và chi phối, dù có
thể khơng tự giác.
Thứ tư, thế giới quan triết học như thế nào se quy định các thế giới quan và
các quan niệm khác như thế.
Thế giới quan duy vật biện chứng được coi là đỉnh cao của các loại thế giới
quan đã từng có trong lịch sử.
Thế giới quan đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong cuộc sống của con người
và xã hội loài người. Bởi le:

Thứ nhất, những vấn đề được triết học đặt ra và tìm lời giải đáp trước hết là
những vấn đề thuộc thế giới quan.
Thứ hai, thế giới quan đúng đắn là tiền đề quan trọng để xác lập phương thức
tư duy hợp lý và nhân sinh quan tích cực trong khám phá và chinh phục thế giới.
Trình độ phát triển của thế giới quan là tiêu chí quan trọng đánh giá sự trưởng
thành của mỗi cá nhân cũng như của mỗi cộng đồng xã hội nhất định.
2. Vấn đề cơ bản của triết học
a. Nội dung vấn đề cơ bản của triết học
Theo Ph.Ăngghen: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết
học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại”1.
Tất cả các hiện tượng trong thế giới này chỉ có thể, hoặc là hiện tượng vật
chất, tồn tại bên ngoài và độc lập ý thức con người, hoặc là hiện tượng thuộc tinh

thần, ý thức của chính con người.
1 C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Tồn tập, t. 21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 403.
4

Vấn đề trên có ý nghĩa nền tảng và là điểm xuất phát để giải quyết tất cả
những vấn đề còn lại của triết học.
Thông qua việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, lập trường, thế giới
quan của các học thuyết và của các triết gia cũng được xác định.
Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt, trả lời hai câu hỏi lớn:
Mặt thứ nhất: Giữa ý thức và vật chất thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái
nào quyết định cái nào?

Mặt thứ hai: Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không?
b. Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
Việc giải quyết mặt thứ nhất của vấn đề cơ bản của triết học đã chia các nhà
triết học thành hai trường phái lớn.
Những người cho rằng vật chất, giới tự nhiên là cái có trước và quyết định ý
thức của con người được gọi là các nhà duy vật.
Những người cho rằng ý thức, tinh thần, ý niệm, cảm giác là cái có trước giới
tự nhiên, được gọi là các nhà duy tâm.
– Chủ nghĩa duy vật: Cho đến nay, chủ nghĩa duy vật đã được thể hiện dưới
ba hình thức cơ bản: chủ nghĩa duy vật chất phác, chủ nghĩa duy vật siêu hình và
chủ nghĩa duy vật biện chứng.
+ Chủ nghĩa duy vật chất phác là kết quả nhận thức của các nhà triết học duy

vật thời Cổ đại. Chủ nghĩa duy vật thời kỳ này thừa nhận tính thứ nhất của vật chất
nhưng đồng nhất vật chất với một hay một số chất cụ thể của vật chất và đưa ra
những kết luận mà về sau người ta thấy mang nặng tính trực quan, ngây thơ, chất
phác.
+ Chủ nghĩa duy vật siêu hình là hình thức cơ bản thứ hai trong lịch sử của
chủ nghĩa duy vật, thể hiện khá rõ ở các nhà triết học thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII
và điển hình là ở thế kỷ thứ XVII, XVIII. Đây là thời kỳ mà cơ học cổ điển đạt
được những thành tựu rực rỡ nên trong khi tiếp tục phát triển quan điểm chủ nghĩa
duy vật thời Cổ đại, chủ nghĩa duy vật giai đoạn này chịu sự tác động mạnh me của
phương pháp tư duy siêu hình, cơ giới – phương pháp nhìn thế giới như một cỗ
máy khởng lồ mà mỗi bộ phận tạo nên thế giới đó về cơ bản là ở trong trạng thái
5

biệt lập và tĩnh tại.
+ Chủ nghĩa duy vật biện chứng là hình thức cơ bản thứ ba của chủ nghĩa duy
vật, do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng vào những năm 40 của thế kỷ XIX, sau đó
được V.I.Lênin phát triển. Với sự kế thừa tinh hoa của các học thuyết triết học
trước đó và sử dụng khá triệt để thành tựu của khoa học đương thời, chủ nghĩa duy
vật biện chứng, ngay từ khi mới ra đời đã khắc phục được hạn chế của chủ nghĩa
duy vật chất phác thời Cở đại, chủ nghĩa duy vật siêu hình và là đỉnh cao trong sự
phát triển của chủ nghĩa duy vật.
– Chủ nghĩa duy tâm: Chủ nghĩa duy tâm gồm có hai phái: chủ nghĩa duy tâm
chủ quan và chủ nghĩa duy tâm khách quan.

+ Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thừa nhận tính thứ nhất của ý thức con người.
Trong khi phủ nhận sự tồn tại khách quan của hiện thực, chủ nghĩa duy tâm chủ
quan khẳng định mọi sự vật, hiện tượng chỉ là phức hợp của những cảm giác.
+ Chủ nghĩa duy tâm khách quan cũng thừa nhận tính thứ nhất của ý thức
nhưng coi đó là là thứ tinh thần khách quan có trước và tồn tại độc lập với con
người. Thực thể tinh thần khách quan này thường được gọi bằng những cái tên
khác nhau như ý niệm, tinh thần tuyệt đối, lý tính thê giới, v.v..
Học thuyết triết học nào thừa nhận chỉ một trong hai thực thể (vật chất hoặc
tinh thần) là bản nguyên (nguồn gốc) của thế giới, quyết định sự vận động của thế
giới được gọi là nhất nguyên luận (nhất nguyên luận duy vật hoặc nhất nguyên
luận duy tâm).
Trong lịch sử triết học cũng có những nhà triết học giải thích thế giới bằng cả

hai bản nguyên vật chất và tinh thần, xem vật chất và tinh thần là hai bản nguyên
có thể cùng quyết định nguồn gốc và sự vận động của thế giới. Học thuyết triết học
như vậy được gọi là nhị nguyên luận, điển hình là Descartes (Đề-các).
Những người nhị nguyên luận thường là những người, trong trường hợp giải
quyết một vấn đề nào đó, ở vào một thời điểm nhất định, là người duy vật, nhưng ở
vào một thời điểm khác, và khi giải quyết một vấn đề khác, lại là người duy tâm.
Song, xét đến cùng nhị nguyên luận thuộc về chủ nghĩa duy tâm.
c. Thuyết có thể biết (Thuyết Khả tri) và thuyết khơng thể biết (Thuyết Bất
khả tri)
6

Giải quyết mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học: “Con người có thể nhận
thức được thế giới hay không?”, về cơ bản chia làm hai trường phái:
Học thuyết triết học khẳng định khả năng nhận thức của con người được gọi
là thuyêt Khả tri (Gnosticism, Thuyết có thể biết).
Thuyết khả tri khẳng định con người về nguyên tắc có thể hiểu được bản chất
của sự vật.
Học thuyết triết học phủ nhận khả năng nhận thức của con người được gọi là
thuyêt không thể biêt (thuyêt bất khả tri).
Theo thuyết này, con người, về nguyên tắc, không thể hiểu được bản chất của
đối tượng. Kết quả nhận thức mà lồi người có được, theo thút này, chỉ là hình
thức bề ngồi, hạn hẹp và cắt xén về đối tượng.
Đại biểu điển hình cho những nhà triết học bất khả tri cũng chính là Hium và

Cantơ.
3. Biện chứng và siêu hình
a. Khái niệm biện chứng và siêu hình trong lịch sử
Trong triết học hiện đại, đặc biệt là triết học mácxít, biện chứng và siêu hình
dùng để chỉ hai phương pháp tư duy chung nhất đối lập nhau, đó là phương pháp
biện chứng và phương pháp siêu hình.
Phương pháp siêu hình, là phương pháp:
+ Nhận thức đối tượng ở trạng thái cô lập, tách rời đối tượng ra khỏi các quan
hệ được xem xét và coi các mặt đối lập với nhau có một ranh giới tuyệt đối, và
+ Nhận thức đối tượng ở trạng thái tĩnh; đồng nhất đối tượng với trạng thái
tĩnh nhất thời đó. Thừa nhận sự biến đổi chỉ là sự biến đổi về số lượng, về các hiện
tượng bề ngoài. Nguyên nhân của sự biến đởi coi là nằm ở bên ngồi đối tượng.

Phương pháp biện chứng, là phương pháp:
+ Nhận thức đối tượng trong các mối liên hệ phở biến vốn có của nó. Đối
tượng và các thành phần của đối tượng ln trong sự lệ thuộc, ảnh hưởng nhau,
ràng buộc, quy định lẫn nhau, và
+ Nhận thức đối tượng ở trạng thái luôn vận động biến đổi, nằm trong khuynh
7

hướng phở qt là phát triển. Q trình vận động này thay đổi cả về lượng và cả về
chất của các sự vật, hiện tượng. Nguồn gốc của sự vận động, thay đởi đó là sự đấu
tranh của các mặt đối lập của mâu thuẫn nội tại của bản thân sự vật.
Phương pháp biện chứng phản ánh hiện thực đúng như nó tồn tại. Nhờ vậy,

phương pháp tư duy biện chứng trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người nhận
thức và cải tạo thế giới và là phương pháp luận tối ưu của mọi khoa học.
b. Các hình thức của phép biện chứng trong lịch sử
Cùng với sự phát triển của tư duy con người, phương pháp biện chứng đã trải
qua ba giai đoạn phát triển, được thể hiện trong triết học với ba hình thức lịch sử
của nó: phép biện chứng tự phát, phép biện chứng duy tâm và phép biện chứng duy
vật.
+ Phép biện chứng tự phát thời Cổ đại. Các nhà biện chứng cả phương Đông
lẫn phương Tây thời Cổ đại đã thấy được các sự vật, hiện tượng của vũ trụ vận
động trong sự sinh thành, biến hóa vơ cùng vơ tận. Tuy nhiên, những gì các nhà
biện chứng thời đó thấy được chỉ là trực kiến, chưa có các kết quả của nghiên cứu
và thực nghiệm khoa học minh chứng.

+ Phép biện chứng duy tâm. Đỉnh cao của hình thức này được thể hiện trong
triết học cổ điển Đức, người khởi đầu là Cantơ và người hồn thiện là Hêghen. Có
thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử phát triển của tư duy nhân loại, các nhà triết học
Đức đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung quan trọng nhất của
phương pháp biện chứng. Biện chứng theo họ, bắt đầu từ tinh thần và kết thúc ở
tinh thần. Thế giới hiện thực chỉ là sự phản ánh biện chứng của ý niệm nên phép
biện chứng của các nhà triết học cổ điển Đức là biện chứng duy tâm.
+ Hình thức thứ ba là phép biện chứng duy vật. Phép biện chứng duy vật được
thể hiện trong triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng, sau đó được V.I.Lênin
và các nhà triết học hậu thế phát triển.
C.Mác và Ph.Ăngghen đã gạt bỏ tính thần bí, tư biện của triết học cở điển
Đức, kế thừa những hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng duy tâm để xây dựng

phép biện chứng duy vật với tính cách là học thuyêt về mối liên hệ phở biên và về
sự phát triển dưới hình thức hồn bị nhất.

8

II. TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VÀ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC MÁC –
LÊNIN TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
1. Sự ra đời và phát triển của triết học Mác – Lênin
a. Những điều kiện lịch sử của sự ra đời triết học Mác
Sự xuất hiện triết học Mác là một cuộc cách mạng vĩ đại trong lịch sử triết
học. Đó là kết quả tất yếu của sự phát triển lịch sử tư tưởng triết học và khoa học

của nhân loại, trong sự phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế – xã hội, mà trực tiếp
là thực tiễn đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản với giai cấp tư sản. Đó cũng là
kết quả của sự thống nhất giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan của
C.Mác và Ph.Ăngghen.
* Điều kiện kinh tế – xã hội
Sự củng cố và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong
điều kiện cách mạng công nghiệp.
Triết học Mác ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX. Ở giai đoạn này,
phương thức sản xuất tư bản phát triển mạnh me dưới sự tác động của cuộc cách
mạng cơng nghiệp, thể hiện rõ tính ưu việt hơn hẳn so với phương thức sản xuất
phong kiến.
Mặt khác, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản làm cho những mâu thuẫn xã hội

càng thêm gay gắt và bộc lộ ngày càng rõ rệt, những xung đột giữa vô sản và tư
sản đã trở thành những cuộc đấu tranh giai cấp.
Sự xuất hiện của giai cấp vô sản trên vũ đài lịch sử với tính cách một lực
lượng chính trị – xã hội độc lập là nhân tố chính trị – xã hội quan trọng cho sự ra
đời triêt học Mác.
Thực tiễn xã hội nói chung, nhất là thực tiễn cách mạng vô sản, đòi hỏi phải
được soi sáng bởi lý luận nói chung và triết học nói riêng.
Chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác nói riêng ra đời nhằm đáp ứng nhu
cầu đấu tranh của phong trào công nhân.
* Nguồn gốc lý luận và tiền đề khoa học tự nhiên
Nguồn gốc lý luận
9

Học thuyết của Mác “ra đời là sự thừa kế thẳng và trực tiếp những học thuyết
của những đại biểu xuất sắc nhất trong triết học, trong kinh tế chính trị học và
trong chủ nghĩa xã hội”.
Triết học cổ điển Đức, đặc biệt những “hạt nhân hợp lý” trong triết học của
hai nhà triết học tiêu biểu là Hegel và Feuerbach, là nguồn gốc lý luận trực tiếp của
triết học Mác.
C.Mác và Ph.Ăngghen đã tiếp thu và cải tạo phép biện chứng của Hegel và
tiếp thu có phê phán quan điểm duy vật của Feuerbac, đồng thời đã cải tạo chủ
nghĩa duy vật cũ, khắc phục tính chất siêu hình và những hạn chế lịch sử khác của
nó. Từ đó C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng nên triết học mới, trong đó chủ nghĩa

duy vật và phép biện chứng thống nhất với nhau một cách hữu cơ.
Việc kế thừa và cải tạo kinh tế chính trị học với những đại biểu xuất sắc là
Adam Smith (A.Xmit) và David Ricardo (Đ. Ricacđô) không những làm nguồn
gốc để xây dựng học thuyết kinh tế mà còn là nhân tố không thể thiếu được trong
sự hình thành và phát triển triết học Mác.
Sự hình thành và phát triển triết học Mác không thể tách rời sự phát triển
những quan điểm lý luận về chủ nghĩa xã hội của Mác. Chủ nghĩa xã hội không
tưởng Pháp với những đại biểu nổi tiếng như Saint Simon (Xanh Ximông) và
Charles Fourier (Sáclơ Phuriê) là một trong ba nguồn gốc lý luận của chủ nghĩa
Mác, ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của triết học.
Tiền đề khoa học tự nhiên
Cùng với những nguồn gốc lý luận trên, những thành tựu khoa học tự nhiên là

những tiền đề cho sự ra đời triết học Mác.
Ph.Ăngghen nêu bật ý nghĩa của ba phát minh lớn đối với sự hình thành triết
học duy vật biện chứng: định luật bảo tồn và chuyển hóa năng lượng, thút tế
bào và thút tiến hóa của Charles Darwin (Đácuyn). Với những phát minh đó,
khoa học đã vạch ra mối liên hệ thống nhất giữa những dạng tồn tại khác nhau, các
hình thức vận động khác nhau trong tính thống nhất vật chất của thế giới, vạch ra
tính biện chứng của sự vận động và phát triển của nó.
Như vậy, triết học Mác cũng như toàn bộ chủ nghĩa Mác ra đời như một tất
́u lịch sử khơng những vì đời sống và thực tiễn, nhất là thực tiễn cách mạng của
10

giai cấp cơng nhân, đòi hỏi phải có lý ḷn mới soi đường mà còn vì những tiền đề
cho sự ra đời lý luận mới đã được nhân loại tạo ra.
* Nhân tố chủ quan trong sự hình thành triết học Mác
Triết học Mác xuất hiện không chỉ là kết quả của sự vận động và phát triển có
tính quy luật của các nhân tố khách quan mà còn được hình thành thơng qua vai trò
của nhân tố chủ quan.
Sở dĩ C.Mác và Ph.Ăngghen đã làm nên được bước ngoặt cách mạng trong lí
luận và xây dựng được một khoa học triết học mới, là vì hai ơng là những thiên tài
kiệt xuất có sự kết hợp nhuần nhuyễn và sâu sắc những phẩm chất tinh tuý và uyên
bác nhất của nhà bác học và nhà cách mạng.
Cả C.Mác và Ph.Ăngghen đều xuất thân từ tầng lớp trên của xã hội đương
thời, nhưng hai ông đều sớm tự nguyện hiến dâng cuộc đời mình cho cuộc đấu

tranh vì hạnh phúc của nhân loại.
Thông qua lao động khoa học nghiêm túc, cơng phu, đồng thời thơng qua hoạt
động thực tiễn tích cực không mệt mỏi, C.Mác và Ph.Ăngghen đã thực hiện một
bước chuyển lập trường từ dân chủ cách mạng và nhân đạo chủ nghĩa sang lập
trường giai cấp công nhân và nhân đạo cộng sản.
Chỉ đứng trên lập trường giai cấp công nhân hai ông mới đưa ra được quan
điểm duy vật lịch sử mà những người bị hạn chế bởi lập trường giai cấp cũ không
thể đưa ra được.
b. Những thời kỳ chủ yếu trong sự hình thành và phát triển của Triết học
Mác
* Thời kỳ hình thành tư tưởng triêt học với bước quá độ từ chủ nghĩa duy tâm
và dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cộng sản (1841 1844)

* Thời kỳ đề xuất những nguyên lý triêt học duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử
* Thời kỳ C.Mác và Ph.Ăngghen bổ sung và phát triển tồn diện lí luận
triết học (1848 – 1895)
c. Thực chất và ý nghĩa cuộc cách mạng trong triết học do C.Mác và
11

Ph.Ăngghen thực hiện
Sự ra đời của triết học Mác là một cuộc cách mạng vĩ đại trong lịch sử triết
học nhân loại.
C.Mác và Ph.Ăngghen, đã khắc phục tính chất trực quan, siêu hình của chủ

nghĩa duy vật cũ và khắc phục tính chất duy tâm, thần bí của phép biện chứng duy
tâm, sáng tạo ra một chủ nghĩa duy vật triết học hồn bị, đó là chủ nghĩa duy vật
biện chứng.
C.Mác và Ph. Ăngghen đã vận dụng và mở rộng quan điểm duy vật biện
chứng vào nghiên cứu lịch sử xã hội, sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử – nội
dung chủ yếu của bước ngoặt cách mạng trong triết học.
Ở triết học Mác có sự thống nhất giữa lí luận và thực tiễn là động lực chính
để C.Mác và Ph.Ăngghen sáng tạo ra một triết học chân chính khoa học, đồng thời
trở thành một nguyên tắc, một đặc tính mới của triết học duy vật biện chứng.
Ở triết học Mác, tính đảng và tính khoa học thống nhất hữu cơ với nhau.
Triết học Mác mang tính đảng là triết học duy vật biện chứng đồng thời mang bản
chất khoa học và cách mạng.

Triết học Mác ra đời cũng đã chấm dứt tham vọng ở nhiều nhà triết học muốn
biến triết học thành “khoa học của mọi khoa học”, xác lập đúng đắn mối quan hệ
giữa triêt học với khoa học cụ thể.
Một trong những đặc trưng nổi bật của triết học Mác là tính sáng tạo. Triết
học Mác là một hệ thống mở luôn luôn được bổ sung, phát triển bởi những thành
tựu khoa học và thực tiễn.
Triết học Mác mang trong mình tính nhân đạo cộng sản. Đó chính là lí ḷn
khoa học xuất phát từ con người, vì mục tiêu giải phóng con người, trước hết là
giải phóng giai cấp cơng nhân, nhân dân lao động khỏi mọi sự áp bức bóc lột, phát
triển tự do, toàn diện con người.
d. Giai đoạn Lênin trong sự phát triển Triết học Mác
V.I.Lênin và những người cộng sản đã kế tục trung thành, bảo vệ và phát

triển sáng tạo cả ba bộ phận của chủ nghĩa Mác, đáp ứng đòi hỏi khách quan của
thời đại mới.
12

Thời kỳ 1893 – 1907, V.I.Lênin bảo vệ và phát triển triêt học Mác và chuẩn bị
thành lập đảng mácxít ở Nga hướng tới cuộc cách mạng dân chủ tư sản lần thứ
nhất.
Từ 1907 – 1917 là thời kỳ V.I.Lênin phát triển toàn diện triêt học Mác và lãnh
đạo phong trào công nhân Nga, chuẩn bị cho cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Từ 1917 – 1924 là thời kỳ Lênin tởng kêt kinh nghiệm thực tiễn cách mạng, bở
sung, hồn thiện triêt học Mác, gắn liền với việc nghiên cứu các vấn đề xây dựng

chủ nghĩa xã hội.
Thời kỳ từ 1924 đên nay, triêt học Mác – Lênin tiêp tục được các Đảng Cộng
sản và công nhân bổ sung, phát triển
2. Đối tượng và chức năng của triết học Mác – Lênin
a. Khái niệm triết học Mác – Lênin
Triêt học Mác – Lênin là hệ thống quan điểm duy vật biện chứng về tự nhiên,
xã hội và tư duy – thê giới quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của
giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các lực lượng xã hội tiên bộ trong nhận
thức và cải tạo thê giới.
Triết học Mác – Lênin là triêt học duy vật biện chứng theo nghĩa rộng. Đó là
hệ thống quan điểm duy vật biện chứng cả về tự nhiên, xã hội và tư duy; là sự
thống nhất hữu cơ giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.

Trong triết học Mác – Lênin, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng thống nhất
hữu cơ với nhau. Với tư cách là chủ nghĩa duy vật, triết học Mác – Lênin là hình
thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật trong lịch sử triết học – chủ nghĩa
duy vật biện chứng. Với tư cách là phép biện chứng, triết học Mác – Lênin là hình
thức cao nhất của phép biện chứng trong lịch sử triết học – phép biện chứng duy
vật.
Triết học Mác – Lênin trở thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học
của giai cấp công nhân để nhận thức và cải tạo xã hội. Đồng thời triết học Mác Lênin cũng là thế giới quan và phương pháp luận của nhân lao động, cách mạng và
các lực lượng xã hội tiến bộ trong nhận thức và cải tạo xã hội.
b. Đối tượng của triết học Mác – Lênin
13

Triết học Mác – Lênin xác định đối tượng nghiên cứu là giải quyêt mối quan
hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật biện chứng và nghiên cứu những
quy luật vận động, phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.
Đối tượng của triết học Mác – Lênin bao gồm cả vấn đề con người. Triết học
Mác – Lênin xuất phát từ con người, từ thực tiễn, chỉ ra những quy luật của sự vận
động, phát triển của xã hội và của tư duy con người.
Triết học Mác – Lênin có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với các khoa học cụ
thể. Các khoa học cụ thể cung cấp những dữ liệu, đặt ra những vấn đề khoa học
mới, làm tiền đề, cơ sở cho sự phát triển triết học.
c. Chức năng của triết học Mác – Lênin
Chức năng thế giới quan và chức năng phương pháp luận là hai chức năng cơ

bản của triết học Mác – Lênin.
Chức năng thê giới quan
Thế giới quan là toàn bộ những quan điểm về thế giới và về vị trí của con
người trong thế giới đó. Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan. Triết học
Mác – Lênin đem lại thế giới quan duy vật biện chứng, là hạt nhân thế giới quan
cộng sản.
Thế giới quan duy vật biện chứng giúp cho con người cơ sở khoa học đi sâu
nhận thức bản chất của tự nhiên, xã hội và nhận thức được mục đích ý nghĩa của
cuộc sống.
Thế giới quan duy vật biện chứng nâng cao vai trò tích cực, sáng tạo của con
người. Thế giới quan đúng đắn chính là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực.
Với bản chất khoa học và cách mạng, thế giới quan duy vật biện chứng là hạt

nhân của hệ tư tưởng của giai cấp công nhân và các lực lượng tiến bộ, cách mạng,
là cơ sở lý luận trong cuộc đấu tranh với các tư tưởng phản cách mạng, phản khoa
học.
Chức năng phương pháp luận
Phương pháp luận là hệ thống những quan điểm, những nguyên tắc xuất phát
có vai trò chỉ đạo việc sử dụng các phương pháp trong hoạt động nhận thức và hoạt
động thực tiễn nhằm đạt kết quả tối ưu.
14

Phương pháp luận cũng có nghĩa là lý luận về hệ thống phương pháp. Triết
học Mác – Lênin thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất, phổ biến nhất

cho nhận thức và hoạt động thực tiễn.
Vai trò phương pháp luận duy vật biện chứng được thể hiện trước hết là
phương pháp chung của toàn bộ nhận thức khoa học. Phương pháp luận duy vật
biện chứng trang bị cho con người hệ thống những nguyên tắc phương pháp luận
chung nhất cho hoạt động nhận thức và thực tiễn.
Để đem lại hiệu quả trong nhận thức và hành động, cùng với tri thức triết
học, con người cần phải có tri thức khoa học cụ thể và kinh nghiệm hoạt động thực
tiễn xã hội.
3. Vai trò của triết học Mác – Lênin trong đời sống xã hội và trong sự
nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay
Triết học Mác – Lênin là thế giới quan, phương pháp luận khoa học và cách
mạng cho con người trong nhận thức và thực tiễn.

Triết học Mác – Lênin là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học
và cách mạng để phân tích xu hướng phát triển của xã hội trong điều kiện cuộc
cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại phát triển mạnh me.
Triết học Mác – Lênin là cơ sở lý luận khoa học của công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội trên thế giới và sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam.

15

Nguồn gốc nhận thứcLà hình thức nhận thức cao của con người về quốc tế, tư duy triết học xuấthiện sau tư duy lịch sử một thời và tơn giáo ngun thủy. Triết học hình thành khi tư duy của con người đạt tới trình độ trừu tượng hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa những tri thức đơn cử, riêng không liên quan gì đến nhau về quốc tế thành nhữngkhái niệm, phạm trù, quan điểm, quy luật, luận thuyết … đủ sức phở qt để giảithích quốc tế. Vào thời Cở đại, khi những mô hình tri thức còn ở trong thực trạng tản mạn, dung hợp và sơ khai, những khoa học độc lập chưa hình thành, thì triết học đóng vaitrò là dạng nhận thức lý luận tổng hợp, xử lý toàn bộ những yếu tố lý luận chungvề tự nhiên, xã hội và tư duy. Từ buổi đầu lịch sử dân tộc triết học và tới tận thời kỳ TrungCổ, triết học vẫn là tri thức bao trùm, là “ khoa học của những khoa học ”. Nguồn gốc xã hộiVề phương diện xã hội, Triết học chỉ sinh ra khi xã hội loài người đã đạt đếnmột trình độ sản xuất tương đối cao, phân cơng lao động xã hội hình thành, của cảitương đối dư thừa, giai cấp và nhà nước Open. Trong một xã hội như vậy, những tầng lớp tri thức Open, giáo dục và nhà trườnghình thành và tăng trưởng, những nhà thông thái đã đủ năng lượng tư duy để trừu tượnghóa, khái quát hóa, hệ thống hóa hàng loạt tri thức thời đại và những hiện tượng kỳ lạ của tồntại xã hội để kiến thiết xây dựng nên những học thuyết, những lý luận, những triết thuyết. b. Khái niệm Triết họcỞ Trung Quốc, chữ triêt ( 哲 ) có nghĩa là sự săn lùng thực chất của đối tượngnhận thức, thường là con người, xã hội, thiên hà và tư tưởng. Triết học là biểu hiệncao của trí tuệ, là sự hiểu biết thâm thúy của con người về hàng loạt quốc tế thiên – địa – nhân và xu thế nhân sinh quan cho con người. Ở Ấn Độ, thuật ngữ Dar’sana ( triết học ) nghĩa gốc là chiêm ngưỡng và thưởng thức, hàm ý làtri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lephải. Ở phương Tây, thuật ngữ “ Philo – sophia ” ( triết học ), Open ở Hy Lạp Cổđại ( “ φιλοσοφία – tiếng Hy Lạp ) với nghĩa là yêu mên sự thơng thái. Philosophiavừa mang nghĩa là lý giải ngoài hành tinh, khuynh hướng nhận thức và hành vi, vừa nhấnmạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người. Với sự sinh ra của Triết học Mác – Lênin, triêt học là mạng lưới hệ thống quan điểm líluận chung nhất về thê giới và vị trí con người trong thê giới đó, là khoa học vềnhững quy luật hoạt động, tăng trưởng chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Phương pháp điều tra và nghiên cứu của triết học là xem xét quốc tế như một chỉnh thểtrong mối quan hệ giữa những yếu tố và tìm cách đưa lại một mạng lưới hệ thống những quan niệmvề chỉnh thể đó. c. Vấn đề đối tượng người tiêu dùng của triết học trong lịch sửTrong quy trình tăng trưởng, đối tượng người tiêu dùng của triết học biến hóa theo từng giai đoạnlịch sử. Thời cở đại, tri thức của lồi người còn ít, chưa có sự phân loại giữa triết họcvới những khoa học khác. Khi đó đối tượng người tiêu dùng điều tra và nghiên cứu của triết học là mọi lĩnh vựctri thức. Đây là nguyên do dẫn đến ý niệm “ Triết học là khoa học của cáckhoa học ”. Ở Tây Âu thời Trung cổ, khi quyền lực tối cao của Giáo hội bao trùm mọi lĩnh vựcđời sống xã hội thì triết học trở thành nơ lệ của thần học. Nền triêt học tự nhiên bịthay bằng nền triêt học kinh viện. Triết học thời Trung cổ trong gần thiên niên kỷchịu sự pháp luật và chi phối của hệ tư tưởng Kitô giáo. Thời Cận đại, sự tăng trưởng của những khoa học chuyên ngành từng bước làmphá sản tham vọng của triết học muốn đóng vai trò “ khoa học của những khoa học ”. Triết học Hêghen là học thuyết triết học ở đầu cuối biểu lộ tham vọng đó. Hồn cảnh kinh tế tài chính – xã hội và sự tăng trưởng mạnh me của khoa học vào đầu thếkỷ XIX đã dẫn đến sự sinh ra của triết học Mác. Đoạn tuyệt triệt để với ý niệm triết học là “ khoa học của những khoa học ”, triết học Mác xác lập đối tượng người tiêu dùng điều tra và nghiên cứu của mình là tiêp tục giải quyêt mốiquan hệ giữa sống sót và tư duy, giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật triệtđể và điều tra và nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Các nhà triết học mác xít về sau đã nhìn nhận, với Mác, lần tiên phong trong lịchsử, đối tượng người dùng của triết học được xác lập một cách hài hòa và hợp lý. d. Triết học – hạt nhân lý luận của quốc tế quanThế giới quanThê giới quan là khái niệm triêt học chỉ mạng lưới hệ thống những tri thức, quan điểm, tình cảm, niềm tin, lý tưởng xác lập về thê giới và về vị trí của con người ( baohàm cả cá thể, xã hội và trái đất ) trong thê giới đó. Thê giới quan lao lý cácnguyên tắc, thái độ, giá trị trong xu thế nhận thức và hoạt động giải trí thực tiễn củacon người. Thế giới quan thường bao hàm trong nó nhân sinh quan – vì nhân sinh quan làquan niệm của con người về đời sống với những nguyên tắc, thái độ và định hướnggiá trị của hoạt động giải trí người. Những thành phần đa phần của thế giới quan là tri thức, niềm tin và lý tưởng. Trong đó tri thức là cơ sở trực tiếp hình thành thế giới quan, nhưng tri thức chỉ gianhập thế giới quan khi đã được kiểm nghiệm không ít trong thực tiễn và trở thànhniềm tin. Lý tưởng là trình độ tăng trưởng cao nhất của thế giới quan. Hạt nhân lý luận của quốc tế quanTriết học là hạt nhân của thế giới quan, bởi : Thứ nhất, bản thân triết học chính là thế giới quan. Thứ hai, trong những thế giới quan khác như thế giới quan của những khoa học cụthể, thế giới quan của những dân tộc bản địa, hay những thời đại … triết học khi nào cũng làthành phần quan trọng, đóng vai trò là tác nhân cốt lõi. Thứ ba, với những loại thế giới quan tôn giáo, thế giới quan kinh nghiệm tay nghề hay thếgiới quan thơng thường …, triết học khi nào cũng có ảnh hưởng tác động và chi phối, dù cóthể khơng tự giác. Thứ tư, thế giới quan triết học như thế nào se lao lý những thế giới quan vàcác ý niệm khác như thế. Thế giới quan duy vật biện chứng được coi là đỉnh điểm của những loại thế giớiquan đã từng có trong lịch sử dân tộc. Thế giới quan đóng vai trò đặc biệt quan trọng quan trọng trong đời sống của con ngườivà xã hội loài người. Bởi le : Thứ nhất, những yếu tố được triết học đặt ra và tìm lời giải đáp trước hết lànhững yếu tố thuộc thế giới quan. Thứ hai, thế giới quan đúng đắn là tiền đề quan trọng để xác lập phương thứctư duy hài hòa và hợp lý và nhân sinh quan tích cực trong tò mò và chinh phục quốc tế. Trình độ tăng trưởng của thế giới quan là tiêu chuẩn quan trọng nhìn nhận sự trưởngthành của mỗi cá thể cũng như của mỗi hội đồng xã hội nhất định. 2. Vấn đề cơ bản của triết họca. Nội dung yếu tố cơ bản của triết họcTheo Ph. Ăngghen : “ Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt quan trọng là của triếthọc văn minh, là yếu tố quan hệ giữa tư duy với sống sót ” 1. Tất cả những hiện tượng kỳ lạ trong quốc tế này chỉ hoàn toàn có thể, hoặc là hiện tượng kỳ lạ vậtchất, sống sót bên ngoài và độc lập ý thức con người, hoặc là hiện tượng kỳ lạ thuộc tinhthần, ý thức của chính con người. 1 C.Mác và Ph. Ăngghen ( 1995 ), Tồn tập, t. 21, Nxb Chính trị vương quốc, Thành Phố Hà Nội, tr. 403. Vấn đề trên có ý nghĩa nền tảng và là điểm xuất phát để xử lý tất cảnhững yếu tố còn lại của triết học. Thông qua việc xử lý yếu tố cơ bản của triết học, lập trường, thế giớiquan của những học thuyết và của những triết gia cũng được xác lập. Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt, vấn đáp hai thắc mắc lớn : Mặt thứ nhất : Giữa ý thức và vật chất thì cái nào có trước, cái nào có sau, cáinào quyết định hành động cái nào ? Mặt thứ hai : Con người có năng lực nhận thức được quốc tế hay không ? b. Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâmViệc xử lý mặt thứ nhất của yếu tố cơ bản của triết học đã chia những nhàtriết học thành hai phe phái lớn. Những người cho rằng vật chất, giới tự nhiên là cái có trước và quyết định hành động ýthức của con người được gọi là những nhà duy vật. Những người cho rằng ý thức, ý thức, ý niệm, cảm xúc là cái có trước giớitự nhiên, được gọi là những nhà duy tâm. – Chủ nghĩa duy vật : Cho đến nay, chủ nghĩa duy vật đã được bộc lộ dướiba hình thức cơ bản : chủ nghĩa duy vật chất phác, chủ nghĩa duy vật siêu hình vàchủ nghĩa duy vật biện chứng. + Chủ nghĩa duy vật chất phác là tác dụng nhận thức của những nhà triết học duyvật thời Cổ đại. Chủ nghĩa duy vật thời kỳ này thừa nhận tính thứ nhất của vật chấtnhưng như nhau vật chất với một hay một số ít chất đơn cử của vật chất và đưa ranhững Kết luận mà về sau người ta thấy mang nặng tính trực quan, ngây thơ, chấtphác. + Chủ nghĩa duy vật siêu hình là hình thức cơ bản thứ hai trong lịch sử dân tộc củachủ nghĩa duy vật, bộc lộ khá rõ ở những nhà triết học thế kỷ XV đến thế kỷ XVIIIvà nổi bật là ở thế kỷ thứ XVII, XVIII. Đây là thời kỳ mà cơ học cổ xưa đạtđược những thành tựu bùng cháy rực rỡ nên trong khi liên tục tăng trưởng quan điểm chủ nghĩaduy vật thời Cổ đại, chủ nghĩa duy vật quá trình này chịu sự ảnh hưởng tác động mạnh me củaphương pháp tư duy siêu hình, cơ giới – giải pháp nhìn quốc tế như một cỗmáy khởng lồ mà mỗi bộ phận tạo nên quốc tế đó về cơ bản là ở trong trạng tháibiệt lập và tĩnh tại. + Chủ nghĩa duy vật biện chứng là hình thức cơ bản thứ ba của chủ nghĩa duyvật, do C.Mác và Ph. Ăngghen kiến thiết xây dựng vào những năm 40 của thế kỷ XIX, sau đóđược V.I.Lênin tăng trưởng. Với sự thừa kế tinh hoa của những học thuyết triết họctrước đó và sử dụng khá triệt để thành tựu của khoa học đương thời, chủ nghĩa duyvật biện chứng, ngay từ khi mới sinh ra đã khắc phục được hạn chế của chủ nghĩaduy vật chất phác thời Cở đại, chủ nghĩa duy vật siêu hình và là đỉnh điểm trong sựphát triển của chủ nghĩa duy vật. – Chủ nghĩa duy tâm : Chủ nghĩa duy tâm gồm có hai phái : chủ nghĩa duy tâmchủ quan và chủ nghĩa duy tâm khách quan. + Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thừa nhận tính thứ nhất của ý thức con người. Trong khi phủ nhận sự sống sót khách quan của hiện thực, chủ nghĩa duy tâm chủquan chứng minh và khẳng định mọi sự vật, hiện tượng kỳ lạ chỉ là phức tạp của những cảm xúc. + Chủ nghĩa duy tâm khách quan cũng thừa nhận tính thứ nhất của ý thứcnhưng coi đó là là thứ niềm tin khách quan có trước và sống sót độc lập với conngười. Thực thể niềm tin khách quan này thường được gọi bằng những cái tênkhác nhau như ý niệm, niềm tin tuyệt đối, lý tính thê giới, v.v.. Học thuyết triết học nào thừa nhận chỉ một trong hai thực thể ( vật chất hoặctinh thần ) là bản nguyên ( nguồn gốc ) của quốc tế, quyết định hành động sự hoạt động của thếgiới được gọi là nhất nguyên luận ( nhất nguyên luận duy vật hoặc nhất nguyênluận duy tâm ). Trong lịch sử dân tộc triết học cũng có những nhà triết học lý giải quốc tế bằng cảhai bản nguyên vật chất và niềm tin, xem vật chất và ý thức là hai bản nguyêncó thể cùng quyết định hành động nguồn gốc và sự hoạt động của quốc tế. Học thuyết triết họcnhư vậy được gọi là nhị nguyên luận, nổi bật là Descartes ( Đề-các ). Những người nhị nguyên luận thường là những người, trong trường hợp giảiquyết một yếu tố nào đó, ở vào một thời gian nhất định, là người duy vật, nhưng ởvào một thời gian khác, và khi xử lý một yếu tố khác, lại là người duy tâm. Song, xét đến cùng nhị nguyên luận thuộc về chủ nghĩa duy tâm. c. Thuyết hoàn toàn có thể biết ( Thuyết Khả tri ) và thuyết khơng thể biết ( Thuyết Bấtkhả tri ) Giải quyết mặt thứ hai yếu tố cơ bản của triết học : “ Con người hoàn toàn có thể nhậnthức được quốc tế hay không ? ”, về cơ bản chia làm hai phe phái : Học thuyết triết học khẳng định chắc chắn năng lực nhận thức của con người được gọilà thuyêt Khả tri ( Gnosticism, Thuyết hoàn toàn có thể biết ). Thuyết khả tri chứng minh và khẳng định con người về nguyên tắc hoàn toàn có thể hiểu được bản chấtcủa sự vật. Học thuyết triết học phủ nhận năng lực nhận thức của con người được gọi làthuyêt không hề biêt ( thuyêt bất khả tri ). Theo thuyết này, con người, về nguyên tắc, không hề hiểu được thực chất củađối tượng. Kết quả nhận thức mà lồi người có được, theo thút này, chỉ là hìnhthức bề ngồi, hạn hẹp và cắt xén về đối tượng người dùng. Đại biểu nổi bật cho những nhà triết học bất khả tri cũng chính là Hium vàCantơ. 3. Biện chứng và siêu hìnha. Khái niệm biện chứng và siêu hình trong lịch sửTrong triết học văn minh, đặc biệt quan trọng là triết học mácxít, biện chứng và siêu hìnhdùng để chỉ hai giải pháp tư duy chung nhất trái chiều nhau, đó là phương phápbiện chứng và giải pháp siêu hình. Phương pháp siêu hình, là giải pháp : + Nhận thức đối tượng người tiêu dùng ở trạng thái cô lập, tách rời đối tượng người tiêu dùng ra khỏi những quanhệ được xem xét và coi những mặt trái chiều với nhau có một ranh giới tuyệt đối, và + Nhận thức đối tượng người dùng ở trạng thái tĩnh ; giống hệt đối tượng người dùng với trạng tháitĩnh nhất thời đó. Thừa nhận sự biến hóa chỉ là sự đổi khác về số lượng, về những hiệntượng hình thức bề ngoài. Nguyên nhân của sự biến đởi coi là nằm ở bên ngồi đối tượng người tiêu dùng. Phương pháp biện chứng, là giải pháp : + Nhận thức đối tượng người tiêu dùng trong những mối liên hệ phở biến vốn có của nó. Đốitượng và những thành phần của đối tượng người tiêu dùng ln trong sự chịu ràng buộc, ảnh hưởng tác động nhau, ràng buộc, lao lý lẫn nhau, và + Nhận thức đối tượng người tiêu dùng ở trạng thái luôn hoạt động biến hóa, nằm trong khuynhhướng phở qt là tăng trưởng. Q trình hoạt động này biến hóa cả về lượng và cả vềchất của những sự vật, hiện tượng kỳ lạ. Nguồn gốc của sự hoạt động, thay đởi đó là sự đấutranh của những mặt trái chiều của xích míc nội tại của bản thân sự vật. Phương pháp biện chứng phản ánh hiện thực đúng như nó sống sót. Nhờ vậy, giải pháp tư duy biện chứng trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người nhậnthức và tái tạo quốc tế và là phương pháp luận tối ưu của mọi khoa học. b. Các hình thức của phép biện chứng trong lịch sửCùng với sự tăng trưởng của tư duy con người, giải pháp biện chứng đã trảiqua ba quy trình tiến độ tăng trưởng, được biểu lộ trong triết học với ba hình thức lịch sửcủa nó : phép biện chứng tự phát, phép biện chứng duy tâm và phép biện chứng duyvật. + Phép biện chứng tự phát thời Cổ đại. Các nhà biện chứng cả phương Đônglẫn phương Tây thời Cổ đại đã thấy được những sự vật, hiện tượng kỳ lạ của thiên hà vậnđộng trong sự sinh thành, biến hóa vơ cùng vơ tận. Tuy nhiên, những gì những nhàbiện chứng thời đó thấy được chỉ là trực kiến, chưa có những tác dụng của nghiên cứuvà thực nghiệm khoa học vật chứng. + Phép biện chứng duy tâm. Đỉnh cao của hình thức này được biểu lộ trongtriết học cổ xưa Đức, người khởi đầu là Cantơ và người hồn thiện là Hêghen. Cóthể nói, lần tiên phong trong lịch sử dân tộc tăng trưởng của tư duy trái đất, những nhà triết họcĐức đã trình diễn một cách có mạng lưới hệ thống những nội dung quan trọng nhất củaphương pháp biện chứng. Biện chứng theo họ, khởi đầu từ ý thức và kết thúc ởtinh thần. Thế giới hiện thực chỉ là sự phản ánh biện chứng của ý niệm nên phépbiện chứng của những nhà triết học cổ xưa Đức là biện chứng duy tâm. + Hình thức thứ ba là phép biện chứng duy vật. Phép biện chứng duy vật đượcthể hiện trong triết học do C.Mác và Ph. Ăngghen thiết kế xây dựng, sau đó được V.I.Lêninvà những nhà triết học hậu thế tăng trưởng. C.Mác và Ph. Ăngghen đã gạt bỏ tính thần bí, tư biện của triết học cở điểnĐức, thừa kế những hạt nhân hài hòa và hợp lý trong phép biện chứng duy tâm để xây dựngphép biện chứng duy vật với tính cách là học thuyêt về mối liên hệ phở biên và vềsự tăng trưởng dưới hình thức hồn bị nhất. II. TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VÀ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI1. Sự sinh ra và tăng trưởng của triết học Mác – Lênina. Những điều kiện kèm theo lịch sử vẻ vang của sự sinh ra triết học MácSự Open triết học Mác là một cuộc cách mạng vĩ đại trong lịch sử dân tộc triếthọc. Đó là tác dụng tất yếu của sự tăng trưởng lịch sử vẻ vang tư tưởng triết học và khoa họccủa trái đất, trong sự nhờ vào vào những điều kiện kèm theo kinh tế tài chính – xã hội, mà trực tiếplà thực tiễn đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản với giai cấp tư sản. Đó cũng làkết quả của sự thống nhất giữa điều kiện kèm theo khách quan và tác nhân chủ quan củaC. Mác và Ph. Ăngghen. * Điều kiện kinh tế tài chính – xã hộiSự củng cố và tăng trưởng của phương pháp sản xuất tư bản chủ nghĩa trongđiều kiện cách mạng công nghiệp. Triết học Mác sinh ra vào những năm 40 của thế kỷ XIX. Ở quá trình này, phương pháp sản xuất tư bản tăng trưởng mạnh me dưới sự ảnh hưởng tác động của cuộc cáchmạng cơng nghiệp, bộc lộ rõ tính ưu việt hơn hẳn so với phương pháp sản xuấtphong kiến. Mặt khác, sự tăng trưởng của chủ nghĩa tư bản làm cho những xích míc xã hộicàng thêm nóng bức và thể hiện ngày càng rõ ràng, những xung đột giữa vô sản và tưsản đã trở thành những cuộc đấu tranh giai cấp. Sự Open của giai cấp vô sản trên vũ đài lịch sử vẻ vang với tính cách một lựclượng chính trị – xã hội độc lập là tác nhân chính trị – xã hội quan trọng cho sự rađời triêt học Mác. Thực tiễn xã hội nói chung, nhất là thực tiễn cách mạng vô sản, yên cầu phảiđược soi sáng bởi lý luận nói chung và triết học nói riêng. Chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác nói riêng sinh ra nhằm mục đích cung ứng nhucầu đấu tranh của trào lưu công nhân. * Nguồn gốc lý luận và tiền đề khoa học tự nhiênNguồn gốc lý luậnHọc thuyết của Mác ” sinh ra là sự thừa kế thẳng và trực tiếp những học thuyếtcủa những đại biểu xuất sắc nhất trong triết học, trong kinh tế tài chính chính trị học vàtrong chủ nghĩa xã hội “. Triết học cổ xưa Đức, đặc biệt quan trọng những “ hạt nhân hài hòa và hợp lý ” trong triết học củahai nhà triết học tiêu biểu vượt trội là Hegel và Feuerbach, là nguồn gốc lý luận trực tiếp củatriết học Mác. C.Mác và Ph. Ăngghen đã tiếp thu và tái tạo phép biện chứng của Hegel vàtiếp thu có phê phán quan điểm duy vật của Feuerbac, đồng thời đã tái tạo chủnghĩa duy vật cũ, khắc phục đặc thù siêu hình và những hạn chế lịch sử dân tộc khác củanó. Từ đó C.Mác và Ph. Ăngghen kiến thiết xây dựng nên triết học mới, trong đó chủ nghĩaduy vật và phép biện chứng thống nhất với nhau một cách hữu cơ. Việc thừa kế và tái tạo kinh tế tài chính chính trị học với những đại biểu xuất sắc làAdam Smith ( A.Xmit ) và David Ricardo ( Đ. Ricacđô ) không những làm nguồngốc để thiết kế xây dựng học thuyết kinh tế tài chính mà còn là tác nhân không hề thiếu được trongsự hình thành và tăng trưởng triết học Mác. Sự hình thành và tăng trưởng triết học Mác không hề tách rời sự phát triểnnhững quan điểm lý luận về chủ nghĩa xã hội của Mác. Chủ nghĩa xã hội khôngtưởng Pháp với những đại biểu nổi tiếng như Saint Simon ( Xanh Ximông ) vàCharles Fourier ( Sáclơ Phuriê ) là một trong ba nguồn gốc lý luận của chủ nghĩaMác, ảnh hưởng tác động đến sự hình thành và tăng trưởng của triết học. Tiền đề khoa học tự nhiênCùng với những nguồn gốc lý luận trên, những thành tựu khoa học tự nhiên lànhững tiền đề cho sự sinh ra triết học Mác. Ph. Ăngghen nêu bật ý nghĩa của ba ý tưởng lớn so với sự hình thành triếthọc duy vật biện chứng : định luật bảo tồn và chuyển hóa nguồn năng lượng, thút tếbào và thút tiến hóa của Charles Darwin ( Đácuyn ). Với những ý tưởng đó, khoa học đã vạch ra mối liên hệ thống nhất giữa những dạng sống sót khác nhau, cáchình thức hoạt động khác nhau trong tính thống nhất vật chất của quốc tế, vạch ratính biện chứng của sự hoạt động và tăng trưởng của nó. Như vậy, triết học Mác cũng như hàng loạt chủ nghĩa Mác sinh ra như một tất ́ u lịch sử vẻ vang khơng những vì đời sống và thực tiễn, nhất là thực tiễn cách mạng của10giai cấp cơng nhân, yên cầu phải có lý ḷn mới soi đường mà còn vì những tiền đềcho sự sinh ra lý luận mới đã được trái đất tạo ra. * Nhân tố chủ quan trong sự hình thành triết học MácTriết học Mác Open không chỉ là tác dụng của sự hoạt động và tăng trưởng cótính quy luật của những tác nhân khách quan mà còn được hình thành thơng qua vai tròcủa tác nhân chủ quan. Sở dĩ C.Mác và Ph. Ăngghen đã làm nên được bước ngoặt cách mạng trong líluận và kiến thiết xây dựng được một khoa học triết học mới, là vì hai ơng là những thiên tàikiệt xuất có sự phối hợp thuần thục và thâm thúy những phẩm chất tinh tuý và uyênbác nhất của nhà bác học và nhà cách mạng. Cả C.Mác và Ph. Ăngghen đều xuất thân từ những tầng lớp trên của xã hội đươngthời, nhưng hai ông đều sớm tự nguyện hiến dâng cuộc sống mình cho cuộc đấutranh vì niềm hạnh phúc của trái đất. Thông qua lao động khoa học trang nghiêm, cơng phu, đồng thời thơng qua hoạtđộng thực tiễn tích cực không stress, C.Mác và Ph. Ăngghen đã thực thi mộtbước chuyển lập trường từ dân chủ cách mạng và nhân đạo chủ nghĩa sang lậptrường giai cấp công nhân và nhân đạo cộng sản. Chỉ đứng trên lập trường giai cấp công nhân hai ông mới đưa ra được quanđiểm duy vật lịch sử vẻ vang mà những người bị hạn chế bởi lập trường giai cấp cũ khôngthể đưa ra được. b. Những thời kỳ hầu hết trong sự hình thành và tăng trưởng của Triết họcMác * Thời kỳ hình thành tư tưởng triêt học với bước quá độ từ chủ nghĩa duy tâmvà dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cộng sản ( 1841 1844 ) * Thời kỳ đề xuất kiến nghị những nguyên tắc triêt học duy vật biện chứng và duy vậtlịch sử * Thời kỳ C.Mác và Ph. Ăngghen bổ trợ và tăng trưởng tồn diện lí luậntriết học ( 1848 – 1895 ) c. Thực chất và ý nghĩa cuộc cách mạng trong triết học do C.Mác và11Ph. Ăngghen thực hiệnSự sinh ra của triết học Mác là một cuộc cách mạng vĩ đại trong lịch sử vẻ vang triếthọc trái đất. C.Mác và Ph. Ăngghen, đã khắc phục đặc thù trực quan, siêu hình của chủnghĩa duy vật cũ và khắc phục đặc thù duy tâm, thần bí của phép biện chứng duytâm, phát minh sáng tạo ra một chủ nghĩa duy vật triết học hồn bị, đó là chủ nghĩa duy vậtbiện chứng. C.Mác và Ph. Ăngghen đã vận dụng và lan rộng ra quan điểm duy vật biệnchứng vào điều tra và nghiên cứu lịch sử dân tộc xã hội, phát minh sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử dân tộc – nộidung hầu hết của bước ngoặt cách mạng trong triết học. Ở triết học Mác có sự thống nhất giữa lí luận và thực tiễn là động lực chínhđể C.Mác và Ph. Ăngghen phát minh sáng tạo ra một triết học chân chính khoa học, đồng thờitrở thành một nguyên tắc, một đặc tính mới của triết học duy vật biện chứng. Ở triết học Mác, tính đảng và tính khoa học thống nhất hữu cơ với nhau. Triết học Mác mang tính đảng là triết học duy vật biện chứng đồng thời mang bảnchất khoa học và cách mạng. Triết học Mác sinh ra cũng đã chấm hết tham vọng ở nhiều nhà triết học muốnbiến triết học thành ” khoa học của mọi khoa học “, xác lập đúng đắn mối quan hệgiữa triêt học với khoa học cụ thể. Một trong những đặc trưng điển hình nổi bật của triết học Mác là tính phát minh sáng tạo. Triếthọc Mác là một mạng lưới hệ thống mở luôn luôn được bổ trợ, tăng trưởng bởi những thànhtựu khoa học và thực tiễn. Triết học Mác mang trong mình tính nhân đạo cộng sản. Đó chính là lí ḷnkhoa học xuất phát từ con người, vì tiềm năng giải phóng con người, trước hết làgiải phóng giai cấp cơng nhân, nhân dân lao động khỏi mọi sự áp bức bóc lột, pháttriển tự do, tổng lực con người. d. Giai đoạn Lênin trong sự tăng trưởng Triết học MácV. I.Lênin và những người cộng sản đã kế tục trung thành với chủ, bảo vệ và pháttriển phát minh sáng tạo cả ba bộ phận của chủ nghĩa Mác, phân phối yên cầu khách quan củathời đại mới. 12T hời kỳ 1893 – 1907, V.I.Lênin bảo vệ và tăng trưởng triêt học Mác và chuẩn bịthành lập đảng mácxít ở Nga hướng tới cuộc cách mạng dân chủ tư sản lần thứnhất. Từ 1907 – 1917 là thời kỳ V.I.Lênin tăng trưởng tổng lực triêt học Mác và lãnhđạo trào lưu công nhân Nga, chuẩn bị sẵn sàng cho cách mạng xã hội chủ nghĩa. Từ 1917 – 1924 là thời kỳ Lênin tởng kêt kinh nghiệm tay nghề thực tiễn cách mạng, bởsung, hồn thiện triêt học Mác, gắn liền với việc nghiên cứu và điều tra những yếu tố xây dựngchủ nghĩa xã hội. Thời kỳ từ 1924 đên nay, triêt học Mác – Lênin tiêp tục được những Đảng Cộngsản và công nhân bổ trợ, phát triển2. Đối tượng và tính năng của triết học Mác – Lênina. Khái niệm triết học Mác – LêninTriêt học Mác – Lênin là mạng lưới hệ thống quan điểm duy vật biện chứng về tự nhiên, xã hội và tư duy – thê giới quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng củagiai cấp công nhân, nhân dân lao động và những lực lượng xã hội tiên bộ trong nhậnthức và tái tạo thê giới. Triết học Mác – Lênin là triêt học duy vật biện chứng theo nghĩa rộng. Đó làhệ thống quan điểm duy vật biện chứng cả về tự nhiên, xã hội và tư duy ; là sựthống nhất hữu cơ giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử vẻ vang. Trong triết học Mác – Lênin, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng thống nhấthữu cơ với nhau. Với tư cách là chủ nghĩa duy vật, triết học Mác – Lênin là hìnhthức tăng trưởng cao nhất của chủ nghĩa duy vật trong lịch sử dân tộc triết học – chủ nghĩaduy vật biện chứng. Với tư cách là phép biện chứng, triết học Mác – Lênin là hìnhthức cao nhất của phép biện chứng trong lịch sử vẻ vang triết học – phép biện chứng duyvật. Triết học Mác – Lênin trở thành thế giới quan, phương pháp luận khoa họccủa giai cấp công nhân để nhận thức và tái tạo xã hội. Đồng thời triết học Mác Lênin cũng là thế giới quan và phương pháp luận của nhân lao động, cách mạng vàcác lực lượng xã hội văn minh trong nhận thức và tái tạo xã hội. b. Đối tượng của triết học Mác – Lênin13Triết học Mác – Lênin xác lập đối tượng người dùng nghiên cứu và điều tra là giải quyêt mối quanhệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật biện chứng và nghiên cứu và điều tra nhữngquy luật hoạt động, tăng trưởng chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Đối tượng của triết học Mác – Lênin gồm có cả yếu tố con người. Triết họcMác – Lênin xuất phát từ con người, từ thực tiễn, chỉ ra những quy luật của sự vậnđộng, tăng trưởng của xã hội và của tư duy con người. Triết học Mác – Lênin có mối quan hệ gắn bó ngặt nghèo với những khoa học cụthể. Các khoa học cụ thể cung ứng những tài liệu, đặt ra những yếu tố khoa họcmới, làm tiền đề, cơ sở cho sự tăng trưởng triết học. c. Chức năng của triết học Mác – LêninChức năng thế giới quan và công dụng phương pháp luận là hai công dụng cơbản của triết học Mác – Lênin. Chức năng thê giới quanThế giới quan là hàng loạt những quan điểm về quốc tế và về vị trí của conngười trong quốc tế đó. Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan. Triết họcMác – Lênin đem lại thế giới quan duy vật biện chứng, là hạt nhân quốc tế quancộng sản. Thế giới quan duy vật biện chứng giúp cho con người cơ sở khoa học đi sâunhận thức thực chất của tự nhiên, xã hội và nhận thức được mục tiêu ý nghĩa củacuộc sống. Thế giới quan duy vật biện chứng nâng cao vai trò tích cực, phát minh sáng tạo của conngười. Thế giới quan đúng đắn chính là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực. Với thực chất khoa học và cách mạng, thế giới quan duy vật biện chứng là hạtnhân của hệ tư tưởng của giai cấp công nhân và những lực lượng tân tiến, cách mạng, là cơ sở lý luận trong cuộc đấu tranh với những tư tưởng phản cách mạng, phản khoahọc. Chức năng giải pháp luậnPhương pháp luận là mạng lưới hệ thống những quan điểm, những nguyên tắc xuất phátcó vai trò chỉ huy việc sử dụng những chiêu thức trong hoạt động giải trí nhận thức và hoạtđộng thực tiễn nhằm mục đích đạt hiệu quả tối ưu. 14P hương pháp luận cũng có nghĩa là lý luận về mạng lưới hệ thống giải pháp. Triếthọc Mác – Lênin thực thi công dụng phương pháp luận chung nhất, thông dụng nhấtcho nhận thức và hoạt động giải trí thực tiễn. Vai trò phương pháp luận duy vật biện chứng được biểu lộ trước hết làphương pháp chung của hàng loạt nhận thức khoa học. Phương pháp luận duy vậtbiện chứng trang bị cho con người mạng lưới hệ thống những nguyên tắc chiêu thức luậnchung nhất cho hoạt động giải trí nhận thức và thực tiễn. Để đem lại hiệu suất cao trong nhận thức và hành vi, cùng với tri thức triếthọc, con người cần phải có tri thức khoa học cụ thể và kinh nghiệm tay nghề hoạt động giải trí thựctiễn xã hội. 3. Vai trò của triết học Mác – Lênin trong đời sống xã hội và trong sựnghiệp thay đổi ở Nước Ta hiện nayTriết học Mác – Lênin là thế giới quan, phương pháp luận khoa học và cáchmạng cho con người trong nhận thức và thực tiễn. Triết học Mác – Lênin là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa họcvà cách mạng để nghiên cứu và phân tích xu thế tăng trưởng của xã hội trong điều kiện kèm theo cuộccách mạng khoa học và công nghệ tiên tiến tân tiến tăng trưởng mạnh me. Triết học Mác – Lênin là cơ sở lý luận khoa học của công cuộc kiến thiết xây dựng chủnghĩa xã hội trên quốc tế và sự nghiệp thay đổi theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa ởViệt Nam. 15