Đại suy thoái – Wikipedia tiếng Việt
Đại suy thoái (tiếng Anh: Great Recession) hay cuộc suy thoái toàn cầu 2009 là cuộc suy thoái kinh tế và suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế diễn ra đồng thời ở nhiều nước, nhiều khu vực trên thế giới, có nguồn gốc từ suy thoái kinh tế Hoa Kỳ cuối thập niên 2000 và khủng hoảng tài chính 2007-2010. Mức độ và quy mô của đợt suy thoái này lớn đến mức nhiều người gọi nó Đại Suy thoái.[1][2][3][4] (hay đôi khi còn gọi là Tiểu Khủng hoảng,[5] Suy thoái dài,[6] hoặc Suy thoái toàn cầu 2009[7][8]) Thậm chí có người gọi nó là Đại Khủng hoảng thứ hai[9] mặc dù các học giả kinh tế không nghĩ như vậy.
Bong bóng bất động sản của Hoa Kỳ bị vỡ dẫn tới khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp rồi phát triển thành một cuộc khủng hoảng tài chính mà hậu quả là tình trạng đói tín dụng ảnh hưởng tới khu vực kinh tế thực. Vỡ bong bóng nhà ở cũng dẫn tới suy giảm tiêu dùng cá nhân ở Hoa Kỳ. Sự bất trắc trong đời sống kinh tế và kinh doanh càng làm cho tiêu dùng và sản xuất bị hạn chế. Ba nhân tố này gây ra suy thoái kinh tế ở Hoa Kỳ từ năm 2008. Nhiều nước trên thế giới có các tổ chức tài chính đã tham gia vào thị trường tín dụng nhà ở thứ cấp ở Hoa Kỳ. Khi các tổ chức tài chính này bị thua lỗ, tình trạng rối loạn tài chính, thậm chí là khủng hoảng tài chính đã xảy ra ở nhiều nước khiến cho các nước này rơi vào suy thoái kinh tế hoặc suy giảm tốc độ tăng trưởng. Do Hoa Kỳ, châu Âu và Nhật Bản là những thị trường xuất khẩu quan trọng của nhiều nước đang phát triển (nhất là khu vực Đông Á) nên suy thoái và suy giảm tăng trưởng kinh tế từ thế giới phát triển đã làm giảm xuất khẩu của các nước đang phát triển. Đồng thời, vì các nước phát triển là nguồn cung cấp các khoản vay ngân hàng, các khoản vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp cho các nước đang phát triển, nên khi các nước phát triển dừng cho vay, dừng giải ngân hay rút vốn về, nhiều nền kinh tế đang phát triển đã bị tác động tiêu cực nghiêm trọng. Giảm sản xuất trên quy mô toàn cầu dẫn tới giảm lượng cầu về năng lượng và nguyên liệu, khiến cho các nước xuất khẩu dầu và nguyên liệu bị giảm đáng kể nguồn thu từ xuất khẩu các yếu tố này. Vì thế, suy thoái và suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế lan sang cả các nước xuất khẩu dầu mỏ ở Trung Đông, Nam Mỹ, Trung Á và Nga vốn được lợi suốt một thời gian khá dài từ giá dầu tăng.[10][11]
Bạn đang đọc: Đại suy thoái – Wikipedia tiếng Việt
Để ngăn ngừa suy giảm tăng trưởng, Phục hồi kinh tế, hầu hết các nước bị ảnh hưởng tác động đã vận dụng tích cực chủ trương kích thích kinh tế, đặc biệt quan trọng là kích thích, [ 12 ] khiến cho có nhiều quan điểm chứng minh và khẳng định sự trở lại của chủ nghĩa Keynes. Sự hợp tác quốc tế trải qua forum G20 đã làm tăng vị thế của các nước đang tăng trưởng, nhất là của Trung Quốc. [ 13 ]Đến giữa năm 2009, tín hiệu hồi sinh kinh tế đã mở màn thấy ở các nước bị tác động ảnh hưởng. [ 14 ]
Các khu vực[sửa|sửa mã nguồn]
Các nước tăng trưởng[sửa|sửa mã nguồn]
Các nước tăng trưởng nói chung khởi đầu suy giảm vận tốc tăng trưởng từ quý III năm 2007 và GDP mở màn giảm từ quý III năm 2008. Quý IV năm 2008 ghi nhận mức thu hẹp GDP của các nước tăng trưởng nói chung lên đến 7,97 % .Hoa Kỳ là TT của suy thoái kinh tế toàn thế giới mặc dầu không phải là nước suy thoái nghiêm trọng nhất. Theo cách xác lập suy thoái kinh tế của NBER, kinh tế Hoa Kỳ rơi vào suy thoái từ tháng 12 năm 2007. [ 16 ] Còn theo cách xác lập suy thoái tức là 2 quý liên tục có GDP giảm thì kinh tế Hoa Kỳ rơi vào suy thoái khởi đầu từ quý III năm 2008 với mức giảm lớn kỷ lục kể từ sau Chiến tranh quốc tế thứ hai. [ 17 ] [ 18 ] Quỹ Tiền tệ Quốc tế ước đạt rằng nền kinh tế Hoa Kỳ năm 2009 thu hẹp 2,6 %. Tỷ lệ thất nghiệp ở Hoa Kỳ đã tăng từ mức 4,9 % vào tháng 12 năm 2007 [ 19 ] lên 9,5 % vào tháng 6 năm 2009. [ 20 ] Nhiều ngành kinh tế của Hoa Kỳ thu hẹp sản xuất. Ngành sản xuất xe hơi bị khủng hoảng cục bộ nghiêm trọng đến mức Big Three phải bán đi một số ít tên thương hiệu và Trụ sở của mình. GM và Chrysler phải chịu phá sản và đồng ý tái cơ cấu tổ chức dưới sự giám sát của nhà nước .Trong các nước tăng trưởng, Đức và Nhật Bản là những nước mà GDP giảm mạnh nhất. Cả hai đều là những nền kinh tế hướng vào xuất khẩu và bị ảnh hưởng tác động xấu đi nghiêm trọng. Nhiều thể chế kinh tế tài chính của Đức tham gia vào thị trường tín dụng thanh toán thứ cấp ở Hoa Kỳ khiến cho khu vực kinh tế tài chính của Đức bị rối loạn. Tuy khu vực kinh tế tài chính của Nhật Bản vẫn vững vàng, nhưng việc có nhiều công ty Hoa Kỳ phát hành trái phiếu tại kinh doanh thị trường chứng khoán Tokyo đã khiến cho kinh doanh thị trường chứng khoán của Nhật Bản bị chao đảo và ảnh hưởng tác động tới năng lực kêu gọi vốn của các công ty Nhật Bản. Hậu quả là cả hai nước đều lâm vào suy thoái từ quý II năm 2008. [ 21 ] Năm 2009, GDP của Đức giảm 6,2 % ; và dự báo sẽ còn giảm trong năm 2010. Còn GDP của Nhật Bản năm 2009 cũng giảm tới 6 %. Thống kê cho thấy Nhật Bản đã bị giảm kim ngạch xuất khẩu và giảm sản lượng sản xuất ở mức kỷ lục. [ 22 ] Những nước tăng trưởng lớn khác bị giảm GDP là Anh, Canada, Pháp, Tây Ban Nha, Ý. Cả khu vực đồng euro nói chung giảm 4,8 % trong năm 2009 và dự báo sẽ còn giảm 0,3 % trong năm 2010 .
Trong các nước OECD, chỉ có Hy Lạp, Hàn Quốc, Ba Lan, Slovaky là không bị rơi vào suy thoái kinh tế (theo cách xác định suy thoái là hai quý liên tục tăng trưởng dưới 0), song vẫn bị suy giảm tốc độ tăng trưởng.[21]
Các nước công nghiệp hóa mới châu Á đều là những nền kinh tế theo xu thế xuất khẩu. Suy giảm tăng trưởng kinh tế quốc tế đã làm GDP của các nước này đang từ chỗ tăng tới 5,1 % trong năm 2005 giảm xuống chỉ còn tăng 1,5 % trong năm 2008 và dự kiến sẽ giảm 5,2 % trong năm 2009. Các nước và chủ quyền lãnh thổ lâm vào suy thoái là Hồng Kông [ 23 ] và Nước Singapore ( từ quý IV năm 2008 ) [ 24 ] .
Ấn Độ, Brasil và Trung Quốc bị suy giảm vận tốc tăng trưởng trong năm 2008 nhưng đã nhanh gọn trở lại tăng trưởng nhanh trong năm 2009. Nga bị khủng hoảng cục bộ kinh tế tài chính trong năm 2008 với giá sàn chứng khoán sụt giảm mạnh, đồng rúp mất giá, một số ít ngân hàng nhà nước bị đổ vỡ. Nguyên nhân khủng hoảng cục bộ kinh tế tài chính ở Nga là do những không an tâm từ phía các nhà đầu tư tương quan đến căng thẳng mệt mỏi chính trị-quân sự Nga-Georgia, tương quan đến việc giá dầu quốc tế giảm mạnh, sự chỉ trích của Thủ tướng Putin so với tập đoàn lớn Mechel. Kinh tế Nga lâm vào suy thoái từ đầu năm 2009 .Kết quả tăng trưởng kinh tế được xem là tốt so với các nước tăng trưởng đã giúp cho BRIC có lời nói hơn trong G-20. [ 25 ] Các nước này đều nỗ lực đàm phán để tăng tỷ suất phiếu bầu của mình ở Quỹ Tiền tệ Quốc tế. [ 26 ]
Các nước đang tăng trưởng khác[sửa|sửa mã nguồn]
Trong các nước đang tăng trưởng, những nước thuộc SNG bị tác động ảnh hưởng nghiêm trọng. Các nước này bị đồng thời nhiều cú sốc : những rối loạn kinh tế tài chính khiến cho các nước này trở nên khó tiếp cận các nguồn kinh tế tài chính quốc tế ( các nước này vốn đi vay quốc tế nhiều để góp vốn đầu tư tăng trưởng kinh tế trong nước ), nhu yếu so với hàng xuất khẩu của họ giảm do kinh tế các nước và các khu vực trên quốc tế xấu đi, giá nguyên liệu-năng lượng giảm, kiều hối giảm do thu nhập của người lao động xuất khẩu của các nước này giảm. Các nước Belarus, Ukraine, Armenia đã phải xin IMF trợ giúp kinh tế tài chính. Thống kê của IMF cho thấy GDP của Ukraine năm 2009 giảm tới 8 % và của Armenia giảm tới 5 %. Các nước SNG khác có GDP giảm là Kazakhstan, Belarus và Mondova. Các nước còn lại tuy vẫn tăng được GDP nhưng với vận tốc không cao bằng thời hạn trước. [ 27 ]
Các nước đang phát triển châu Á hầu hết đều bị giảm tốc độ tăng trưởng, thậm chí có nước còn tăng trưởng âm. Các nước Bangladesh, Indonesia, Pakistan, Việt Nam vốn có mức tăng trưởng trên dưới 6% trong các năm 2007 và 2008, sang năm 2009 chỉ còn tăng trưởng trên dưới 3%. Các nước Malaysia và Thái Lan tăng trưởng với tốc độ -3,0% và -3,5% trong năm 2009.[27]
Các nền kinh tế Mỹ Latinh vốn có độ mở cao và phụ thuộc vào vào vốn quốc tế và xuất khẩu nguyên liệu-năng lượng. Vì thế, các nước trong khu vực này bị suy giảm vận tốc tăng trưởng kinh tế ở mức độ khác lớn. Mexico bị suy giảm nhiều nhất do nền kinh tế này kết nối ngặt nghèo với kinh tế Hoa Kỳ. GDP của Mexico giảm tới 3,7 % trong năm 2009. Những nước lớn khác có GDP giảm là Argentina, Ecuador và Venezuela. [ 27 ]Tất cả các nước ở Trung Đông đều bị suy giảm kinh tế. Những nước Trung Đông xuất khẩu nhiều dầu lửa là Ả Rập Saudi, UAE và Kuwait còn bị giảm GDP. Kinh tế Israel cũng bị giảm 1,7 % trong năm 2009. Nền kinh tế này vốn phụ thuộc vào khá cao vào xuất khẩu trong khi kinh tế toàn thế giới lại rơi vào suy thoái và suy giảm tăng trưởng. [ 27 ]Kinh tế các nước châu Phi gặp khó khăn vất vả hầu hết do xuất khẩu của họ bị giảm ( do lượng cầu quốc tế giảm và do giá nguyên liệu-năng lượng giảm ) và kiều hối bị giảm. Các nước Ghana, Kenya, Nigeria, Nam Phi và Tunisia bị giảm nguồn vốn quốc tế ( FDI và góp vốn đầu tư gián tiếp ). Angola, Guinea Xích đạo và Nigeria bị tác động ảnh hưởng mạnh bởi lượng dầu xuất khẩu và giá dầu giảm. Tuy nhiên, kinh tế Côte d’Ivoire và Kenya không những không bị suy giảm và lại còn tăng cường. [ 27 ]
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Thị Trường






