Chu nghia Mac-Lenin
Ănggen
Chống Duyhring
VIII. Triết học về tự nhiên giới hữu cơ (hết)
“Xin hãy cân nhắc xem…. cần phải có
những tri thức thực chứng nào để cho
chương chúng ta nói về triết học về tự
nhiên có cả tất cả những tiên đề khoa
học của nó. Làm cơ sở cho nó trước hết
là tất cả những thành tựu cơ bản của
toán học, rồi đến những luận điểm
chủ yếu của khoa học chính xác trong cơ học,
vật lý và hoá học, cũng như những kết
quả của khoa học tự nhiên nói chung trong sinh lý
học, động vật học và những lĩnh
vực nghiên cứu tương tự khác”.
ông Đuy-rinh nói một cách vững tin và quả
quyết như vậy về sự uyên bác của ông
Đuy-rinh về toán học và khoa học tự nhiên.
Nhưng xét theo chính ngay cái chương nghèo nàn đó và theo
những kết quả còn nghèo nàn hơn nữa của nó,
người ta không hề thấy một sự sâu sắc
đến tận gốc nào của những tri thức
thực chứng ẩn giấu trong đó. Dầu sao,
muốn đặt ra được những câu sấm
truyền kiểu của ông Đuy-rinh về vật lý
học và hoá học thì trong vật lý học cũng
chẳng cần biết gì hơn ngoài các phương trình
biểu hiện đương lượng cơ của nhiệt,
và trong hoá học chỉ cần biết cái sự thật
là tất cả các vật thể đều có thể chia
thành những nguyên tố và thành những kết hợp
nguyên tố. Ngoài ra, người nào có thể nói đến
những “nguyên tử có sức hút” như ông
Đuy-rinh ở tr. 131 thì người đó chứng tỏ
rằng mình hoàn toàn còn nằm “ở trong bóng
tối” trong vấn đề sự khác nhau giữa
nguyên tử và phân tử. Mọi người đều
biết rằng người ta dùng nguyên tử không phải
để giải thích sức hút hay hình thức vận
động cơ học hay vận động vật lý,
mà chỉ để giải thích tác dụng hoá học. Và
khi người ta đọc chương nói về giới
tự nhiên hữu cơ, với cái cách nói dông dài
trống rỗng, trái ngược và trong những điểm
quyết định thì lại vô nghĩa như những
câu sấm truyền, với cái kết quả cuối cùng
hoàn toàn vô giá trị, – thì ngay từ đầu người
ta cũng đã không thể kìm được cái ý kiến
cho rằng ở đây ông Đuy-rinh đang nói đến
những điều mà ông ta hiểu biết ít một cách
kỳ lạ. Ý kiến ấy trở thành một niềm
tin vững chắc khi trong học thuyết về sinh
vật hữu cơ (sinh vật học) người ta thấy
ông Đuy-rinh đề nghị dùng cấu tạo thay cho
phát triển. Người nào có thể đề nghị
một điều như vậy, thì người
ấy chứng tỏ rằng mình không hiểu biết tí gì
về sự hình thành của các thể hữu cơ.
Tất cả các thể hữu cơ, trừ
những thể thấp nhất, đều gồm
những tế bào, tức là những hòn an-bu-min nhỏ,
chỉ nhìn thấy khi được phóng đại lên
rất nhiều, và có một nhân tế bào ở bên trong.
Thông thường, tế bào cũng có một màng bọc
ngoài và khi đó nội dung của nó ít nhiều có tính
chất lỏng. Những thể tế bào thấp nhất
gồm một tế bào duy nhất; còn tối đại
đa số các sinh vật hữu cơ thì gồm nhiều
tế bào, đều là những phức tạp hợp có
tổ chức chặt chẽ gồm nhiều tế bào, –
những tế bào này, trong các cơ thể thấp, thì còn
giống nhau, nhưng trong các cơ thể cao hơn thì ngày
càng khác nhau về hình thức, về loại và về tác
dụng. Ví dụ trong thân thể con người thì
xương, bắp thịt, thần kinh, gân, các dây
chằng sụn, da, tóm lại tất cả các tổ
chức đều do tế bào hợp thành hoặc từ
tế bào mà phát triển lên. Song ở tất cả các
thể hữu cơ có tế bào, từ a-mip là một hòn
an-bu-min nhỏ giản đơn, thường không có màng
bọc nhưng có một nhân ở bên trong, cho đến
con người, và từ cây táo đơn bào Desmidiacee
nhỏ nhất đến một thực vật phát
triển cao nhất, thì cách sinh sôi nảy nở của
tế bào đều giống nhau: bằng cách phân
đôi.Thoạt đầu, nhân tế bào thắt lại
ở khoảng giữa, sự thắt lại ấy- phân
hai nửa hình cầu của nhân ngày càng mạnh hơn, và
cuối cùng hai nửa ấy tách hẳn nhau và hình thành hai
nhân tế bào.Một quá trình như vậy cũng diễn
ra trong bản thân tế bào; mỗi một nhân trong hai nhân
tế bào ấy trở thành một trung tâm tích luỹ
chất nguyên sinh, trung tâm này gắn liền với trung tâm
kia bằng một chỗ thắt lại ngày càng hẹp,
cho đến khi cuối cùng, hai trung tâm đó tách rời
nhau và tiếp tục tồn tại dưới hình
thức những tế bào độc lập. Thông qua
sự phân đôi lắp đi lắp lại như vậy
của các tế bào mà phôi của trứng động
vật sau khi thụ tinh, phát triển dần dần thành
một động vật hoàn toàn thành thực, và ở
một động vật đã phát triển các tổ
chức bị hao mòn cũng được thay thế theo
cách ấy. Chắc chắn rằng chỉ có người
nào hoàn toàn không hiểu biết quá trình ấy – dẫu cho
ngày nay khó mà cho rằng có một trường hợp
như thế – mới dám gọi quá trình đó là cấu
tạo và coi việc dùng từ phát triển để
chỉ quá trình đó là một “sự tưởng tượng
thuần tuý”; ở đây chỉ xảy ra có sự phát
triển, hơn nữa lại theo đúng nghĩa nhất
của từ đó chứ không có chút gì là cấu thành cả
!.
Nói chung ông Đuy-rinh hiểu sự sống như
thế nào, thì sau đây chúng ta sẽ còn phải nói thêm
một cái gì đó. Còn nói riêng thì ông ta quan niệm sự
sống như sau:
“Giới vô cơ cũng là một hệ
thống những kích thích tự chúng diễn ra, nhưng
chỉ nơi nào bắt đầu có sự phân chia
thực sự, và sự tuần hoàn của các chất
dược thực hiện thông qua những con kênh
đặc biệt, từ một điểm bên bên trong và
theo một sơ đồ phôi có thể chuyển
được sang một cấu trúc nhỏ hơn, – thì
chúng ta mới có thể nói đến sự sống
thực sự, theo nghĩa chặt chẽ và đúng
đắn của nó.”
Chưa nói đến cái ngữ pháp rối
rắm, bất lực, thì mệnh đề này, theo ý
nghĩa thật chặt chẽ và đúng đắn
của nó, là một hệ thống những kích thích tự
chúng diễn ra (dù điều này có nghĩa là như thế
nào chăng nữa) của những điều vô nghĩa.
Nếu sự sống chỉ bắt đầu khi nào
bắt bắt đầu có sự phân chia thực sự
thì chúng ta phải tuyên bố rằng toàn bộ giới
đơn tế bào của Haeckel – và có lẽ còn nhiều
hơn thế nữa – đều là vật chất,
tuỳ theo chúng ta hiểu sự phân chia là cái gì. Nếu
sự sống chỉ bắt đầu khi nào sự phân
chia ấy có thể truyền lại được
nhờ một sơ đồ phôi nhỏ hơn thì ít
nhất tất cả các thể hữu cơ, kể cả
những thể hữu cơ đơn bào, đều không
phải là vật sống. Nếu sự tuần hoàn
của các chất thông qua những con kênh đặc
biệt là dấu hiệu của sự sống, thì ngoài các
sinh vật nói trên, chúng ta lại còn phải loại trừ
ra khỏi hàng ngũ của sinh vật toàn bộ loài
ruột khoang cấp cao, có lẽ chỉ trừ loài
sứa, tức là phải loại trừ tất cả loài
san hô và thực trùng khác nữa[25]. Và nếu sự
tuần hoàn vật chất thông qua những con kênh
đặc biệt bắt đầu từ một
điểm bên trong là dấu hiệu cơ bản của
sự sống thì chúng ta lại cũng phải tuyên bố
rằng tất cả các động vật không có tim hay có
nhiều tim, đều là những vật chết. Như
vậy có nghĩa là ngoài những sinh vật đã nói trên
kia, còn phải kể thêm tất cả loài giun, loài sao
bể, loài luân trùng (Annuloida và Annulosa, theo sự phân loại
của Huxley), một phần loài giáp xác (tôm) và cuối cùng
thậm chí cả một động vật có xương
sống là con cá kim (Amphioxus). Thuộc về số này có
cả toàn bộ các thực vật nữa.
Như vậy, khi muốn nêu rõ đặc
điểm của sự sống thực sự theo ý
nghĩa chặt chẽ và đúng đắn của từ
đó, ông Đuy-rinh đưa ra bốn dấu hiệu
của sự sống hoàn toàn mâu thuẫn với nhau, trong
đó một dấu hiệu đã khép vào tội chết vĩnh
viễn không những toàn bộ giới thực vật mà
cả gần nửa giới động vật nữa.
Thật vậy, không ai có thể nói rằng ông Đuy-rinh
đã lừa dối chúng ta khi ông hứa sẽ mang lại
cho chúng ta. “những kết luật và quan điểm
hết sức độc đáo!”
Ở một đoạn khác, ông ta nói:
“Trong giới tự nhiên cũng vậy, làm
cơ sở cho tất cả mọi tổ chức từ
cấp thấp nhất cho đến cấp coa nhất, là
một loại hình đơn giản”, và loại hình
ấy “trong cái bản chất phổ biến của
nó, bộc lộ ra một cách hoàn toàn và đầy
đủ trong sự vận động thứ yếu
nhất của giống thực vật kém hoàn bị
nhất.”
Lời khẳng định này, một lần
nữa, là một điều vô nghĩa “hoàn toàn và
đầy đủ”. Loại hình đơn giản
nhất mà người ta thấy trong toàn bộ giới
hữu cơ là tế bào; và cố nhiên, tế bào cũng
làm cơ sở cho những tổ chức cấp cao nhất.
Nhưng trong những cơ thể cấp thấp nhất,
lại còn có rất nhiều cái thấp hơn tế bào
rất nhiều như : prô-ta-mip, một hạt an-bu-min
đơn giản không có một sự phân hoá nào cả,
rồi cả một hệ thống nguyên trùng (Monere) khác và
tất cả những loài tảo hình ống (Siphoneen) nữa.
Tất cả những cơ thể ấy gắn liền
với các cơ thể cấp cao chỉ vì thành phần
cơ bản của nó là an-bu-min và do đó chúng thực
hiện những chức năng của an-bu-min, tức là
sống và chết.
ông Đuy-rinh kể tiếp với chúng ta như
sau:
“Về mặt sinh lý, cảm giác gắn
liền với sự tồn tại của một bộ
máy thần kinh nào đó, dù là rất đơn giản. Cho
nên đặc trưng của tất cả mọi hình
thức động vật là năng lực cảm giác,
nghĩa là năng lực nhận thức một cách có ý
thức và chủ quan về trạng thái của chúng. Ranh
giới rõ ràng giữa thực vật và động vật
là cái điểm ở đó bước nhảy vọt
sang cảm giác được thực hiện. Ranh giới
đó không những không bị xoá nhoà bởi những hình
thức quá độ mà mọi người đều
biết, nó trở thành một nhu cầu lôgích chính là thông
qua những hình thức bề ngoài chưa dứt khoát
hoặc không xác định được ấy”.
Rồi ông lại nói:
“Ngược lại, thực vật hoàn toàn và
vĩnh viễn không có một chút cảm giác nào và cũng
không có bất kỳ một năng lực cảm giác
nào.”
Thứ nhất, Hegel (“Triết học của
tự nhiên”, 351), phụ lục) nói rằng
“cảm giác là differentia specifica”, là dấu
hiện đặc trưng tuyệt đối của
động vật”.
Đây lại là một “ý kiến khó tiêu”
của Hegel, mà chỉ nhờ có quá trình thôn tính của ông
Đuy-rinh mới được nâng lên địa vị
cao quý của một chân lý tuyệt đỉnh cuối
cùng.
Thứ hai, đây là lần đầu tiên chúng ta
nghe nói đến những hình thức quá độ,
những hình thức bề ngoài không dứt khoát hoặc
không xác định được (lời lẽ mới
khó hiểu làm sao!) giữa thực vật và động
vật. Đúng là có những hình thức quá độ
đó; có những thể hữu cơ mà chúng ta không thể
nói dứt khoát rằng đó là thực vật hay là
động vật; do đó chúng ta không thể xác
định một ranh giới rõ ràng giữa thực
vật và động vật, – chính sự thực ấy
đã tạo ra cho ông Đuy-rinh cái nhu cầu lôgich phải
đưa ra một tiêu chuẩn để phân biệt, một
tiêu chuẩn mà bản thân ông ta cũng vội vàng thừa
nhận ngay là không có cơ sở ! nhưng chúng ta cũng
không cần đi ngược trở lại lĩnh
vực không rõ ràng giữa động vật và thực
vật làm gì ; lẽ nào những cây hố ngươi
hễ bị người ta đụng đến là cụp
lá hay cánh hoa của chúng lại, lẽ nào những cây ăn
sâu bọ, – đều hoàn toàn không có một chút cảm giác
nào và cũng hoàn toàn không có bất kỳ một năng
lực cảm giác nào hay sao ? Đó là điều mà bản
thân ông Đuy-rinh cũng không dám khẳng định
nếu ông ta không muốn rơi vào “thứ nửa
thơ ca không khoa học”.
Thứ ba, đây cũng lại là một
điều sáng tạo và tưởng tượng tự do
của ông Đuy-rinh khi ông ta khẳng định rằng
về mặt sinh lý[26], cảm giác gắn liền
với sự tồn tại của một bộ máy
thần kinh nào đó, dù là rất đơn giản. Không
những tất cả những động vật nguyên
thuỷ nhất mà cả những thực trùng, – ít nhất
là tối đại đa số các thực trùng – cũng
đều không có một chút dấu vết nào của
bộ máy thần kinh cả. Chỉ kể từ loài giun
trở đi thì thông thường người ta mới
thấy có bộ máy thần kinh, và ông Đuy-rinh là
người đầu tiên nói rằng những con vật
đó không có cảm giác vì chúng không có thần kinh. Cảm
giác không nhất định phải gắn liền với
thần kinh, nhưng chắc chắn là gắn liền
với một số thể an-bu-min nào đó, cho
đến nay vẫn còn chưa xác định
được chính xác hơn.
Vả lại, những tri thức của ông
Đuy-rinh về sinh vật học cũng đã biểu
lộ ra đầy đủ qua câu hỏi mà ông không
ngại nêu ra để chống lại Darwin:
“Lẽ nào động vật lại phát
triển từ thực vật lên hay sao?”
Chỉ có người không hiểu chút gì về
động vật và thực vật, mới có thể nêu
ra những câu hỏi như vậy.
Về sự sống nói chung, ông Đuy-rinh chỉ
biết nói với chúng ta như sau:
“Sự trao đổi chất được
tiến hành thông qua một sự sơ đồ hoá
cấu tạo một cách uyển chuyển” (cái này là
cái gì vậy?)”bao giờ cũng vẫn là một
dấu hiệu đặc trưng của quá trình sống
theo đúng nghĩa của từ đó.”
Đó là tất cả những điều mà chúng
ta biết được về sự sống, thêm nữa
nhân cái “sự sơ đồ hoá cấu tạo một
cách uyển chuyển” đó chúng ta bị sa lầy
đến tận đầu gối trong cái mớ
những lời rối rắm vô nghĩa của cái lối
tiếng lóng thuần tuý kiểu Đuy-rinh. Vì vậy,
nếu chúng ta muốn biết sự sống là gì thì chúng ta
phải tự mình tìm hiểu vấn đề sâu hơn
một chút.
Sự trao đổi chất hữu cơ là
hiện tượng phổ biến nhất và đặc
trưng nhất của sự sống, điều này
đã được các nhà chuyên môn về sinh hoá và hoá sinh
nói đi nói lại không biết bao nhiêu lần từ ba
mươi năm nay và ở đây ông Đuy-rinh chỉ
chuyển lời khẳng định đó thành thử ngôn
ngữ tao nhã và trong sáng đặc biệt của ông ta.
Nhưng định nghĩa sự sống là sự trao
đổi chất hữu cơ, – điều đó có
nghĩa là định nghĩa sự sống là …. sự
sống; bởi vì sự trao đổi chất hữu cơ
hay sự trao đổi chất thông qua một sự
sơ đồ hoá cấu tạo một cách uyển
chuyển, lại chính là một biểu hiện mà
đến lượt nó cũng cần được
giải thích bằng sự sống, cần được
giải thích bằng sự khác biệt giữa hữu
cơ và vô cơ, nghĩa là giữa sống và không sống.
Như vậy, lối giải thích đó không làm cho chúng ta
tiến thêm được một bước nào cả.
Sự trao đổi chất với tính cách là
một sự trao đổi như vậy cũng diễn
ra ở bên ngoài sự sống. Trong hoá học, có cả
một loạt những quá trình mà khi có luồng nguyên
liệu đầy đủ thì luôn luôn tạo ra những
điều kiện để phục hồi lại
những quá trình đó, hơn nữa lại tạo ra
như thế nào để cho ở đây một vật
thể nhất định lại là vật mang quá trình. Ví
dụ như trong việc chế tạo axit xun-phu-ríc
bằng cách đốt lưu huỳnh. Quá trình đó
tạo ra khí xun-phu-rơ, SO2, và nếu người
ta cho hơi nước và axit ni-tric vào thì khí xun-phu-ric, H2SO4.
A-xít ni-tric mất ô xy và biến thành ni-trô ô xít: ni-trô ô xít
lại thu hút ngay ô-xy trong không khí mà biến thành ni-trô-ô-xít:
ni-trô-ô-xít lại thu hút ngay ôxy trong không khí mà biến thành
những ô xít cao cấp của nitơ, nhưng chỉ là
để chuyển ngay ôxy đó cho khi sunphurơ và bắt
đầu trở lại quá trình cũ, thành thử về
mặt lý luận mà nói, chỉ cần một lượng
rất nhỏ axit nitric là đủ để biến
một lượng vô tận khí xunphurơ, ô xy và
nước thành axit xun-phu-ric, – Ngoài ra, sự trao
đổi chất cũng xẩy ra trong trường
hợp các chất lỏng thấm qua những màng hữu
cơ chết, thậm chí qua cả những màng vô cơ,
như trong những tế bào nhân tạo của Traube[27].
Ở đây, một lần nữa chúng ta lại thấy
rằng sự trao đổi chất không làm cho chúng ta
tiếp thêm được một bước nào; bởi
sự trao đổi chất độc đáo mà người
ta dùng để giải thích sự sống, lại cũng
cần được giải thích bằng sự sống.
Cho nên chúng ta phải tìm một giải thích khác.
Sự sống là phương thức tồn
tại của những thể an-bu-min, và phương
thức tồn tại này, về căn bản, bao hàm
ở sự thường xuyên tự đổi mới của
những thành phần hoá học của những thể
ấy.
Ở đây, thể an-bu-min được
hiểu theo nghĩa của hoá học hiện đại,
môn học này dùng cái tên gọi đó để chỉ
tất cả những vật thể có thành phần
tương tự như an-bu-minh thông thường và
cũng còn được gọi là prô-tê-in. Cái tên gọi
ấy không thành công lắm vì trong tất cả các chất
tương tự với nó thì an-bu-min thông thường là
chất có một tác dụng kém sinh động nhất,
bị động nhất, do chỗ cùng với lòng
đỏ trứng, nó chỉ là chất dinh dưỡng cho
cái phôi đang phát triển mà thôi. Tuy nhiên, chừng nào người
ta còn biết rất ít như thế về thành phần hoá
học của các chất an-bu-min thì cái tên gọi ấy
vẫn còn tốt hơn những tên gọi khác vì nó có tính
chất an-bu-minh thì cái tên gọi ấy vẫn còn tốt
hơn những tên gọi khác vì nó có tính chất chung
hơn.
Bất cứ ở chỗ nào mà chúng ta thấy có
sự sống thì chúng ta thấy rằng sự sống
gắn liền với một thể an-bu-min; và bất
cứ ở chỗ nào mà chúng ta thấy có một thể
an-bu-min không nằm trong quá trình tan rã thì ở đó, không có
ngoại lệ, chúng ta cũng thấy những hiện
tượng của sự sống. Chắc chắn là trong
cơ thể sống, cũng cần phải có những hoá
hợp khác để gây nên những sự phân hoá
đặc biệt của các hiện tượng ấy
của sự sống; nhưng đối với sự
sống đơn thuần thì những hoá hợp ấy là
khong cần thiết hoặc chỉ cần thiết trong
chừng mực chúng được dùng làm thức ăn và
biến thành an-bu-min. Những sinh vật cấp thấp
nhất mà chúng ta đã biết chẳng qua chỉ là
những hạt an-bu-min đơn giản thôi, thế mà
chúng cũng đã biểu lộ tất cả những
hiện tượng cơ bản của sự sống.
Nhưng những hiện tượng ấy
của sự sống mà chúng ta thấy có một cách
giống nhau ở khắp mọi nơi, ở mọi sinh
vật, là gì? Trước hết, là ở chỗ thể
an-bu-min thu hút ở môi trường xung quanh nó những
chất khác thích hợp với nó và đồng hoá những
chất này, còn những bộ phận khác, già cỗi,
của thể đó bị phân giải và bị bài tiết
ra. Những thể khác, những thể không sống,
cũng biến đổi, phân giải hay hoá hợp trong
tiến trình của quá trình tự nhiên; nhưng đồng
thời những thể ấy không còn là những thể
như cũ nữa. Tảng đá đã phong hoá không còn là
những thể như cũ nữa. Tảng đá đã
phong hoá không còn là tảng đá nữa; kim loại bị
ôxy hoá, biến thành gỉ. Nhưng cái là nguyên nhân của
sự huỷ hoại ở các vật thể chết thì
lại là điều kiện cơ bản của sự
sống ở chất an-bu-min. Một khi mà trong thể an-bu-min
sự chuyển hoá liên tục của các thành phần,
tức là sự thay thế thường xuyên của dinh
dưỡng và bài tiết, ngừng lại, – thì từ khi
đó bản thân thể an-bu-min cũng ngừng tồn
tại, phân giải ra, nghĩa là chết. Vậy, sự
sống, phương thức tồn tại của thể
an-bu-min, trước hết là ở chỗ bất cứ
lúc nào nó cũng vừa là chính nó, lại đồng
thời vừa là cái khác; và như thế không phải do
một quá trình nào tác động từ bên ngoài vào nó, như
điều đó thường cũng xẩy ra đối
với các thể chết. Trái lại, sự sống,
tức là sự trao đổi chất, diễn ra thông qua
sự dinh dưỡng và bài tiết, là một quá trình
tự thực hiện, một quá trình cố hữu
bẩm sinh của cái mang nó là an-bu-min, một quá trình mà không
có nó thì không thể có an-bu-min được. Từ đó
phải kết luận rằng nếu sau này hoá học
sản xuất ra được an-bu-min bằng con
đường nhân tạo thì an-bu-min đó nhất
định sẽ phải biểu lộ những hiện
tượng của sự sống, dù là những hiện
tượng rất yếu ớt đi nữa. Dĩ nhiên
một câu hỏi nữa được đặt ra là
liệu hoá học có đồng thời phát hiện ra
được một thức ăn phù hợp với
an-bu-min ấy hay không.
Từ sự trao đổi chất tiến hành
thông qua dinh dưỡng và bài tiết là chức năng
chủ yếu của an-bu-min, và từ tính mềm dẻo
mà an-bu-min vốn có, đã nảy sinh ra tất cả
những nhân tố đơn giản nhất khác của
sự sống: tính dễ bị kích thích – đã bao hàm trong
tác dụng qua lại giữa an-bu-min và thức ăn
của nó; tính co rút – đã biểu lộ ra ở trình
độ rất thấp, việc hấp thụ thức
ăn; năng lực sinh trưởng – đã bao gồm
ở trình độ thấp nhất, sự sinh sản
bằng sự phân đôi; sự vận động bên
trong, – mà nếu không có thì không thể thu hút và đồng
hoá thức ăn được.
Định nghĩa của chúng tôi về sự
sống tất nhiên còn rất thiếu sót, vì nó còn xa
mới có thể bao gồm được tất cả
những hiện tượng của sự sống, mà trái
lại chỉ bó hẹp ở những hiện tượng
chung nhất và đơn giản nhất. Đứng
về mặt khoa học mà nói thì mọi định
nghĩa đều chỉ có một giá trị nhỏ thôi.
Muốn hiểu biết một cách thực sự thấu
đáo sự sống là gì, chúng ta phải khảo sát
tất cả các hình thức biểu hiện của sự
sống, từ hình thức thấp nhất cho đến
hình thức cao nhất. Nhưng để sử dụng
trong đời sống thường ngày thì những
định nghĩa như trên lại rất tiện
lợi và đôi khi không có thì không thể được;
những định nghĩa ấy cũng không thể có
hại, miễn là người ta không quên những thiếu
sót không sao tránh khỏi của chúng.
Nhưng chúng ta hãy trở lại với ông
Đuy-rinh. Khi ông ta thấy không được may mắn
lắm trong lĩnh vực sinh vật học trên trần
thế thì ông ta lại biết cách tự an ủi – ông ta
trốn vào bầu trời đầy sao của ông.
“Không phải chỉ có sự cấu tạo
đặc biệt của khí quan cảm giác mà cả toàn
bộ thế giới khách quan cũng đều
được cấu tạo để gây ra khoái lạc
và đau khổ. Vì lý do ấy, chúng tôi thừa nhận
rằng sự đối lập giữa khoái lạc và
đau khổi, hơn nữa, sự đối lập
ấy, đúng là dưới hình thức mà chúng ta
đều biết – là một sự đối lập
phổ biến và phải được đại
biểu trong các thế giới khác nhau của vũ trụ
bởi những tình cảm về bản chất là
đồng nhất… Sự trùng hợp ấy có một ý
nghĩa không nhỏ, vì nó là cái chìa khoá để tìm hiểu
vũ trụ của cảm giác… bởi vậy,
đối với chúng ta, thế giới vũ trụ
chủ quan cũng không xa lạ gì lắm so với thế
giới vũ trụ khách quan. Sự cấu tạo của
hai lĩnh vực đó phải được quan niệm
theo một kiểu mẫu đồng nhất và như
thế chúng ta mới có được những mầm
mống của học thuyết về ý thức, một
học thuyết có một tầm quan trọng còn lớn
hơn tầm quan trọng ở trên trái đất
nữa”.
Một vài sai lầm trắng trợn trong khoa
học tự nhiên trên trái đất phỏng có ý nghĩa
gì đối với một người đã có sẵn
trong túi mình cái chìa khoá để mở vũ trụ của
cảm giác? Alloss doc!”.
[Chương trước]
[Mục lục]
[Chương tiếp theo]






