Thực trạng tiêm an toàn – Tài liệu text
Thực trạng tiêm an toàn
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3 MB, 116 trang )
Bạn đang đọc: Thực trạng tiêm an toàn – Tài liệu text
i
MỤC LỤC
MỤC LỤC………………………………………………………………………………………………………………………………………………i
DANH MỤC PHỤ LỤC……………………………………………………………………………………………………………………….iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT……………………………………………………………………………………………………………..iv
DANH MỤC BẢNG………………………………………………………………………………………………………………………………v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ…………………………………………………………………………………………………………………………vi
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU………………………………………………………………………………………………………………….vii
ĐẶT VẤN ĐÊ………………………………………………………………………………………………………………………………………..1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU…………………………………………………………………………………………………………………..4
Chương I……………………………………………………………………………………………………………………………………………….5
TỔNG QUAN……………………………………………………………………………………………………………………………………….5
Chương II…………………………………………………………………………………………………………………………………………….30
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU………………………………………………………………………………………………………..30
Chương III…………………………………………………………………………………………………………………………………………..45
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU………………………………………………………………………………………………………………….45
Chương IV…………………………………………………………………………………………………………………………………………..72
BÀN LUẬN…………………………………………………………………………………………………………………………………………72
Chương V…………………………………………………………………………………………………………………………………………….85
KẾT LUẬN…………………………………………………………………………………………………………………………………………85
Chương VI…………………………………………………………………………………………………………………………………………..87
KHUYẾN NGHI…………………………………………………………………………………………………………………………………88
ii
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………………………………………………………………………………89
PHỤ LỤC…………………………………………………………………………………………………………………………………………….90
iii
DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Khung lý thuyết áp dụng trong nghiên cứu………………………………90
Phụ lục 2: Bảng kiểm đánh giá mũi tiêm an toàn……………………………………..91
Phụ lục 3: Phiếu khảo sát về tiêm an toàn……………………………………………….94
Phụ lục 4: Phiếu tổng hợp tình hình tiêm tại khoa lâm sàng………………………99
Phụ lục 5: Hướng dẫn phỏng vấn sâu……………………………………………………101
Phụ lục 6: Hướng dẫn thảo luận nhóm………………………………………………….102
Phụ lục 7: Kỹ thuật tiêm thuốc…………………………………………………………….103
Phụ lục 8: Một số kết quả nghiên cứu…………………………………………………..107
iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BS
BV
BVĐK
ĐD
ĐDT
ĐDTK
ĐTV
GSV
LĐ
NB
NHS
NVYT
MT
PĐT
PVS
TAT
TB
TLN
TNTT
VNA
VSN
WHO
Bác sĩ
Bệnh viện
Bệnh viện đa khoa
Điều dưỡng
Điều dưỡng trưởng
Điều dưỡng trưởng khoa
Điều tra viên
Giám sát viên
Lãnh đạo
Người bệnh
Nữ hộ sinh
Nhân viên y tế
Mũi tiêm
Phiếu điều tra
Phỏng vấn sâu
Tiêm an toàn
Trung bình
Thảo luận nhóm
Tai nạn thương tích
Hội điều dưỡng Việt Nam
Vật sắc nhọn
Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization)
v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Biến số nghiên cứu…………………………………………………………………………….
Bảng 2: Phân loại mũi tiêm và số lượng điều dưỡng theo chuyên khoa……………….
Bảng 3: Tình hình chấn thương do vật sắc nhọn trong 1 năm qua……………………….
Bảng 4: Đặc điểm nhân khẩu học của điều dưỡng…………………………………………….
Bảng 5: Trình độ chuyên môn và thâm niên công tác của các điều dưỡng……………
Bảng 6: Thông tin về thực trạng cung cấp kiến thức TAT cho điều dưỡng…………..
Bảng 7: Nhận định về nguyên nhân tiêm không an toàn…………………………………….
Bảng 8: Kiến thức tiêm an toàn của điều dưỡng………………………………………………..
Bảng 9: Kiến thức về tiêm an toàn của điều dưỡng theo khoa…………………………….
Bảng 10: Thực hành trong chuẩn bị phương tiện và dụng cụ tiêm………………………
Bảng 11: Tỷ lệ tuân thủ nguyên tắc vô khuẩn trong khi tiêm……………………………..
Bảng 12: Tỷ lệ tuân thủ kỹ thuật tiêm an toàn…………………………………………………..
Bảng 13: Tỷ lệ tuân thủ các kỹ năng giao tiếp, tương tác với người bệnh……………
Bảng 14: Tỷ lệ tuân thủ các kỹ thuật nhằm phòng tránh nguy cơ lây nhiễm cho
người tiêm và cộng đồng………………………………………………………………..
Bảng 15: Tỷ lệ mũi tiêm đạt đủ các tiêu chuẩn an toàn theo khoa……………………….
Bảng 16: Tỷ lệ điều dưỡng thực hành TAT đúng………………………………………………
Bảng 17: Mối liên quan giữa yếu tố nhân khẩu học và kiến thức về TAT……………
Bảng 18: Mối liên quan giữa trình độ chuyên môn, đào tạo tập huấn, thâm niên
công tác và kiến thức về TAT…………………………………………………………
Bảng 19: Mối liên quan giữa một số yếu tố nhân khẩu học và thực hành TAT
của điều dưỡng………………………………………………………………………………
Bảng 20: Mối liên quan giữa trình độ chuyên môn, thâm niên công tác, số lượng
mũi tiêm mỗi ngày và thực hành TAT của điều dưỡng………………………
Bảng 21: Mối liên quan giữa thời điểm tiêm và tỷ lệ tiêm an toàn………………………
Bảng 22: Mối liên quan giữa đường tiêm và tỷ lệ tiêm an toàn…………………………..
Bảng 23: Thông tin tiêm truyền tại BVĐK Hà Đông, Hà Nội……………………110
Bảng 24: Phân loại số mũi tiêm theo nhóm tuổi của bệnh nhân………………….110
Bảng 25: Nhận định của điều dưỡng về tỷ lệ TAT tại BVĐK Hà Đông…………111
vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Số mũi tiêm trung bình/bệnh nhân/ngày phân bố theo khoa……………………………………………..45
Biểu đồ 2: Phân bố số mũi tiêm theo đường tiêm (N=469130)……………………………………………………………..47
Biểu đồ 3: Phân bố số mũi tiêm theo vị trí tiêm (N=469130)………………………………………………………………..47
Biểu đồ 4: Tỷ lệ báo cáo về TNTT khi tiêm (n=109)…………………………………………………………………………….49
Biểu đồ 5: Nguyên nhân điều dưỡng không tuân thủ đúng quy trình TAT…………………………………………53
Biểu đồ 6: Tỷ lệ tiêm an toàn theo các nhóm tiêu chí (n=436)…………………………………………………………….63
Biểu đồ 7: Mối liên quan giữa kiến thức TAT và chấn thương do vật sắc nhọn…………………………………..67
Biểu đồ 8: Mối liên quan giữa kiến thức TAT và thực hành TAT của điều dưỡng (n=109)…………………68
Biểu đồ 9: Mối liên quan giữa vị trí tiêm và tỷ lệ tiêm an toàn…………………………………………………………….70
Biểu đồ 10: Mối liên quan giữa thứ tự mũi tiêm quan sát và tỷ lệ tiêm an toàn…………………………………..71
Biểu đồ 11: Phân bố số mũi tiêm theo thời gian thực hiện mũi tiêm (n=436)……………………………………..108
vii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Tiêm là một trong các biện pháp đưa thuốc vào cơ thể nhằm mục đích điều
trị và dự phòng. Tiêm không an toàn có thể gây ra những nguy cơ như: áp xe tại vị
trí tiêm, shook phản vệ, và đặc biệt là những nguy cơ truyền các vi rút qua đường
máu cho cả người bệnh, nhân viên y tế (NVYT) và cộng đồng.
Nhận thức tầm quan trọng của tiêm an toàn, năm 2000, Bộ Y tế đã phối hợp
với Hội Điều dưỡng Việt Nam phát động phong trào “Tiêm an toàn” trong toàn
quốc trong đó có Hà Nội. Tuy nhiên, kết quả từ một số nghiên cứu cho thấy: tỷ lệ
mũi tiêm đạt đủ các tiêu chuẩn tiêm an toàn (TAT) còn chưa cao theo kết quả
nghiên cứu của Đào Thành trên toàn quốc năm 2005 là 22,6%, của Phạm Tuấn Anh
nghiên cứu tại Bệnh viện Y học cổ truyền năm 2009 là 22,36%.
Để góp phần mô tả thực trạng vấn đề này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
“Đánh giá thực hiện tiêm an toàn tại Bệnh viện đa khoa Hà Đông, Hà Nội, năm
2012” với các mục tiêu: (1) Mô tả thực trạng tiêm tại Bệnh viện đa khoa (BVĐK)
Hà Đông, Hà Nội năm 2012; (2) Mô tả kiến thức và thực hành tiêm an toàn của các
điều dưỡng tại BVĐK Hà Đông, Hà Nội, năm 2012; (3) Xác định các yếu tố liên
quan đến kiến thức và thực hành tiêm an toàn của điều dưỡng tại BVĐK Hà Đông,
Hà Nội, năm 2012.
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp định lượng và định tính
được tiến hành từ tháng 2 đến tháng 8 năm 2012, tại BVĐK Hà Đông Hà Nội. Đối
tượng nghiên cứu là 109 điều dưỡng đang công tác tại các khoa lâm sàng và quan
sát 436 mũi tiêm. Kết quả của nghiên cứu cho thấy:
Có 37,6% đã bị tai nạn thương tích (TNTT) trong một năm qua, trong đó có
36,6% người đã từng bị chấn thương tới 2-3 lần. Nguyên nhân chủ yếu là do sơ xuất
của điều dưỡng 75,6%, người bệnh giãy dụa 17,1%. Vị trí bị tổn thương đa số là tại
ngón tay (97,6%). Thời điểm bị tổn thương chủ yếu vào buổi sáng là chiếm 68,3%.
91,7% điều dưỡng đã được tập huấn trong năm 2011, 98,2% được điều
dưỡng trưởng hướng dẫn về kiến thức và thực hành TAT. Đa số các khoa phòng
đều có sẵn các tài liệu về TAT (95,4%).
viii
Nhận định của đối tượng nghiên cứu về nguyên nhân tiêm không an toàn:
44% không tuân thủ các kỹ thuật vô khuẩn, 38% do người nhà và người bệnh (NB)
thích tiêm hơn uống, 32,1% chỉ định tiêm quá mức cần thiết, 11,9% do thiếu
phương tiện thu gom xử lý vật sắc nhọn; Về nguyên nhân của điều dưỡng (ĐD):
37,6% do thói quen, 19,3% do ý thức của điều dưỡng chưa cao, 33,9% thiếu chế tài
thưởng phạt, 21,1% thiếu kiểm tra giám sát, 7,3% không có phong trào thi đua và
51,4% do cường độ làm việc quá cao.
Tỷ lệ điều dưỡng có kiến thức TAT đạt là 82,6%, chỉ có 1câu duy nhất về
kiểm tra chất lượng thuốc có 100% trả lời đúng. Tỷ lệ thấp nhất là cách hạn chế lây
truyền qua đường máu (65,1%), thực hành giữ bông gạc khô vô khuẩn vào chỗ chảy
máu của vết tiêm (67,9%) và cách tiêu hủy vật sắc nhọn đúng (67,9%). Các yếu tố
liên quan đến kiến thức về TAT của ĐD là nhóm tuổi (OR=3,5; p<0,05); được đào
tạo/tập huấn (OR=4,9; p<0,01) và thâm niên công tác (OR=4,9; p<0,05). Đặc biệt tỷ
lệ chấn thương trong nhóm không đạt về kiến thức cao gấp 3,6 lần nhóm có kiến
thức đạt (OR=3,6; p<0,05).
Tỷ lệ mũi tiêm thực hành đúng 23 tiêu chuẩn TAT là 22,2%. Trong đó, thực
hành đúng 5 tiêu chuẩn về phương tiện, dụng cụ là 86,5%; đúng 5 tiêu chuẩn về kỹ
thuật tiêm là 66,5%; đúng 5 tiêu chuẩn về giao tiếp tương tác với người là 47% và
đúng 4 tiêu chuẩn về an toàn người tiêm và cộng đồng là 77,8%; đúng theo 4 tiêu
chuẩn về vô khuẩn thấp nhất 45,0%. Với 4 mũi tiêm được quan sát của mỗi NVYT,
tỷ lệ điều dưỡng thực hành đúng từ 3 đến 4 mũi tiêm là 23,9%. Các yếu tố liên quan
đến thực hành TAT của ĐD là nhóm tuổi (OR=3,1; P<0,05) và thâm niên công tác
(OR=2,8; p<0,05). Ngoài ra còn một số yếu tố như thời điểm thực hiện mũi tiêm,
đường tiêm, thứ tự thực hiện mũi tiêm cũng có mối liên quan tới tỷ lệ TAT
(p<0,05)
Một số khuyến nghị được đưa ra dựa trên kết quả nghiên cứu là: Tăng cường
công tác vô khuẩn, phòng ngừa nguy cơ lây nhiễm do TNTT, tăng cường đào tạo
nâng cao kiến thức và kỹ năng, truyền thông giáo dục nâng cao kiến thức, nhận thức
và ý thức về nguy cơ của tiêm, tăng cường kiểm tra giám sát và các chế tài thưởng
phạt, thi đua khen thưởng, tiến hành các nghiên cứu đánh giá về TAT.
1
ĐẶT VẤN ĐÊ
Theo tổ chức y tế thế giới ước tính hàng năm có khoảng 12 tỷ mũi tiêm trên
thế giới trong đó 95% mũi tiêm trong điều trị bệnh, 5% mũi tiêm trong dự phòng
[22, 23].
Trong điều trị, tiêm có vai trò rất quan trọng trong việc chữa bệnh tại các
bệnh viện và đặc biệt là những nơi có nhiều người bệnh nặng. Trong lĩnh vực phòng
bệnh, tiêm chủng đã tác động mạnh vào việc giảm tỷ lệ mắc và tỷ lệ chết đối với
các bệnh lây có thể phòng bằng vacxin ở trẻ em.
Bên cạnh những ưu điểm trên, tiêm cũng có thể gây ra những nguy cơ như:
áp xe tại vị trí tiêm, chứng liệt thần kinh, phản ứng dị ứng, sốc phản vệ, và đặc biệt
là những nguy cơ truyền các vi rút qua đường máu cho cả người bệnh, nhân viên y
tế (NVYT) và cộng đồng. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tiêm
không an toàn đã trở phổ biến và đang diễn ra trên phạm vi nhiều nước và là nguyên
nhân chính làm lây truyền các bệnh như viêm gan B, viêm gan C và HIV [22]. Hàng
năm, tiêm không an toàn gây nên 1,3 triệu ca chết sớm, tổn thất 26 triệu năm sống
thiệt hại kinh tế gián tiếp 535 triệu USD [31] là nguyên nhân dẫn đến 21 triệu ca
mắc mới viêm gan B, 2 triệu ca mắc mới viêm gan C và 260.000 ca mắc
HIV/AIDS, số ca tử vong trong năm 2000 do thực hiện thiếu an toàn trước đó là
501.000 ca. WHO ước tính có tới 50% các mũi tiêm ở các nước đang phát triển
không an toàn, có tới 20-80% các trường hợp nhiễm vi rút viêm gan B là do tiêm
không an toàn.
Trước thực tế đó, năm 1999 các tổ chức như WHO, UNICEF và UNFPA đã
phối hợp đưa ra tuyên bố chung về hệ thống Tiêm an toàn Toàn cầu (Safety
infection Global Network), viết tắt là SIGN. Mục đích của SIGN là giảm tần số
tiêm và thực hiện tiêm an toàn [22].
Tại Việt Nam, nhận thức về tầm quan trọng của tiêm an toàn và các nguy cơ
do tiêm không an toàn gây nên, năm 2000, Bộ Y tế đã phối hợp với Hội Điều dưỡng
Việt Nam phát động, triển khai Chương trình “Tiêm an toàn” trong toàn quốc,
chương trình đã xây dựng chiến lược gồm 3 nội dung: (1) Thay đổi nhận thức/hành
2
vi của nhân viên y tế và người bệnh; (2) Phương tiện đầy đủ và phù hợp; (3) Quản
lý rác thải đúng qui định và an toàn. Chương trình TAT dần góp phần thay đổi nhận
thức và hành vi về thực hành tiêm an toàn và đã được sự hưởng ứng và tham gia của
các ban ngành và NVYT trong cả nước đặc biệt là đội ngũ ĐD, nhiều hoạt động
như hội thảo, đào tạo, tập huấn về tiêm an toàn, nghiên cứu đánh giá hiện trạng tiêm
an toàn trên toàn quốc, trên các tỉnh, thành phố, tại các bệnh viện[22].
Tuy nhiên, kết quả từ một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mũi tiêm đạt đủ các
tiêu chuẩn tiêm an toàn còn chưa cao. Với phạm vi toàn quốc, theo nghiên cứu của
Đào Thành, năm 2005, chỉ có 22,6% mũi tiêm đạt tiêu chuẩn tiêm an toàn [19]. Các
nghiên cứu tại Hà Nội cũng cho kết quả tương tự: năm 2001, nghiên cứu của
Nguyễn Minh Tâm cho thấy chỉ có 10% mũi tiêm bắp, dưới da, trong da đạt 100%
tiêu chuẩn đề ra; khoảng 7% mũi tiêm bắp đạt dưới 50% điểm chuẩn [18]. Theo
nghiên cứu đánh giá thực trạng TAT trong toàn quốc tỷ lệ mũi tiêm an toàn đạt
chuẩn dao động từ 6% đến 22,6%. Nghiên cứu gần đây nhất tiến hành tại Viện Tim
Hà Nội năm 2011, tuy không thống kê tỷ lệ mũi tiêm đạt đủ các tiêu chuẩn tiêm an
toàn những cũng chỉ ra: 7,4% kim tiêm chưa đảm bảo vô khuẩn, 24,6% điều dưỡng
không mang găng tay khi tiêm truyền tĩnh mạch, 41% điều dưỡng chuẩn bị phương
tiện và dụng cụ tiêm chưa đầy đủ [25]. Các nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ mũi tiêm an
toàn thấp là: ĐD còn thiếu và chưa được cập nhật thông tin về tiêm an toàn; chưa
tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật và các thao tác kiểm soát nhiễm khuẩn trong thực
hành tiêm, trong thu gom, xử lý và quản lý chất thải y tế sắc nhọn [18], [19], [25].
Bệnh viện đa khoa Hà Đông, là bệnh viện hạng I của Thủ đô Hà Nội, với qui
mô 550 giường bệnh gồm 33 khoa phòng và nhiều chuyên khoa sâu, có nhiệm vụ
khám chữa bệnh cho nhân dân khu vực phía tây Hà Nội. Với xu hướng phát triển
chung của xã hội bệnh viện cũng không ngừng lớn mạnh và phát triển trở thành
bệnh viện có uy tín và chất lượng trong hệ thống y tế Hà Nội. Đặc biệt Bệnh viện
luôn đầu tư cải thiện, nâng cao chất lượng, ngay từ khi chương trình “Tiêm an toàn”
được Hội Điều dưỡng Việt Nam phát động, bệnh viện đã hưởng ứng và triển khai
các biện pháp như cung cấp trang thiết bị, dụng cụ phù hợp, xây dựng qui trình,
kiểm tra giám sát, đào tạo tập huấn nhằm nâng cao tỷ lệ tiêm an toàn của Bệnh viên.
3
Năm 2012, nghiên cứu của Nguyễn Thị Dung cho thấy tỷ lệ mũi tiêm đạt đủ các
tiêu chí mũi tiêm an toàn đạt 51,2%, chỉ có 12,8% số mũi tiêm thực hiện đúng các
nguyên tắc vô khuẩn, 27,4% không chuẩn bị phương tiện và dụng cụ tiêm chưa đầy
đủ, 20% không sát khuẩn da vùng tiêm đúng qui định, đặc biệt có 9,6% xác định sai
vị trí tiêm [11].
Để đánh giá kết quả thực hiện Chương trình TAT qua 12 năm triển khai tại
BVĐK Hà Đông, đồng thời tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ TAT thấp và
các yếu tố liên quan đến việc thực hiện đúng các tiêu chí của TAT, từ đó có các
biện pháp nhằm nâng cao tỷ lệ TAT. Nghiên cứu: “Đánh giá thực hiện tiêm an toàn
tại BVĐK Hà Đông, Hà Nội năm 2012” được tiến hành để trả lời các câu hỏi sau:
(1) Thực trạng tiêm tại BVĐK Hà Đông, Hà Nội hiện nay như thế nào?, (2) Kiến
thức và thực hành tiêm an toàn của các điều dưỡng tại BVĐK Hà Đông, Hà Nội
hiện nay như thế nào?, và (3) Các yếu tố nào liên quan đến việc thực hiện tiêm an
toàn của điều dưỡng tại BVĐK Hà Đông, Hà Nội hiện nay?
4
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Mô tả thực trạng tiêm tại bệnh viện đa khoa Hà Đông, Hà Nội, năm 2012.
2. Mô tả kiến thức và thực hành tiêm an toàn của các điều dưỡng tại bệnh viện
đa khoa Hà Đông, Hà Nội, năm 2012.
3. Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành tiêm an toàn
của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa Hà Đông, Hà Nội, năm 2012.
5
Chương I
TỔNG QUAN
1.1. Các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu
Tiêm: là một trong các biện pháp đưa thuốc vào cơ thể nhằm mục đích điều
trị và dự phòng [22].
Tiêm an toàn: Mũi tiêm an toàn là mũi tiêm được thực hiện có sử dụng dụng
cụ thích hợp, không gây hại cho người được tiêm, không gây nguy cơ phơi nhiễm cho
người được tiêm và không tạo chất thải nguy hại cho người khác [13], [23], [22].
Mũi tiêm không an toàn: là mũi tiêm có một trong những đặc tính sau:
dùng bơm tiêm, kim tiêm không vô khuẩn, tiêm không đúng thuốc theo chỉ định;
không thực hiện đúng các bước quan trọng của qui trình tiêm; các chất thải, vật sắc
nhọn sau khi tiêm không phân loại và cô lập ngay theo qui chế sử lý chất thải của
Bộ Y tế.
Bơm kim tiêm vô khuẩn:
Đối với bơm tiêm một lần: đã được tiệt khuẩn, còn hạn dùng, được đựng
trong túi nguyên vẹn, kim tiêm không chạm vào đồ vật hoặc tay trước khi tiêm cho
người bệnh.
Đối với bơm tiêm thủy tinh và kim tiêm được xử lý để dùng lại thì phải tiệt
khuẩn đúng quy trình, còn hạn dùng và được bảo quản đúng theo qui định.
Xử lý các vật sắc nhọn sau khi tiêm: Phân loại chất thải ngay tại nguồn, cô
lập ngay các vật sắc nhọn vào hộp kháng thủng đủ tiêu chuẩn, không đậy lại nắp
kim, không uốn cong hoặc bẻ gẫy kim [21].
Bệnh nghề nghiệp: là bệnh phát sinh do điều kiện lao động lao động có hại
của nghề nghiệp tác động tới người lao động. Bệnh xẩy ra từ từ hoặc cấp tính. Một
số bệnh nghề nghiệp không chữa khỏi và để lại di chứng. Bệnh nghề nghiệp có thể
phòng tránh được [6].
Tác nhân gây bệnh nghề nghiệp: là những yếu tố có hại phát sinh trong quá
trình lao động sản xuất, gây tác động xấu đến sức khỏe của người lao động [4].
6
Nhiễm khuẩn bệnh viện: Là nhiễm khuẩn phát sinh trong quá trình chăm
sóc sức khỏe khi được điều trị tại một sơ sở y tế hoặc khi đến một cơ sở y tế [23].
Kiểm soát nhiễm khuẩn: đề cập tới các chính sách và quy trình nhằm giảm
thiểu nguy cơ lây lan nhiễm khuẩn trong các cơ sở y tế, đặc biệt là tại các BV [23].
Các biện pháp kiểm soát: là một hệ thống phân cấp các hoạt động được
thực hiện nhằm ngăn ngừa phát sinh và lây nhiễm mầm bệnh tại nơi làm việc [23].
Quy trình điều dưỡng: là phương pháp khoa học được áp dụng trong lĩnh
vực điều dưỡng để thực hiện chăm sóc người bệnh có hệ thống bảo đảm liên tục, an
toàn và hiệu quả bao gồm: Nhận định, chuẩn đoán điều dưỡng, lập kế hoạch, thực
hiện và đánh giá kết quả chăm sóc điều dưỡng [5].
Nguyên tắc chăm sóc người bệnh trong bệnh viện:
1.
Người bệnh là trung tâm của công tác chăm sóc nên phải được chăm sóc toàn
diện, liên tục, bảo đảm hài lòng, chất lượng và an toàn.
2.
Chăm sóc, theo dõi người bệnh là nhiệm vụ của bệnh viện, các hoạt động
chăm sóc điều dưỡng, theo dõi do điều dưỡng viên, hộ sinh viên, kỹ thuật
viên thực hiện và chịu trách nhiệm.
3.
Can thiệp điều dưỡng phải dựa trên cơ sở các yêu cầu chuyên môn và sự
đánh giá nhu cầu của mỗi người bệnh để chăm sóc phục vụ [5].
1.2. Tình hình tiêm an toàn trên thế giới
Trên thế giới, tiêm được ứng dụng trong điều trị từ những năm 1920 và thịnh
hành từ chiến tranh thế giới II sau khi Penicilline được phát minh và đưa vào sử
dụng rộng rãi. Tổ chức Y tế Thới giới (WHO) ước tính mỗi năm có khoảng trên 12
tỷ bơm tiêm được bán ra, bình quân mỗi người dân ở các nước đang phát triển được
tiêm 1,5 mũi tiêm/năm. Tại các nước đang phát triển, hàng năm có khoảng 16 tỷ
mũi tiêm, trong đó 95% mũi tiêm với mục đích điều trị, 3% mũi tiêm là tiêm chủng,
1% mũi tiêm với mục đích kế hoạch hóa gia đình, 1% mũi tiêm được sử dụng trong
truyền máu và các sản phẩm của máu [12, 23].
Theo báo cáo của WHO, dựa trên kết quả nghiên cứu về hiện trạng tiêm tại
19 nước đại diện cho 5 vùng trên thế giới, có tới 50% các mũi tiêm ở các nước đang
phát triển chưa đảm bảo an toàn, WHO cảnh báo tiêm không an toàn đã trở thành
7
thông lệ ở các nước đang phát triển [30]. Có tới 40% mũi tiêm được thực hiện bằng
bơm kim tiêm dùng lại mà không được tiệt khuẩn, ở một số nước tỷ lệ này lên đến
70%, tại các nước Tây Thái Bình Dương tỷ lệ này là 30% [22], [30], [33].
Theo nghiên cứu “Gánh nặng toàn cầu của bệnh do tiêm bị ô nghiễm được
đưa ra trong các thiết lập chăm sóc sức khỏe” của Hauri và cộng sự cho thấy trung
bình mỗi người nhận 3,4 mũi tiêm, trong đó 39,3% sử dụng bơm tiêm dùng lại.
Trong năm 2000 nhiễm khuẩn do tiêm gây ra ước tính khoảng 21 triệu ca nhiễm
HBV, 2 triệu ca nhiễm HCV và 260.000 ca nhiễm HIV tương ứng chiếm tỷ lệ 32%,
40% và 5%, các bệnh nhiễm trùng mới này cho một gánh nặng 9.177.679 DAYLYs
giữa năm 2000 đến năm 2030 [28].
Trước gánh nặng toàn cầu do tiêm không an toàn gây nên, năm 1999, các tổ
chức WHO – UNICEF – UNRPA đã phối hợp đưa ra tuyên bố chung về chính sách
Tiêm an toàn Toàn cầu (Safety infection Global Network), viết tắt là SIGN. Mục
đích của SIGN là giảm tần số tiêm và thực hiện tiêm an toàn. Có 5 nội dung chính
trong chính sách Tiêm an toàn: Áp dụng hợp lý các biện pháp điều trị tiêm; Ngăn
ngừa việc sử dụng lại bơm tiêm và kim tiêm; Hủy bơm tiêm và kim tiêm đã qua sử
dụng ngay tại nơi sử dụng; Phân tách chất thải ngay tại nơi phát sinh chất thải; Xử
lý an toàn và tiêu hủy dụng cụ tiêm đã qua sử dụng. Các tổ chức trên cũng đã xây
dựng Chiến lược Toàn cầu vì mũi tiêm an toàn bao gồm: (1) Thay đổi hành vi của
cán bộ y tế, bệnh nhân và cộng đồng; (2) Đảm bảo có sẵn vật tư, trang thiết bị; (3)
Quản lý chất thải an toàn và thích hợp. Các biện pháp kiểm soát đối với nguy cơ lây
nhiễm do tiêm không an toàn được chia thành 5 nhóm chính: (1) Loại bỏ nguy cơ;
(2) Biện pháp kỹ thuật; (3) Biện pháp kiểm soát hành chính; (4) Biện pháp kiểm
soát tập quán làm việc; (5) Dụng cụ bảo hộ cá nhân [23], [22].
Với chính sách của SIGN đã tạo ra một sự thay đổi lớn trong nhận thức, hành
vi của nhân viên y tế và cộng đồng, đặc biệt với chiến dịch hỗ trợ về truyền thông,
kỹ thuật và thiết bị cho các nước chậm phát triển đã dần nâng cao tỷ lệ tiêm an toàn
và góp phần giảm thiểu các nguy cơ và gánh nặng của của tiêm không an toàn tại
mỗi Quốc gia và trên toàn Thế giới.
Đã có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới về tiêm an toàn, các nghiên cứu
8
cũng chỉ điểm các nguy cơ tiêm không an toàn gây nên cũng như tìm hiểu các
nguyên nhân của tiêm không an toàn, đánh giá về kiến thức TAT trong người dân
và trong nhân viên y tế, đánh giá thực hành tiêm an toàn trong các cơ sở y tế.
Một nghiên cứu của Yan Y và cộng sự được tiến hành tại Trung Quốc nhằm
đánh giá về tiêm an toàn của người dân nông thôn ở huyện Kinh Châu, Hồ Bắc. Kết
quả cho thấy trong số 595 đối tượng nghiên cứu có 192 người đã được tiêm ít nhất 1
lần trong 3 tháng vừa qua, với tỷ lệ tiêm 32,3% và trung bình là 0,93 mũi tiêm/ người.
Về kiến thức TAT có 90,3% đối tượng biết rằng tiêm không an toàn có thể lây truyền
các bệnh qua đường máu trong đó: HIV là 74,4%, viêm gan B 55,8%, viêm gan C là
22,9%. Phân tích hồi quy cho thấy tuổi, trình độ giáo dục và địa bàn dân cư là những
yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kiến thức của họ về an toàn tiêm [37].
Theo nghiên cứu của Hauri và cộng sự năm 2000 cũng đưa ra kết luận lạm
dụng tiêm và thực hành không an toàn đưa đến một gánh nặng đáng kể về tử vong và
khuyết tật trên toàn thế giới [28]. Tỷ lệ tiêm hàng năm cho mỗi người giao động từ
1,7 đến 11,3. Trong số này, tỷ lệ tái sử dụng bơm tiêm không đảm bảo vô khuẩn dao
động từ 12% đến 75% cao nhất là các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á [28].
Theo báo cáo của WHO (2002), trong tổng số 35 triệu nhân viên y tế, mỗi
năm có tới 2 triệu người bị tiếp xúc qua da với bệnh truyền nhiễm. Trong số đó,
40% nhiễm viêm gan B, 40% nhiễm viêm gan C, và 2,5 % nhiễm HIV do bị tổn
thương do kim tiêm châm. Tổn thương do kim châm thường gặp ở điều dưỡng và
xuất hiện nhiều trong các phòng bệnh và do tiêm gây ra nhiều nhất. Theo số liệu
báo cáo trong hệ thống báo cáo về HIV/AIDS từ năm 1981 đến 2002 của Trung tâm
phòng chống Bệnh tật Hoa Kỳ cho thấy 42,1% các trường hợp lây nhiễm HIV nghề
nghiệp là các y tá và điều dưỡng [9].
Một nghiên cứu đánh giá tình hình lây nhiễm viêm gan C ở nhân viên y tế
làm trong bệnh viện Trung ương Hungary (2001) cho thấy trong số 477 nhân viên y
tế được xét nghiệm máu tìm kháng thể kháng vi rút viêm gan C cho thấy có 2,7%
nhân viên y tế có HCV dương tính, trong đó 2,7% là y tá, điều dưỡng và 2,9% là
nhân viên khác của bệnh viện [26]. Nghiên cứu này còn chỉ ra rằng tỷ lệ nhiễm
HCV có liên quan đến yếu tố nghề nghiệp, nghĩa là thời gian làm việc tại bệnh viện
9
càng dài thì tỷ lệ nhiễm HCV càng lớn [9].
Nghiên cứu của Yan Y và cộng sự năm 2004 tại Trung Quốc trên 1.452 hồ
sơ bệnh án, cho thấy 1.450 bệnh nhân đã được tiêm ít nhất 1 lần trong thời gian nằm
viện, với một tỷ lệ tiêm là 100%, trung bình 10,9 mũi tiêm/bệnh nhân. Thuốc được
tiêm thường xuyên nhất là kháng sinh chiếm 48% (7674/15857). Theo quan sát có
16% các mũi tiêm là không an toàn, 57% thuốc được dùng bằng đường tiêm là
không cần thiết. Khi khảo sát kiến thức của 118 nhân viên y tế có 95% biết rằng
HIV có thể lây qua tiêm không an toàn, 59% biết rằng viêm gan C có thể lây qua
tiêm không an toàn và 89% biết rằng viêm gan B có thể lây qua tiêm không an toàn.
Nghiên cứu cũng đưa ra kết luận rằng trong các cơ sở y tế của huyện Kim Châu, tỷ
lệ tiêm rất cao và chất lượng thực hành tiêm an toàn cần tiếp tục được cải thiện [38].
Nghiên cứu “Nguy cơ bị thương do kim tiêm của các y tá khi sử dụng kim
tiêm an toàn Novo Fine Autocover và sự hài lòng của các y tá với kim tiêm” của
Odile Lautier, Helen Mosnier-Pudar và các cộng sự, được tiến hành từ tháng 1 đến
tháng 3 năm 2006 trên tổng số 245 y tá tại 52 bệnh viện trên khắp nước Pháp với từ
3 tháng kinh nghiệm trở lên trong việc chăm sóc bệnh nhân đái tháo đường được
mời tham gia nghiên cứu. Trong 4 tuần, họ ghi lại chi tiết về các mũi tiêm và bất kỳ
chấn thương nào xẩy ra. Kết quả cho thấy: 7854 mũi tiêm đã được thực hiện bởi
123 của các y tá sử dụng kim tiêm NFA; 4491 mũi tiêm được thực hiện bởi 122
người sử dụng kim thường. Không có vết thương kim đâm xẩy ra với kim NFA,
trong khi trung bình 1 chấn thương kim đâm/1 cây kim thường. Các y tá đã rất hài
lòng với kim NFA, họ cho 8.1 điểm với thang điểm từ 0 đến 10; đánh giá an toàn cá
nhân như là một lợi ích đặc biệt quan trọng (9,5 điểm). Nghiên cứu này cho thấy
kim NFA kim có thể làm giảm nguy cơ chấn thương do kim đâm và y tá hài lòng về
loại kim này với những lợi thế như dễ sử dụng và tiết kiệm thời gian [32].
1.3. Tình hình tiêm an toàn tại Việt Nam
Năm 2000, hưởng ứng chính sách Tiêm an toàn Toàn cầu (SIGN), Bộ Y
tế đã phối hợp với Hội Điều dưỡng Việt Nam triển khai chương tình “Tiêm an toàn”
trên toàn quốc. Chương trình đã xây dựng chiến lược gồm 3 nội dung: (1) Thay đổi
nhận thức/hành vi của nhân viên y tế và người bệnh; (2) Phương tiện đầy đủ và phù
10
hợp; (3) Quản lý rác thải đúng qui định và an toàn. Trong thời gian vừa qua, đã có
một số nghiên cứu đánh giá về thực trạng tiêm an toàn đã được tiến hành. Một trong
những nguyên nhân dẫn đến tiêm không an toàn ở Việt Nam được chỉ ra là sự thiếu
hiểu biết về những nguy hại do tiêm truyền; bệnh nhân và gia đình bệnh nhân nghĩ
rằng dùng thuốc theo đường tiêm tốt hơn so với uống; chỉ định dùng thuốc của một
số bác sỹ còn bị chi phối bởi lý do kinh tế….
Từ khi triển khai chương trình Tiêm an toàn trên toàn quốc, đã có một số
nghiên cứu, khảo sát về TAT được tiến hành. Năm 2002 “Khảo sát đánh giá ban
đầu về hiện trạng tiêm an toàn trong các cơ sở y tế khu vực Hà Nội” của Nguyễn
Thị Minh Tâm và cộng sự, qua quan sát 3443 mũi tiêm – truyền tại 87 khoa của 7
bệnh viện và Trung tâm y tế; cùng với phỏng vấn 823 nhân viên y tế (NVYT) với
mục tiêu đánh giá bước đầu hiện trạng tiêm an toàn trên địa bàn Hà Nội và tìm hiểu
nhận thức của cán bộ y tế về nguy cơ của tiêm không an toàn đối với sức khỏe. Kết
quả cho thấy tỷ lệ TAT rất thấp, với 17 tiêu chuẩn đánh giá mũi tiêm an toàn, chỉ có
10% mũi tiêm bắp, dưới da, trong da đạt 100% tiêu chuẩn đề ra và khoảng 7% mũi
tiêm bắp chỉ đạt dưới 50% điểm chuẩn. Có 1% mũi tiêm tĩnh mạch và truyền đạt
100% tiêu chuẩn đề ra và gần 21% chỉ đạt ít hơn 50% tiêu chuẩn qui định. Có 1%
mũi tiêm tĩnh mạch và truyền đạt 100% tiêu chuẩn đề ra và gần 21% chỉ đạt ít hơn
50% tiêu chuẩn qui định. Trong khi tỷ lệ mũi tiêm bình quân của bệnh nhân nội trú
là 2,7 lần tiêm/người/ngày. Nghiên cứu đưa ra nguyên nhân chủ yếu của việc tiêm –
truyền không an toàn là do thiếu dụng cụ tiêm, thiếu phương tiện xử lý chất thất thải
y tế, không sẵn có phương tiện bảo hộ, do ý thức vô khuẩn của NVYT còn yếu và
họ chưa nhận thức được đầy đủ về nguy cơ của việc tiêm không an toàn [18].
Năm 2005, đánh dấu mốc 5 năm thực hiện chương trình TAT, nghiên cứu
mô tả cắt ngang “Đánh giá thực hiện tiêm an toàn tại 8 tỉnh đại diện, năm 2005”
của Đào Thành và cộng sự được tiến hành với mục tiêu đánh giá toàn diện trên
phạm vi toàn quốc về kết quả sau 3 năm thực hiện cuộc vận động Tiêm an toàn
toàn quốc. Qua quan sát ngẫu nhiên 776 mũi tiêm cho thấy: tỷ lệ mũi tiêm bình
quân của bệnh nhân là 2,2 lần tiêm/người/ngày; chỉ có 12,8% mũi tiêm đạt từ 13
tiêu chuẩn trở xuống, 28,9% mũi tiêm đạt 16 tiêu chuẩn, và có 22,6% mũi tiêm đạt
11
đủ 17 tiêu chuẩn. Những tồn tại trong quy trình tiêm là tỷ lệ tuân thủ rửa tay trước
khi chẩn bị dụng cụ còn thấp (35,4%), trước khi đâm kim qua da là 55,8%; còn 9%
NVYT dùng 2 tay để đậy nắp kiêm tiêm nhiễm khuẩn. Nguyên nhân là do NVYT
còn chưa phân biệt được rõ ràng động tác sạch và bẩn [19]. Trong nghiên cứu này,
tác giả đã đưa ra được tỷ lệ mũi tiêm an toàn theo mỗi tiêu chuẩn mũi đề ra và tỷ lệ
tiêm an toàn chung cho cả 17 tiêu chuẩn. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này tác giả
không đánh giá kiến thức TAT và tìm hiểu các yếu tố liên quan đến với việc thực
hành đúng các tiêu chí tiêm an toàn.
Tiến hành trên phạm vi 8 tỉnh, trong thời gian từ 15/6 đến 15/7/2005, nghiên
cứu “Đánh giá kiến thức về tiêm an toàn và tần xuất rủi ro tại 8 tỉnh đại diện, 6
tháng đầu năm 2005” của Phạm Đức Mục và cộng sự, nhằm mục đích: (1) Đánh giá
kiến thức và nhận thức của điều dưỡng – hộ sinh về tiêm an toàn sau 5 năm thực
hiện cuộc vận động TAT; (2) Mô tả tần xuất và nguy cơ rủi ro do vật sắc nhọn đối
với NVYT. Nghiên cứu chỉ ra rằng 95% NVYT đã có kiến thức về tiêm an toàn và
nguy cơ của tiêm; các nguyên nhân làm cho mũi tiêm chưa an toàn là do kỹ thuật vô
khuẩn yếu 68,1%; thiếu dụng cụ xử lý chất thải 63,1%; thiếu dụng cụ tiêm 58,2%;
người nhà và người bệnh thích được tiêm hơn uống 55,2%; chỉ đinh tiêm quá mức
cần thiết 44,6%; các nguyên nhân khác như áp lực công việc, bệnh nhân không hợp
tác… chiếm rất nhỏ 4,4%. Tỷ lệ NVYT bị tai nạn rủi ro do vật sắc nhọn trong 6
tháng đầu năm 2005 chiếm tới 26,3%; thời điểm rủi ro cao nhất là buổi sáng
(45,6%), thấp nhất là buổi tối (24,35%); giai đoạn hay gặp rủi ro nhất là khi tiêm
(45%), thấp nhất là trong khi tiêm (24,38%); tình trạng kim bị nhiễm bẩn khi bị rủi
ro chiếm tới 60%; nguyên nhân bị rủi ro là do sơ xuất, người bệnh giãy dụa, vô tình
với các tỷ lệ tương ứng là 34,57%; 33,95% và 31,48%[15]. Trong nghiên cứu này,
tác giả đi sâu vào tìm hiểu về nguyên nhân tiêm không an toàn và mô tả tỷ lệ rủi ro
của NVYT với vật sắc nhọn trong khi tiêm.
Tại Bình Định, tháng 7 năm 2005, tác giả Nguyễn Thị Như Tú đã tiến hành
nghiên cứu cắt ngang “Thực trạng tiêm an toàn tại tỉnh Bình Định sau 5 năm hưởng
ứng cuộc vận động” tại 7 bệnh viện với việc quan sát 200 mũi tiêm và phỏng vấn
120 điều dưỡng, nữ hộ sinh và y sỹ. Kết quả cho thấy: tỷ lệ người có chỉ định dùng
12
thuốc tiêm, dịch truyền chiếm 67,4% so với tổng số bệnh nhân nội trú; trung bình
mỗi ngày 1 bệnh nhân nội trú nhận 1,8 mũi tiêm; 72% số mũi tiêm là dùng thuốc
kháng sinh, 23% thuốc bổ, 20% thuốc điều trị triệu chứng. Qua phỏng vấn 120
NVYT có 12% cho rằng tiêm không an toàn có thể lây nhiễm viêm gan C, 100%
NVYT cho rằng tiêm không an toàn có thể viêm gan B và HIV. 82% số NVYT cho
rằng người bệnh và người nhà thích được tiêm hơn uống; 58% số NVYT cho rằng
chỉ định tiêm quá mức cần thiết; 6% số NVYT cho rằng bệnh nhân quá tải là
nguyên nhân làm cho việc thực hiện tiêm không an toàn; có 28% NVYT bị rủi ro do
vật sắc nhọn; nguyên nhân bị rủi ro là do sơ xuất 40%, do người bệnh giãy dụa
25%, do vô tình 35%, 76,5% không báo cáo khi bị rủi ro. Kết quả quan sát thực
hành tiêm cho thấy: 94% người tiêm không rửa tay/sát khuẩn trước khi đưa kim qua
da; 17% kim lấy thuốc không đảm bảo vô khuẩn; 3% kim tiêm thuốc không đảm
bảo vô khuẩn trước khi đưa qua da; 1% không đúng vị trí; 3% còn dùng 2 tay đậy
nắp kim; 1% không có hộp chống sốc khi đi tiêm. Đánh giá theo 10 tiêu chuẩn mũi
tiêm an toàn, chỉ có 6% mũi tiêm đạt 10 tiêu chuẩn, 76% mũi tiêm đạt 9/10 tiêu
chuẩn. Tác giả cũng đã đưa ra các khuyến cáo nhằm tăng cường tuyên truyền giáo
dục về nguy cơ tiêm không an toàn, giảm các mũi tiêm không cần thiết, tưng cường
kiểm tra giám sát nhất là các động tác vô khuẩn, phát động chiến dịch vệ sinh tay,
cung cấp đầy đủ dung dịch sát khuẩn tay và hộp an toàn[21]. Nghiên cứu trên đã
xác định tình hình tiêm của khu vực, tìm hiểu kiến thức về TAT của NVYT, tỷ lệ
thực hành đúng mỗi tiêu chuẩn TAT và xác định tỷ lệ mũi tiêm an toàn (đạt 10/10
tiêu chuẩn) là 6%, nhưng tác giả cũng chưa đề cập đến sự kết nối giữa tỷ lệ kiến
thức TAT đạt của NVYT và tỷ lệ thực hành TAT đúng của các mũi tiêm được quan
sát mà vẫn đánh giá từng cấu phần độc lập với nhau.
Nghiên cứu “Khảo sát về tiêm an toàn của điều dưỡng – hộ sinh tại bệnh
viện phụ sản Tiền Giang năm 2008” của tác giả Nguyễn Mỹ Linh và cộng sự trên
80 Điều dưỡng, hộ sinh với 302 mũi tiêm cho kết quả như sau: Thực hành về tiêm
an toàn của ĐD-HS cho thấy rửa tay/ sát khuẩn tay nhanh trước khi tiêm chỉ đạt gần
15,9%, rút thuốc không đủ liều như sót thuốc, phụt thuốc khi đuổi khí chiếm gần
12%, hơn 20% ĐD-HS còn lưu kim trên lọ sau khi rút thuốc, trên 50% ĐD-HS
13
không quan sát bệnh nhân khi tiêm và trên 30% không tiện nghi lại cho họ sau khi
tiêm. Xử lý chất thải, VSN sau khi tiêm được ĐD-HS cô lập kim rất tốt 100%
nhưng vẫn còn 1,3% ĐD-HS dùng tay tháo lắp kim tiêm. Hiểu biết về ý nghĩa TAT
của ĐD-HS đạt 100%, gần 95% ĐD-HS có hiểu biết về sự cần thiết phải rửa tay
trong quy trình tiêm và xác định các nguyên tắc, vùng vô trùng khi tiêm thuốc. Trên
xe có hộp chứa vật sắc nhọn (VSN) và hộp thuốc chống sốc khi đi tiêm đạt gần
100%. Tuy nhiên còn >30% ĐD-HS chưa xử lý ban đầu đúng khi bị vật sắc nhọn
đâm[14]. Tác giả nghiên cứu này cũng như một số nghiên cứu trước đây, tuy chưa
chỉ rõ phương pháp chọn mẫu và phương pháp thu thập số liệu nhưng đã mô tả rất
chi tiết về thực hành TAT [14].
Nghiên cứu khảo sát về tiêm an toàn tại bệnh viện Việt Đức năm 2009 của
Phan Thị Dung và cộng sự qua đánh giá 984 mũi tiêm tại 12 khoa lâm sàng cho kết
quả như sau: vị trí tiêm tĩnh mạch chiếm tỷ lệ cao nhất 91,7%, trong đó tiêm qua
chạc ba là 67,6%, 100% người bệnh được sử dụng bơm tiêm vô khuẩn, 97,7%
chuẩn bị đầy đủ cơ số chống sốc tại xe tiêm, 95% cô lập vật sắc nhọn vào hộp
kháng thủng ngay sau khi tiêm, trên 95,% thực hiện tốt các kỹ thuật tiêm như rút
piton kiểm tra trước khi bơm thuốc, sát khuẩn đúng vị trí, góc kim và độ sâu thích
hợp. Tuy nhiên cũng còn 51% chưa sát khuẩn tay trước tiêm, 33,4% chưa sát khuẩn
nắp lọ thuốc, vỏ thuốc trước khi lấy thuốc, 3,4% trường hợp kim nhiễm bẩn trước
khi tiêm, 26,8% chạc ba bị nhiễm bẩn khi tiêm, 45,7% dùng hai tay đậy nắp kim,
38,6% không sát khuẩn tay sau khi tiêm. Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để
tăng cường tiêm an toàn tại BV Việt Đức như; tổ chức đào tạo liên tục, tăng cường
công tác kiểm tra, giám sát, truyền thông giáo dục về nguy cơ tiêm không an toàn
và tăng cường công tác phân loại, thu gom,và quản lý chất thải y tế đặc biệt là rác
thải y tế là vật sắc nhọn nhiễm bẩn [11]. Nghiên cứu này đã đánh giá hiện trạng
tiêm an toàn tại BV Việt Đức năm 2009 với 19 tiêu chí đánh giá, tuy không đưa ra
tỷ lệ các mũi tiêm an toàn (đạt đủ các tiêu chí trên) và các yếu tố ảnh hưởng đến
việc tuân thủ tiêm an toàn tại Bệnh viện nhưng cũng đã mô tả kết quả thực hiện
từng tiêu chí mà nhóm đã khảo sát từ đó có các đề xuất phù hợp với đơn vị.
14
Nghiên cứu “Đánh giá thực trạng tiêm an toàn tại bệnh viện Y học cổ truyền
TW năm 2009” của Phạm Tuấn Anh và cộng sự tại 7 khoa lâm sàng bằng quan sát
trực tiếp, chấm điểm theo bảng kiểm băng phương pháp quan sát 210 mũi tiêm cho
kết quả: tuổi trung bình của điều dưỡng tham gia nghiên cứu là 32,2 (SD±8,44),
nam chiếm 23,3%, trung cấp 95,5%, về tình hình tiêm tại BV 51,9% là mũi tiêm
tĩnh mạch, truyền dịch 30,48%, tiêm bắp thịt chỉ có 11,9%, tỷ lệ tiêm dưới da 3,3%,
trong da 2,9%. Xét các tiêu chí chuẩn bị dụng cụ, đảm bảo an toàn cho cộng đồng
có 100% các mũi tiêm đều đạt yêu cầu. Về tiêu chí bảo đảm an toàn cho người tiêm
không có thông kê chung nhưng 100% thực hiện 5 đúng, thấp nhất là thao tác sát
khuẩn nắp lọ thuốc 44,1%, sát khuẩn tay trước sau tiêm đạt 84,4%, tiêm đúng kỹ
thuật đạt 88,6%. Về tiêu chí đảm bảo an toàn cho người tiêm có 100% các mũi tiêm
cô lập vật sắc nhọn vào hộp kháng thủng ngay sau khi tiêm, vẫn còn 15,5% không
đảm bảo bơm tiêm vô khuẩn và còn dùng hai tay đậy nắp kim. Tỷ lệ tiêm an toàn
của BV đạt 22, 36%, qua kiểm định thống kê cho thấy có sự khác biệt về tỷ lệ tiêm
an toàn có ý nghĩa thống kê bởi các yếu tố: độ tuổi 20-29 có tỷ lệ tiêm an toàn cao
nhất 35%, độ tuổi từ 40 tuổi trở lên đạt 12%; thâm niên dưới 5 năm có tỷ lệ tiêm an
toàn 36,5%, từ 5-20 năm đạt 8,6%, trên 10 năm đạt 16,67%; được tập huấn đạt
95,83%, trong nhóm chưa được tập huấn đạt 4,17%. Nhóm nghiên cứu đã đưa ra kết
luận về thực trạng tiêm an toàn tại bệnh viện và đề xuất tăng cường giáo dục về
nguy cơ tiêm không an toàn đối với cán bộ y tế và người bệnh; tăng cường công tác
kiểm tra của điều dưỡng trưởng; đào tạo về các quy trình kỹ thuật tiêm đặc biệt là
các kỹ thuật vô khuẩn [1]. Nghiên cứu này là một trong số ít các nghiên cứu đã xá
định có sự khác biệt tỷ lệ tiêm an toàn trong các nhóm yếu tố như tuổi, giới, thâm
niên công tác và việc tập huấn kiến thức, nhưng vẫn chưa tìm hiểu các mối liên
quan đến tỷ lệ tiêm an toàn tại Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương.
Nghiên cứu “Đánh giá thực trạng tiêm an toàn tại bệnh viện Trung ương
Huế, năm 2010” của Phan Cảnh Chương và cộng sự tại 30 khoa lâm sàng, bằng
phương pháp mô tả cắt ngang trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 7 năm 2010, với
mục tiêu 1- Đánh giá thực hành TAT sau 6 tháng tập huấn; 2- Đánh giá mức độ
thay đổi trong thực hiện tiêm an toàn hành vi của điều dưỡng trong thực hiên TAT;
15
3- Đề xuất một số giải pháp thực hiện TAT. Qua quan sát và đánh giá 1000 mũi
tiêm bằng phiếu khảo sát thiết kế sẵn theo các tiêu chí Sử dụng dụng cụ thích hợp,
an toàn – không gây hại cho người được tiêm – không gây nguy cơ phơi nhiễm cho
người thực hiện – không tạo chất thải nguy hại cho người khác đã có kết quả như
sau: về thực trạng mũi tiêm trung bình trong một ngày tại BV là 5.456, trung bình
mỗi điều dưỡng tiêm 16,8 mũi mỗi ngày, mũi tiêm theo đường tĩnh mạch là chủ yếu
chiếm 75,7% (tĩnh mạch trực tiếp 25,8%, qua chạc ba 30,8%), tiêm bắp chiếm
17,8%, dưới da 3%, trong da 3,5%. Đánh giá tiêu chí sử dụng dụng cụ thích hợp, an
toàn tại BV Trung ương Huế thực hiện rất tốt, 100% các mũi tiêm sử dụng bơm
tiêm vô khuẩn dùng 1 lần, đảm bảo kim lấy thuốc vô khuẩn dùng 1 lần và có dung
dịch sát khuẩn tay nhanh, các tiêu chí về phương tiện dụng cụ khác đạt từ 96,9% trở
lên. Đã có sự thay đổi hành vi sau tập huấn, tỷ lệ sát khuẩn tay trước khi chuẩn bị
dụng cụ đạt từ 62,3 lên 91,7%, kiểm tra sự nguyên vẹn của bơm tiêm là 40,5% lên
94,8%, sát khuẩn đầu ống thuốc/lọ thuốc tăng từ 55% lên 95,6%, sát khuẩn vị trí
tiêm đúng quy định tăng từ 51,4 lên 94,8%, sát khuẩn lại vi trí tiêm bằng bông vô
khuẩn tăng từ 52,5% lên 95,8%, dùng tay đậy nắp kim dạt từ 38,3% lên 95,8%, bẻ
ống thuốc bằng gặc vô khuẩn tăng từ 68,7% lên 96,4%, giao tiếp tương tác với
người bệnh trong và sau tiêm tăng từ 65,5% lên 95,7%, bơm thuốc chậm tăng từ
65% lên 82,3% [8]. Nghiên cứu đã đưa ra các tỷ lệ thực hiện các tiêu chí tiêm an
toàn trước và sau khi tập huấn để thấy rõ có sự cải thiện đáng kể trong hành vi tiêm
an toàn của điều dưỡng, tuy chưa đánh giá tỷ lệ tiêm an toàn chung của bệnh viện
trước và sau tập huấn nhóm nghiên cứu cũng đã đưa ra 15 khuyến nghị cho các cấp
Bộ Y tế, Bệnh viện và phòng Điều dưỡng.
Năm 2010, Hội Điều dưỡng Việt Nam (VNA) được sự hỗ trợ của PI
(Pathfinder International), đã tiến hành nghiên cứu đánh giá tại 13 bệnh viện đại
diện lựa chọn vào dự án sau chương trình đào tạo tập huấn kiến thức tiêm an toàn.
Nghiên cứu khảo sát nhận thức của 830 điều dưỡng qua bộ công cụ gồm 32 câu hỏi
để đánh giá nhận thức, kiến thức và thái độ về TAT, quan sát, đánh giá 1-2 mũi
tiêm/ĐD bằng bảng kiểm gồm 36 tiêu chí, mỗi tiêu chí đánh giá theo 4 mức độ khác
nhau, kết quả cho thấy:
16
Trung bình mỗi người bệnh nhận 1,87mũi tiêm, 0,47 mũi tiêm truyền, tổng
cộng 2,28 mũi tiêm và tiêm truyền, mỗi ĐD phải thực hiện 10,9 mũi tiêm mỗi ngày,
cao nhất có khoa thuộc khối nội 87,8 mũi/ngày, có 2,7 mũi tiêm truyền mỗi ngày
như vậy trung bình mỗi điều dưỡng thực hiện 13,6 lần tiêm truyền trong ngày [20].
Tỷ lệ có kiến thức về chuẩn bị trước tiêm đạt trên 82%, riêng kiến thức về
tiêu chuẩn của hộp kháng thủng chỉ đạt 54,6%, kiến thức về quy trình tiêm đạt
65,3%, vệ sinh tay sau khi tiêm 50,5%, phòng ngừa và xử lý tai nạn do vật sắc ngọn
còn rất hạn chế, chỉ có 30,9% số người được hỏi có kiến thức đạt, hơn 50% NVYT
đã từng bị tai nạn do vật sắc nhọn trong quá trình công tác và có đến 50% không
biết xử trí khi bị tai nạn, và có 66% nhớ đến việc ghi chép, báo cáo tai nạn này [20].
Về thực trạng thực hiện qui trình tiêm cho thấy: điểm trung bình đạt 2,33/3,
có 24.7% các mũi tiêm được thực hiện rất tốt, còn lại đều chưa đạt ở mức độ khác
nhau, thậm chí có 14% các mũi tiêm không đạt theo qui định về vô khuẩn. Có
44,9% mũi tiêm không có hộp chống sốc, 2,8% không có hộp dựng vật sắc nhọn,
70,7% không rửa tay đúng kỹ thuật. 63,1% không thực hiện tốt sát khuẩn đầu ống
thuốc, 24% sát khuẩn vùng tiêm không bảo đảm đúng qui định [20].
Nghiên cứu này đánh giá rất chi tiết, cụ thể về kiến thức và thực hành TAT
trên toàn quốc và đưa ra một số khuyến nghị, nhóm nghiên cứu cũng đã sử dụng
thang điểm (0;1;2;3) để đánh giá việc thực hành TAT nhưng chưa có tổng hợp đánh
giá tỷ lệ và mức độ đạt tiêu chuẩn TAT của các mũi tiêm trong nghiên cứu [20].
Nghiên cứu của Tô Thị Minh Châm và cộng sự tại bệnh viên Thanh Nhàn
năm 2010 trên 220 điều dưỡng tại các khoa lâm sàng, mỗi ĐD quan sát 2 mũi tiêm,
với phương pháp mô tả cắt ngang nhóm nghiên cứu đã đánh giá thực trạng các mũi
tiêm an toàn qua quan sát ngẫu nhiên trực tiếp bằng bảng kiểm gồm 20 tiêu chuẩn
của Bộ Y tế. Kết quả nghiên cứu cho thấy số mũi tiêm trung bình mỗi ngày tại BV
là 2290, số mũi tiêm trung bình của 1 điều dưỡng mỗi ngày là 16,2. 100% các mũi
tiêm chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ, phương tiên như bơm tiêm trong bao gói và có
hạn dùng, có hộp chống sốc đủ cơ số trên xe tiêm, 99,55% không dùng tay để dậy
nắp và tháo kim sau khi tiêm, 97,7% đi găng khi tiêm tĩnh mạch. 100% thực hiện tốt
“5 đúng” và đúng các kỹ thuật tiêm, 87,5% vệ sinh tay trước khi tiêm, chỉ có 54,5%
17
sát khuẩn nắp lọ thuốc và đầu ống thuốc khi lấy thuốc. 100% bỏ ngay bơm kim tiêm
vào thùng kháng thủng ngay sau khi tiêm, chỉ có 1,1% phân loại rác thải sai. Tỷ lệ
mũi tiêm an toàn của bệnh viện Thanh Nhàn năm 2010 là 35,3% [7].
Gần đây nhất, nghiên cứu “Khảo sát thực trạng tiêm an toàn tại bệnh viện
Tim Hà Nội” của Đoàn Hoàng Yến và cộng sự được tiến hành từ tháng 5 đến tháng
9 năm 2011 với phương pháp mô tả cắt ngang. Nghiên cứu tiến hành quan sát 378
mũi tiêm tại 3 khoa lâm sàng vào các thời điểm khác nhau trong ngày và đánh giá
theo 4 nhóm tiêu chí: sử dụng dụng cụ thích hợp, an toàn – không gây hại cho người
được tiêm, không gây nguy cơ phơi nhiễm cho người thực hiện, không thải chất thải
nguy hại cho người khác. Kết quả: trung bình mỗi ngày có khoảng 136 mũi têm
được thực hiện tại bệnh viện; mỗi điều dưỡng thực hiện khoảng 3 mũi tiêm/ngày;
các dụng cụ, phương tiện thực hành tiêm an toàn đã được chuẩn bị đầy đủ; 100%
điều dưỡng thực hiện đúng kỹ thuật tiêm; tỷ lệ khuẩn vị trí tiêm đúng quy định là
97,8%; cô lập ngay vật sắc nhọn sau khi tiêm 98,4%…. Tuy nhiên, còn một số thực
hành của NVYT chưa tốt như tỷ lệ kiểm tra sự nguyên vẹn của bơm tiêm còn thấp
27,5%; sát khuẩn đầu ống thuốc, lọ thuốc 13,4%. Nghiên cứu chưa đưa ra được tỷ
lệ mũi tiêm đạt đủ cả 4 nhóm tiêu chuẩn đề ra [25].
Qua một số nghiên cứu đại diện trên các tác giả đã đưa ra một bức tranh về
tình trạng tiêm an toàn tại Việt Nam hiện nay. Tỷ lệ mũi tiêm an toàn chưa cao phụ
thuộc vào qui mô và thiết kế của nghiên cứu (tỷ lệ từ 6% – 26% trên qui mô nhiều
bệnh viện, khu vực, nhiều vùng, tỷ lệ từ 20% – 60% trên qui mô một bệnh viện).
Xét riêng về góc độ thực hành TAT tại các cơ sở y tế có rất nhiều nguyên nhân dẫn
đến tiêm không an toàn: Thiếu trang thiết bị, dụng cụ do không được cung cấp đầy
đủ hoặc do sự chuẩn bị không của NVYT; Sự tuân thủ các nguyên tắc vô khuẩn
kém, điều này rất nguy hiểm vì đây chính là những nguy cơ gây nhiễm khuẩn cho
người bệnh đặc biệt là tiêm truyền qua đường tĩnh mạch; Chưa thực hiện đúng các
qui trình kỹ thuật khi tiêm gây lên những nguy cơ không nhỏ cho người bệnh và cho
cả người tiêm; Xử lý chất thải sắc nhọn sau khi tiêm không đúng cách gây nguy cơ
TNTT cho công đồng. Một số nghiên cứu đã chỉ ra mức độ thực hiện các tiêu chuẩn
tiêm an toàn (VNA, năm 2010). Có những nghiên cứu (Phan Cảnh Chương, 2010)
iiiDANH MỤC PHỤ LỤCPhụ lục 1 : Khung triết lý vận dụng trong nghiên cứu ……………………………… 90P hụ lục 2 : Bảng kiểm nhìn nhận mũi tiêm an toàn …………………………………….. 91P hụ lục 3 : Phiếu khảo sát về tiêm an toàn ………………………………………………. 94P hụ lục 4 : Phiếu tổng hợp tình hình tiêm tại khoa lâm sàng ……………………… 99P hụ lục 5 : Hướng dẫn phỏng vấn sâu …………………………………………………… 101P hụ lục 6 : Hướng dẫn đàm đạo nhóm …………………………………………………. 102P hụ lục 7 : Kỹ thuật tiêm thuốc ……………………………………………………………. 103P hụ lục 8 : Một số hiệu quả nghiên cứu ………………………………………………….. 107 ivDANH MỤC CHỮ VIẾT TẮTBSBVBVĐKĐDĐDTĐDTKĐTVGSVLĐNBNHSNVYTMTPĐTPVSTATTBTLNTNTTVNAVSNWHOBác sĩBệnh việnBệnh viện đa khoaĐiều dưỡngĐiều dưỡng trưởngĐiều dưỡng trưởng khoaĐiều tra viênGiám sát viênLãnh đạoNgười bệnhNữ hộ sinhNhân viên y tếMũi tiêmPhiếu điều traPhỏng vấn sâuTiêm an toànTrung bìnhThảo luận nhómTai nạn thương tíchHội điều dưỡng Việt NamVật sắc nhọnTổ chức Y tế thế giới ( World Health Organization ) DANH MỤC BẢNGBảng 1. Biến số nghiên cứu ……………………………………………………………………………. Bảng 2 : Phân loại mũi tiêm và số lượng điều dưỡng theo chuyên khoa ………………. Bảng 3 : Tình hình chấn thương do vật sắc nhọn trong 1 năm qua ………………………. Bảng 4 : Đặc điểm nhân khẩu học của điều dưỡng ……………………………………………. Bảng 5 : Trình độ trình độ và thâm niên công tác làm việc của các điều dưỡng …………… Bảng 6 : tin tức về tình hình cung ứng kỹ năng và kiến thức TAT cho điều dưỡng ………….. Bảng 7 : Nhận định về nguyên do tiêm không an toàn ……………………………………. Bảng 8 : Kiến thức tiêm an toàn của điều dưỡng ……………………………………………….. Bảng 9 : Kiến thức về tiêm an toàn của điều dưỡng theo khoa ……………………………. Bảng 10 : Thực hành trong chuẩn bị sẵn sàng phương tiện đi lại và dụng cụ tiêm ……………………… Bảng 11 : Tỷ lệ tuân thủ nguyên tắc vô khuẩn trong khi tiêm …………………………….. Bảng 12 : Tỷ lệ tuân thủ kỹ thuật tiêm an toàn ………………………………………………….. Bảng 13 : Tỷ lệ tuân thủ các kỹ năng và kiến thức tiếp xúc, tương tác với người bệnh …………… Bảng 14 : Tỷ lệ tuân thủ các kỹ thuật nhằm mục đích phòng tránh rủi ro tiềm ẩn lây nhiễm chongười tiêm và hội đồng ……………………………………………………………….. Bảng 15 : Tỷ lệ mũi tiêm đạt đủ các tiêu chuẩn an toàn theo khoa ………………………. Bảng 16 : Tỷ lệ điều dưỡng thực hành thực tế TAT đúng ……………………………………………… Bảng 17 : Mối tương quan giữa yếu tố nhân khẩu học và kỹ năng và kiến thức về TAT. ………….. Bảng 18 : Mối tương quan giữa trình độ trình độ, đào tạo và giảng dạy tập huấn, thâm niêncông tác và kiến thức và kỹ năng về TAT. ……………………………………………………….. Bảng 19 : Mối tương quan giữa 1 số ít yếu tố nhân khẩu học và thực hành thực tế TATcủa điều dưỡng ……………………………………………………………………………… Bảng 20 : Mối tương quan giữa trình độ trình độ, thâm niên công tác làm việc, số lượngmũi tiêm mỗi ngày và thực hành thực tế TAT của điều dưỡng ……………………… Bảng 21 : Mối tương quan giữa thời gian tiêm và tỷ suất tiêm an toàn ……………………… Bảng 22 : Mối tương quan giữa đường tiêm và tỷ suất tiêm an toàn ………………………….. Bảng 23 : tin tức tiêm truyền tại BVĐK HĐ Hà Đông, TP. Hà Nội … … … … … … … … 110B ảng 24 : Phân loại số mũi tiêm theo nhóm tuổi của bệnh nhân … … … … … … …. 110B ảng 25 : Nhận định của điều dưỡng về tỷ suất TAT tại BVĐK Hà Đông … … … … 111 viDANH MỤC BIỂU ĐỒBiểu đồ 1 : Số mũi tiêm trung bình / bệnh nhân / ngày phân bổ theo khoa …………………………………………….. 45B iểu đồ 2 : Phân bố số mũi tiêm theo đường tiêm ( N = 469130 ) …………………………………………………………….. 47B iểu đồ 3 : Phân bố số mũi tiêm theo vị trí tiêm ( N = 469130 ) ……………………………………………………………….. 47B iểu đồ 4 : Tỷ lệ báo cáo giải trình về TNTT khi tiêm ( n = 109 ) ……………………………………………………………………………. 49B iểu đồ 5 : Nguyên nhân điều dưỡng không tuân thủ đúng tiến trình TAT. ……………………………………….. 53B iểu đồ 6 : Tỷ lệ tiêm an toàn theo các nhóm tiêu chuẩn ( n = 436 ) ……………………………………………………………. 63B iểu đồ 7 : Mối tương quan giữa kỹ năng và kiến thức TAT và chấn thương do vật sắc nhọn ………………………………….. 67B iểu đồ 8 : Mối tương quan giữa kỹ năng và kiến thức TAT và thực hành thực tế TAT của điều dưỡng ( n = 109 ) ………………… 68B iểu đồ 9 : Mối tương quan giữa vị trí tiêm và tỷ suất tiêm an toàn ……………………………………………………………. 70B iểu đồ 10 : Mối tương quan giữa thứ tự mũi tiêm quan sát và tỷ suất tiêm an toàn ………………………………….. 71B iểu đồ 11 : Phân bố số mũi tiêm theo thời hạn thực thi mũi tiêm ( n = 436 ) …………………………………….. 108 viiTÓM TẮT NGHIÊN CỨUTiêm là một trong các giải pháp đưa thuốc vào khung hình nhằm mục đích mục tiêu điềutrị và dự trữ. Tiêm không an toàn hoàn toàn có thể gây ra những rủi ro tiềm ẩn như : áp xe tại vịtrí tiêm, shook phản vệ, và đặc biệt quan trọng là những rủi ro tiềm ẩn truyền các vi rút qua đườngmáu cho cả người bệnh, nhân viên cấp dưới y tế ( NVYT ) và hội đồng. Nhận thức tầm quan trọng của tiêm an toàn, năm 2000, Bộ Y tế đã phối hợpvới Hội Điều dưỡng Nước Ta phát động trào lưu “ Tiêm an toàn ” trong toànquốc trong đó có TP.HN. Tuy nhiên, hiệu quả từ một số ít nghiên cứu cho thấy : tỷ lệmũi tiêm đạt đủ các tiêu chuẩn tiêm an toàn ( TAT ) còn chưa cao theo kết quảnghiên cứu của Đào Thành trên toàn nước năm 2005 là 22,6 %, của Phạm Tuấn Anhnghiên cứu tại Bệnh viện Y học truyền thống năm 2009 là 22,36 %. Để góp thêm phần diễn đạt tình hình yếu tố này, chúng tôi thực thi nghiên cứu “ Đánh giá triển khai tiêm an toàn tại Bệnh viện đa khoa HĐ Hà Đông, TP. Hà Nội, năm2012 ” với các tiềm năng : ( 1 ) Mô tả tình hình tiêm tại Bệnh viện đa khoa ( BVĐK ) HĐ Hà Đông, Thành Phố Hà Nội năm 2012 ; ( 2 ) Mô tả kiến thức và kỹ năng và thực hành thực tế tiêm an toàn của cácđiều dưỡng tại BVĐK HĐ Hà Đông, TP.HN, năm 2012 ; ( 3 ) Xác định các yếu tố liênquan đến kỹ năng và kiến thức và thực hành thực tế tiêm an toàn của điều dưỡng tại BVĐK HĐ Hà Đông, TP. Hà Nội, năm 2012. Nghiên cứu miêu tả cắt ngang có nghiên cứu và phân tích, phối hợp định lượng và định tínhđược triển khai từ tháng 2 đến tháng 8 năm 2012, tại BVĐK HĐ Hà Đông TP. Hà Nội. Đốitượng nghiên cứu là 109 điều dưỡng đang công tác làm việc tại các khoa lâm sàng và quansát 436 mũi tiêm. Kết quả của nghiên cứu cho thấy : Có 37,6 % đã bị tai nạn thương tâm thương tích ( TNTT ) trong một năm qua, trong đó có36, 6 % người đã từng bị chấn thương tới 2-3 lần. Nguyên nhân đa phần là do sơ xuấtcủa điều dưỡng 75,6 %, người bệnh giãy dụa 17,1 %. Vị trí bị tổn thương hầu hết là tạingón tay ( 97,6 % ). Thời điểm bị tổn thương đa phần vào buổi sáng là chiếm 68,3 %. 91,7 % điều dưỡng đã được tập huấn trong năm 2011, 98,2 % được điềudưỡng trưởng hướng dẫn về kỹ năng và kiến thức và thực hành thực tế TAT. Đa số các khoa phòngđều có sẵn các tài liệu về TAT ( 95,4 % ). viiiNhận định của đối tượng người tiêu dùng nghiên cứu về nguyên do tiêm không an toàn : 44 % không tuân thủ các kỹ thuật vô khuẩn, 38 % do người nhà và người bệnh ( NB ) thích tiêm hơn uống, 32,1 % chỉ định tiêm quá mức thiết yếu, 11,9 % do thiếuphương tiện thu gom giải quyết và xử lý vật sắc nhọn ; Về nguyên do của điều dưỡng ( ĐD ) : 37,6 % do thói quen, 19,3 % do ý thức của điều dưỡng chưa cao, 33,9 % thiếu chế tàithưởng phạt, 21,1 % thiếu kiểm tra giám sát, 7,3 % không có trào lưu thi đua và51, 4 % do cường độ thao tác quá cao. Tỷ lệ điều dưỡng có kiến thức và kỹ năng TAT đạt là 82,6 %, chỉ có 1 câu duy nhất vềkiểm tra chất lượng thuốc có 100 % vấn đáp đúng. Tỷ lệ thấp nhất là cách hạn chế lâytruyền qua đường máu ( 65,1 % ), thực hành thực tế giữ bông gạc khô vô khuẩn vào chỗ chảymáu của vết tiêm ( 67,9 % ) và cách tiêu hủy vật sắc nhọn đúng ( 67,9 % ). Các yếu tốliên quan đến kỹ năng và kiến thức về TAT của ĐD là nhóm tuổi ( OR = 3,5 ; p < 0,05 ) ; được đàotạo / tập huấn ( OR = 4,9 ; p < 0,01 ) và thâm niên công tác làm việc ( OR = 4,9 ; p < 0,05 ). Đặc biệt tỷlệ chấn thương trong nhóm không đạt về kỹ năng và kiến thức cao gấp 3,6 lần nhóm có kiếnthức đạt ( OR = 3,6 ; p < 0,05 ). Tỷ lệ mũi tiêm thực hành thực tế đúng 23 tiêu chuẩn TAT là 22,2 %. Trong đó, thựchành đúng 5 tiêu chuẩn về phương tiện đi lại, dụng cụ là 86,5 % ; đúng 5 tiêu chuẩn về kỹthuật tiêm là 66,5 % ; đúng 5 tiêu chuẩn về tiếp xúc tương tác với người là 47 % vàđúng 4 tiêu chuẩn về an toàn người tiêm và hội đồng là 77,8 % ; đúng theo 4 tiêuchuẩn về vô khuẩn thấp nhất 45,0 %. Với 4 mũi tiêm được quan sát của mỗi NVYT, tỷ suất điều dưỡng thực hành thực tế đúng từ 3 đến 4 mũi tiêm là 23,9 %. Các yếu tố liên quanđến thực hành thực tế TAT của ĐD là nhóm tuổi ( OR = 3,1 ; P < 0,05 ) và thâm niên công tác làm việc ( OR = 2,8 ; p < 0,05 ). Ngoài ra còn một số ít yếu tố như thời gian thực thi mũi tiêm, đường tiêm, thứ tự thực thi mũi tiêm cũng có mối tương quan tới tỷ suất TAT ( p < 0,05 ) Một số khuyến nghị được đưa ra dựa trên hiệu quả nghiên cứu là : Tăng cườngcông tác vô khuẩn, phòng ngừa rủi ro tiềm ẩn lây nhiễm do TNTT, tăng cường đào tạonâng cao kiến thức và kỹ năng và kiến thức và kỹ năng, tiếp thị quảng cáo giáo dục nâng cao kỹ năng và kiến thức, nhận thứcvà ý thức về rủi ro tiềm ẩn của tiêm, tăng cường kiểm tra giám sát và các chế tài thưởngphạt, thi đua khen thưởng, triển khai các nghiên cứu nhìn nhận về TAT.ĐẶT VẤN ĐÊTheo tổ chức triển khai y tế quốc tế ước tính hàng năm có khoảng chừng 12 tỷ mũi tiêm trênthế giới trong đó 95 % mũi tiêm trong điều trị bệnh, 5 % mũi tiêm trong dự trữ [ 22, 23 ]. Trong điều trị, tiêm có vai trò rất quan trọng trong việc chữa bệnh tại cácbệnh viện và đặc biệt quan trọng là những nơi có nhiều người bệnh nặng. Trong nghành phòngbệnh, tiêm chủng đã tác động ảnh hưởng mạnh vào việc giảm tỷ suất mắc và tỷ suất chết đối vớicác bệnh lây hoàn toàn có thể phòng bằng vacxin ở trẻ nhỏ. Bên cạnh những ưu điểm trên, tiêm cũng hoàn toàn có thể gây ra những rủi ro tiềm ẩn như : áp xe tại vị trí tiêm, chứng liệt thần kinh, phản ứng dị ứng, sốc phản vệ, và đặc biệtlà những rủi ro tiềm ẩn truyền các vi rút qua đường máu cho cả người bệnh, nhân viên cấp dưới ytế ( NVYT ) và hội đồng. Theo báo cáo giải trình của Tổ chức Y tế Thế giới ( WHO ), tiêmkhông an toàn đã trở thông dụng và đang diễn ra trên khoanh vùng phạm vi nhiều nước và là nguyênnhân chính làm lây truyền các bệnh như viêm gan B, viêm gan C và HIV [ 22 ]. Hàngnăm, tiêm không an toàn gây nên 1,3 triệu ca chết sớm, tổn thất 26 triệu năm sốngthiệt hại kinh tế tài chính gián tiếp 535 triệu USD [ 31 ] là nguyên do dẫn đến 21 triệu camắc mới viêm gan B, 2 triệu ca mắc mới viêm gan C và 260.000 ca mắcHIV / AIDS, số ca tử trận trong năm 2000 do thực thi thiếu an toàn trước đó là501. 000 ca. WHO ước tính có tới 50 % các mũi tiêm ở các nước đang phát triểnkhông an toàn, có tới 20-80 % các trường hợp nhiễm vi rút viêm gan B là do tiêmkhông an toàn. Trước thực tiễn đó, năm 1999 các tổ chức triển khai như WHO, UNICEF và UNFPA đãphối hợp đưa ra công bố chung về mạng lưới hệ thống Tiêm an toàn Toàn cầu ( Safetyinfection Global Network ), viết tắt là SIGN. Mục đích của SIGN là giảm tần sốtiêm và thực thi tiêm an toàn [ 22 ]. Tại Nước Ta, nhận thức về tầm quan trọng của tiêm an toàn và các nguy cơdo tiêm không an toàn gây nên, năm 2000, Bộ Y tế đã phối hợp với Hội Điều dưỡngViệt Nam phát động, tiến hành Chương trình “ Tiêm an toàn ” trong toàn nước, chương trình đã thiết kế xây dựng kế hoạch gồm 3 nội dung : ( 1 ) Thay đổi nhận thức / hànhvi của nhân viên cấp dưới y tế và người bệnh ; ( 2 ) Phương tiện vừa đủ và tương thích ; ( 3 ) Quảnlý rác thải đúng qui định và an toàn. Chương trình TAT dần góp thêm phần đổi khác nhậnthức và hành vi về thực hành thực tế tiêm an toàn và đã được sự hưởng ứng và tham gia củacác ban ngành và NVYT trong cả nước đặc biệt quan trọng là đội ngũ ĐD, nhiều hoạt độngnhư hội thảo chiến lược, huấn luyện và đào tạo, tập huấn về tiêm an toàn, nghiên cứu nhìn nhận thực trạng tiêman toàn trên toàn nước, trên các tỉnh, thành phố, tại các bệnh viện [ 22 ]. Tuy nhiên, tác dụng từ 1 số ít nghiên cứu cho thấy tỷ suất mũi tiêm đạt đủ cáctiêu chuẩn tiêm an toàn còn chưa cao. Với khoanh vùng phạm vi toàn nước, theo nghiên cứu củaĐào Thành, năm 2005, chỉ có 22,6 % mũi tiêm đạt tiêu chuẩn tiêm an toàn [ 19 ]. Cácnghiên cứu tại TP.HN cũng cho hiệu quả tương tự như : năm 2001, nghiên cứu củaNguyễn Minh Tâm cho thấy chỉ có 10 % mũi tiêm bắp, dưới da, trong da đạt 100 % tiêu chuẩn đề ra ; khoảng chừng 7 % mũi tiêm bắp đạt dưới 50 % điểm chuẩn [ 18 ]. Theonghiên cứu nhìn nhận tình hình TAT trong toàn nước tỷ suất mũi tiêm an toàn đạtchuẩn xê dịch từ 6 % đến 22,6 %. Nghiên cứu gần đây nhất triển khai tại Viện TimHà Nội năm 2011, tuy không thống kê tỷ suất mũi tiêm đạt đủ các tiêu chuẩn tiêm antoàn những cũng chỉ ra : 7,4 % kim tiêm chưa bảo vệ vô khuẩn, 24,6 % điều dưỡngkhông mang găng tay khi tiêm truyền tĩnh mạch, 41 % điều dưỡng sẵn sàng chuẩn bị phươngtiện và dụng cụ tiêm chưa vừa đủ [ 25 ]. Các nguyên do dẫn đến tỷ suất mũi tiêm antoàn thấp là : ĐD còn thiếu và chưa được update thông tin về tiêm an toàn ; chưatuân thủ đúng quá trình kỹ thuật và các thao tác trấn áp nhiễm khuẩn trong thựchành tiêm, trong thu gom, giải quyết và xử lý và quản trị chất thải y tế sắc nhọn [ 18 ], [ 19 ], [ 25 ]. Bệnh viện đa khoa HĐ Hà Đông, là bệnh viện hạng I của Thủ đô Thành Phố Hà Nội, với quimô 550 giường bệnh gồm 33 khoa phòng và nhiều chuyên khoa sâu, có nhiệm vụkhám chữa bệnh cho nhân dân khu vực phía tây Thành Phố Hà Nội. Với khuynh hướng phát triểnchung của xã hội bệnh viện cũng không ngừng vững mạnh và tăng trưởng trở thànhbệnh viện có uy tín và chất lượng trong mạng lưới hệ thống y tế Thành Phố Hà Nội. Đặc biệt Bệnh việnluôn góp vốn đầu tư cải tổ, nâng cao chất lượng, ngay từ khi chương trình “ Tiêm an toàn ” được Hội Điều dưỡng Nước Ta phát động, bệnh viện đã hưởng ứng và triển khaicác giải pháp như phân phối trang thiết bị, dụng cụ tương thích, thiết kế xây dựng qui trình, kiểm tra giám sát, đào tạo và giảng dạy tập huấn nhằm mục đích nâng cao tỷ suất tiêm an toàn của Bệnh viên. Năm 2012, nghiên cứu của Nguyễn Thị Dung cho thấy tỷ suất mũi tiêm đạt đủ cáctiêu chí mũi tiêm an toàn đạt 51,2 %, chỉ có 12,8 % số mũi tiêm thực thi đúng cácnguyên tắc vô khuẩn, 27,4 % không chuẩn bị sẵn sàng phương tiện đi lại và dụng cụ tiêm chưa đầyđủ, 20 % không sát khuẩn da vùng tiêm đúng qui định, đặc biệt quan trọng có 9,6 % xác lập saivị trí tiêm [ 11 ]. Để nhìn nhận tác dụng triển khai Chương trình TAT qua 12 năm tiến hành tạiBVĐK HĐ Hà Đông, đồng thời khám phá các nguyên do dẫn đến tỷ suất TAT thấp vàcác yếu tố tương quan đến việc triển khai đúng các tiêu chuẩn của TAT, từ đó có cácbiện pháp nhằm mục đích nâng cao tỷ suất TAT. Nghiên cứu : “ Đánh giá triển khai tiêm an toàntại BVĐK HĐ Hà Đông, TP.HN năm 2012 ” được triển khai để vấn đáp các câu hỏi sau : ( 1 ) Thực trạng tiêm tại BVĐK HĐ Hà Đông, Thành Phố Hà Nội lúc bấy giờ như thế nào ?, ( 2 ) Kiếnthức và thực hành thực tế tiêm an toàn của các điều dưỡng tại BVĐK HĐ Hà Đông, Hà Nộihiện nay như thế nào ?, và ( 3 ) Các yếu tố nào tương quan đến việc thực thi tiêm antoàn của điều dưỡng tại BVĐK HĐ Hà Đông, TP.HN lúc bấy giờ ? MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU1. Mô tả tình hình tiêm tại bệnh viện đa khoa HĐ Hà Đông, TP. Hà Nội, năm 2012.2. Mô tả kỹ năng và kiến thức và thực hành thực tế tiêm an toàn của các điều dưỡng tại bệnh việnđa khoa HĐ Hà Đông, TP. Hà Nội, năm 2012.3. Xác định một số ít yếu tố tương quan đến kiến thức và kỹ năng và thực hành thực tế tiêm an toàncủa điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa HĐ Hà Đông, TP. Hà Nội, năm 2012. Chương ITỔNG QUAN1. 1. Các khái niệm sử dụng trong nghiên cứuTiêm : là một trong các giải pháp đưa thuốc vào khung hình nhằm mục đích mục tiêu điềutrị và dự trữ [ 22 ]. Tiêm an toàn : Mũi tiêm an toàn là mũi tiêm được thực thi có sử dụng dụngcụ thích hợp, không gây hại cho người được tiêm, không gây rủi ro tiềm ẩn phơi nhiễm chongười được tiêm và không tạo chất thải nguy cơ tiềm ẩn cho người khác [ 13 ], [ 23 ], [ 22 ]. Mũi tiêm không an toàn : là mũi tiêm có một trong những đặc tính sau : dùng bơm tiêm, kim tiêm không vô khuẩn, tiêm không đúng thuốc theo chỉ định ; không thực thi đúng các bước quan trọng của qui trình tiêm ; các chất thải, vật sắcnhọn sau khi tiêm không phân loại và cô lập ngay theo qui chế sử lý chất thải củaBộ Y tế. Bơm kim tiêm vô khuẩn : Đối với bơm tiêm một lần : đã được tiệt khuẩn, còn hạn dùng, được đựngtrong túi nguyên vẹn, kim tiêm không chạm vào vật phẩm hoặc tay trước khi tiêm chongười bệnh. Đối với bơm tiêm thủy tinh và kim tiêm được giải quyết và xử lý để dùng lại thì phải tiệtkhuẩn đúng quy trình tiến độ, còn hạn dùng và được dữ gìn và bảo vệ đúng theo qui định. Xử lý các vật sắc nhọn sau khi tiêm : Phân loại chất thải ngay tại nguồn, côlập ngay các vật sắc nhọn vào hộp kháng thủng đủ tiêu chuẩn, không đậy lại nắpkim, không uốn cong hoặc bẻ gẫy kim [ 21 ]. Bệnh nghề nghiệp : là bệnh phát sinh do điều kiện kèm theo lao động lao động có hạicủa nghề nghiệp tác động ảnh hưởng tới người lao động. Bệnh xẩy ra từ từ hoặc cấp tính. Mộtsố bệnh nghề nghiệp không chữa khỏi và để lại di chứng. Bệnh nghề nghiệp có thểphòng tránh được [ 6 ]. Tác nhân gây bệnh nghề nghiệp : là những yếu tố có hại phát sinh trong quátrình lao động sản xuất, gây ảnh hưởng tác động xấu đến sức khỏe thể chất của người lao động [ 4 ]. Nhiễm khuẩn bệnh viện : Là nhiễm khuẩn phát sinh trong quy trình chămsóc sức khỏe thể chất khi được điều trị tại một sơ sở y tế hoặc khi đến một cơ sở y tế [ 23 ]. Kiểm soát nhiễm khuẩn : đề cập tới các chủ trương và quá trình nhằm mục đích giảmthiểu rủi ro tiềm ẩn lây lan nhiễm khuẩn trong các cơ sở y tế, đặc biệt quan trọng là tại các BV [ 23 ]. Các giải pháp trấn áp : là một mạng lưới hệ thống phân cấp các hoạt động giải trí đượcthực hiện nhằm mục đích ngăn ngừa phát sinh và lây nhiễm mầm bệnh tại nơi thao tác [ 23 ]. Quy trình điều dưỡng : là chiêu thức khoa học được vận dụng trong lĩnhvực điều dưỡng để triển khai chăm nom người bệnh có mạng lưới hệ thống bảo vệ liên tục, antoàn và hiệu suất cao gồm có : Nhận định, chuẩn đoán điều dưỡng, lập kế hoạch, thựchiện và nhìn nhận tác dụng chăm nom điều dưỡng [ 5 ]. Nguyên tắc chăm nom người bệnh trong bệnh viện : 1. Người bệnh là TT của công tác làm việc chăm nom nên phải được chăm nom toàndiện, liên tục, bảo vệ hài lòng, chất lượng và an toàn. 2. Chăm sóc, theo dõi người bệnh là trách nhiệm của bệnh viện, các hoạt độngchăm sóc điều dưỡng, theo dõi do điều dưỡng viên, hộ sinh viên, kỹ thuậtviên triển khai và chịu nghĩa vụ và trách nhiệm. 3. Can thiệp điều dưỡng phải dựa trên cơ sở các nhu yếu trình độ và sựđánh giá nhu yếu của mỗi người bệnh để chăm nom Giao hàng [ 5 ]. 1.2. Tình hình tiêm an toàn trên thế giớiTrên quốc tế, tiêm được ứng dụng trong điều trị từ những năm 1920 và thịnhhành từ cuộc chiến tranh quốc tế II sau khi Penicilline được ý tưởng và đưa vào sửdụng thoáng rộng. Tổ chức Y tế Thới giới ( WHO ) ước tính mỗi năm có khoảng chừng trên 12 tỷ bơm tiêm được bán ra, trung bình mỗi người dân ở các nước đang tăng trưởng đượctiêm 1,5 mũi tiêm / năm. Tại các nước đang tăng trưởng, hàng năm có khoảng chừng 16 tỷmũi tiêm, trong đó 95 % mũi tiêm với mục tiêu điều trị, 3 % mũi tiêm là tiêm chủng, 1 % mũi tiêm với mục tiêu kế hoạch hóa mái ấm gia đình, 1 % mũi tiêm được sử dụng trongtruyền máu và các loại sản phẩm của máu [ 12, 23 ]. Theo báo cáo giải trình của WHO, dựa trên tác dụng nghiên cứu về thực trạng tiêm tại19 nước đại diện thay mặt cho 5 vùng trên quốc tế, có tới 50 % các mũi tiêm ở các nước đangphát triển chưa bảo vệ an toàn, WHO cảnh báo nhắc nhở tiêm không an toàn đã trở thànhthông lệ ở các nước đang tăng trưởng [ 30 ]. Có tới 40 % mũi tiêm được triển khai bằngbơm kim tiêm dùng lại mà không được tiệt khuẩn, ở 1 số ít nước tỷ suất này lên đến70 %, tại các nước Tây Thái Bình Dương tỷ suất này là 30 % [ 22 ], [ 30 ], [ 33 ]. Theo nghiên cứu “ Gánh nặng toàn thế giới của bệnh do tiêm bị ô nghiễm đượcđưa ra trong các thiết lập chăm nom sức khỏe thể chất ” của Hauri và tập sự cho thấy trungbình mỗi người nhận 3,4 mũi tiêm, trong đó 39,3 % sử dụng bơm tiêm dùng lại. Trong năm 2000 nhiễm khuẩn do tiêm gây ra ước tính khoảng chừng 21 triệu ca nhiễmHBV, 2 triệu ca nhiễm HCV và 260.000 ca nhiễm HIV tương ứng chiếm tỷ suất 32 %, 40 % và 5 %, các bệnh nhiễm trùng mới này cho một gánh nặng 9.177.679 DAYLYsgiữa năm 2000 đến năm 2030 [ 28 ]. Trước gánh nặng toàn thế giới do tiêm không an toàn gây nên, năm 1999, các tổchức WHO – UNICEF – UNRPA đã phối hợp đưa ra công bố chung về chính sáchTiêm an toàn Toàn cầu ( Safety infection Global Network ), viết tắt là SIGN. Mụcđích của SIGN là giảm tần số tiêm và thực thi tiêm an toàn. Có 5 nội dung chínhtrong chủ trương Tiêm an toàn : Áp dụng hài hòa và hợp lý các giải pháp điều trị tiêm ; Ngănngừa việc sử dụng lại bơm tiêm và kim tiêm ; Hủy bơm tiêm và kim tiêm đã qua sửdụng ngay tại nơi sử dụng ; Phân tách chất thải ngay tại nơi phát sinh chất thải ; Xửlý an toàn và tiêu hủy dụng cụ tiêm đã qua sử dụng. Các tổ chức triển khai trên cũng đã xâydựng Chiến lược Toàn cầu vì mũi tiêm an toàn gồm có : ( 1 ) Thay đổi hành vi củacán bộ y tế, bệnh nhân và hội đồng ; ( 2 ) Đảm bảo có sẵn vật tư, trang thiết bị ; ( 3 ) Quản lý chất thải an toàn và thích hợp. Các giải pháp trấn áp so với rủi ro tiềm ẩn lâynhiễm do tiêm không an toàn được chia thành 5 nhóm chính : ( 1 ) Loại bỏ rủi ro tiềm ẩn ; ( 2 ) Biện pháp kỹ thuật ; ( 3 ) Biện pháp trấn áp hành chính ; ( 4 ) Biện pháp kiểmsoát tập quán thao tác ; ( 5 ) Dụng cụ bảo lãnh cá thể [ 23 ], [ 22 ]. Với chủ trương của SIGN đã tạo ra một sự đổi khác lớn trong nhận thức, hànhvi của nhân viên cấp dưới y tế và hội đồng, đặc biệt quan trọng với chiến dịch tương hỗ về truyền thông online, kỹ thuật và thiết bị cho các nước chậm tăng trưởng đã dần nâng cao tỷ suất tiêm an toànvà góp thêm phần giảm thiểu các rủi ro tiềm ẩn và gánh nặng của của tiêm không an toàn tạimỗi Quốc gia và trên toàn Thế giới. Đã có rất nhiều nghiên cứu trên quốc tế về tiêm an toàn, các nghiên cứucũng chỉ điểm các rủi ro tiềm ẩn tiêm không an toàn gây nên cũng như tìm hiểu và khám phá cácnguyên nhân của tiêm không an toàn, nhìn nhận về kỹ năng và kiến thức TAT trong người dânvà trong nhân viên cấp dưới y tế, nhìn nhận thực hành thực tế tiêm an toàn trong các cơ sở y tế. Một nghiên cứu của Yan Y và tập sự được thực thi tại Trung Quốc nhằmđánh giá về tiêm an toàn của người dân nông thôn ở huyện Kinh Châu, Hồ Bắc. Kếtquả cho thấy trong số 595 đối tượng người dùng nghiên cứu có 192 người đã được tiêm tối thiểu 1 lần trong 3 tháng vừa mới qua, với tỷ suất tiêm 32,3 % và trung bình là 0,93 mũi tiêm / người. Về kiến thức và kỹ năng TAT có 90,3 % đối tượng người dùng biết rằng tiêm không an toàn hoàn toàn có thể lây truyềncác bệnh qua đường máu trong đó : HIV là 74,4 %, viêm gan B 55,8 %, viêm gan C là22, 9 %. Phân tích hồi quy cho thấy tuổi, trình độ giáo dục và địa phận dân cư là nhữngyếu tố quan trọng tác động ảnh hưởng đến kiến thức và kỹ năng của họ về an toàn tiêm [ 37 ]. Theo nghiên cứu của Hauri và tập sự năm 2000 cũng đưa ra Tóm lại lạmdụng tiêm và thực hành thực tế không an toàn đưa đến một gánh nặng đáng kể về tử trận vàkhuyết tật trên toàn quốc tế [ 28 ]. Tỷ lệ tiêm hàng năm cho mỗi người giao động từ1, 7 đến 11,3. Trong số này, tỷ suất tái sử dụng bơm tiêm không bảo vệ vô khuẩn daođộng từ 12 % đến 75 % cao nhất là các vương quốc trong khu vực Đông Nam Á [ 28 ]. Theo báo cáo giải trình của WHO ( 2002 ), trong tổng số 35 triệu nhân viên cấp dưới y tế, mỗinăm có tới 2 triệu người bị tiếp xúc qua da với bệnh truyền nhiễm. Trong số đó, 40 % nhiễm viêm gan B, 40 % nhiễm viêm gan C, và 2,5 % nhiễm HIV do bị tổnthương do kim tiêm châm. Tổn thương do kim châm thường gặp ở điều dưỡng vàxuất hiện nhiều trong các phòng bệnh và do tiêm gây ra nhiều nhất. Theo số liệubáo cáo trong mạng lưới hệ thống báo cáo giải trình về HIV / AIDS từ năm 1981 đến 2002 của Trung tâmphòng chống Bệnh tật Hoa Kỳ cho thấy 42,1 % các trường hợp lây nhiễm HIV nghềnghiệp là các y tá và điều dưỡng [ 9 ]. Một nghiên cứu nhìn nhận tình hình lây nhiễm viêm gan C ở nhân viên cấp dưới y tếlàm trong bệnh viện Trung ương Hungary ( 2001 ) cho thấy trong số 477 nhân viên cấp dưới ytế được xét nghiệm máu tìm kháng thể kháng vi rút viêm gan C cho thấy có 2,7 % nhân viên cấp dưới y tế có HCV dương thế, trong đó 2,7 % là y tá, điều dưỡng và 2,9 % lànhân viên khác của bệnh viện [ 26 ]. Nghiên cứu này còn chỉ ra rằng tỷ suất nhiễmHCV có tương quan đến yếu tố nghề nghiệp, nghĩa là thời hạn thao tác tại bệnh việncàng dài thì tỷ suất nhiễm HCV càng lớn [ 9 ]. Nghiên cứu của Yan Y và tập sự năm 2004 tại Trung Quốc trên 1.452 hồsơ bệnh án, cho thấy 1.450 bệnh nhân đã được tiêm tối thiểu 1 lần trong thời hạn nằmviện, với một tỷ suất tiêm là 100 %, trung bình 10,9 mũi tiêm / bệnh nhân. Thuốc đượctiêm liên tục nhất là kháng sinh chiếm 48 % ( 7674 / 15857 ). Theo quan sát có16 % các mũi tiêm là không an toàn, 57 % thuốc được dùng bằng đường tiêm làkhông thiết yếu. Khi khảo sát kiến thức và kỹ năng của 118 nhân viên cấp dưới y tế có 95 % biết rằngHIV hoàn toàn có thể lây qua tiêm không an toàn, 59 % biết rằng viêm gan C hoàn toàn có thể lây quatiêm không an toàn và 89 % biết rằng viêm gan B hoàn toàn có thể lây qua tiêm không an toàn. Nghiên cứu cũng đưa ra Kết luận rằng trong các cơ sở y tế của huyện Kim Châu, tỷlệ tiêm rất cao và chất lượng thực hành thực tế tiêm an toàn cần liên tục được cải tổ [ 38 ]. Nghiên cứu “ Nguy cơ bị thương do kim tiêm của các y tá khi sử dụng kimtiêm an toàn Novo Fine Autocover và sự hài lòng của các y tá với kim tiêm ” củaOdile Lautier, Helen Mosnier-Pudar và các tập sự, được triển khai từ tháng 1 đếntháng 3 năm 2006 trên tổng số 245 y tá tại 52 bệnh viện trên khắp nước Pháp với từ3 tháng kinh nghiệm tay nghề trở lên trong việc chăm nom bệnh nhân đái tháo đường đượcmời tham gia nghiên cứu. Trong 4 tuần, họ ghi lại cụ thể về các mũi tiêm và bất kỳchấn thương nào xẩy ra. Kết quả cho thấy : 7854 mũi tiêm đã được thực thi bởi123 của các y tá sử dụng kim tiêm NFA ; 4491 mũi tiêm được thực thi bởi 122 người sử dụng kim thường. Không có vết thương kim đâm xẩy ra với kim NFA, trong khi trung bình 1 chấn thương kim đâm / 1 cây kim thường. Các y tá đã rất hàilòng với kim NFA, họ cho 8.1 điểm với thang điểm từ 0 đến 10 ; nhìn nhận an toàn cánhân như thể một quyền lợi đặc biệt quan trọng quan trọng ( 9,5 điểm ). Nghiên cứu này cho thấykim NFA kim hoàn toàn có thể làm giảm rủi ro tiềm ẩn chấn thương do kim đâm và y tá hài lòng vềloại kim này với những lợi thế như dễ sử dụng và tiết kiệm ngân sách và chi phí thời hạn [ 32 ]. 1.3. Tình hình tiêm an toàn tại Việt NamNăm 2000, hưởng ứng chủ trương Tiêm an toàn Toàn cầu ( SIGN ), Bộ Ytế đã phối hợp với Hội Điều dưỡng Nước Ta tiến hành chương tình “ Tiêm an toàn ” trên toàn nước. Chương trình đã kiến thiết xây dựng kế hoạch gồm 3 nội dung : ( 1 ) Thay đổinhận thức / hành vi của nhân viên cấp dưới y tế và người bệnh ; ( 2 ) Phương tiện vừa đủ và phù10hợp ; ( 3 ) Quản lý rác thải đúng qui định và an toàn. Trong thời hạn vừa mới qua, đã cómột số nghiên cứu nhìn nhận về tình hình tiêm an toàn đã được triển khai. Một trongnhững nguyên do dẫn đến tiêm không an toàn ở Nước Ta được chỉ ra là sự thiếuhiểu biết về những nguy cơ tiềm ẩn do tiêm truyền ; bệnh nhân và mái ấm gia đình bệnh nhân nghĩrằng dùng thuốc theo đường tiêm tốt hơn so với uống ; chỉ định dùng thuốc của mộtsố bác sỹ còn bị chi phối bởi nguyên do kinh tế tài chính …. Từ khi tiến hành chương trình Tiêm an toàn trên toàn nước, đã có một sốnghiên cứu, khảo sát về TAT được triển khai. Năm 2002 “ Khảo sát nhìn nhận banđầu về thực trạng tiêm an toàn trong các cơ sở y tế khu vực TP.HN ” của NguyễnThị Minh Tâm và tập sự, qua quan sát 3443 mũi tiêm - truyền tại 87 khoa của 7 bệnh viện và Trung tâm y tế ; cùng với phỏng vấn 823 nhân viên cấp dưới y tế ( NVYT ) vớimục tiêu nhìn nhận trong bước đầu thực trạng tiêm an toàn trên địa phận TP.HN và tìm hiểunhận thức của cán bộ y tế về rủi ro tiềm ẩn của tiêm không an toàn so với sức khỏe thể chất. Kếtquả cho thấy tỷ suất TAT rất thấp, với 17 tiêu chuẩn nhìn nhận mũi tiêm an toàn, chỉ có10 % mũi tiêm bắp, dưới da, trong da đạt 100 % tiêu chuẩn đề ra và khoảng chừng 7 % mũitiêm bắp chỉ đạt dưới 50 % điểm chuẩn. Có 1 % mũi tiêm tĩnh mạch và truyền đạt100 % tiêu chuẩn đề ra và gần 21 % chỉ đạt ít hơn 50 % tiêu chuẩn qui định. Có 1 % mũi tiêm tĩnh mạch và truyền đạt 100 % tiêu chuẩn đề ra và gần 21 % chỉ đạt ít hơn50 % tiêu chuẩn qui định. Trong khi tỷ suất mũi tiêm trung bình của bệnh nhân nội trúlà 2,7 lần tiêm / người / ngày. Nghiên cứu đưa ra nguyên do đa phần của việc tiêm – truyền không an toàn là do thiếu dụng cụ tiêm, thiếu phương tiện đi lại giải quyết và xử lý chất thất thảiy tế, không sẵn có phương tiện đi lại bảo lãnh, do ý thức vô khuẩn của NVYT còn yếu vàhọ chưa nhận thức được rất đầy đủ về rủi ro tiềm ẩn của việc tiêm không an toàn [ 18 ]. Năm 2005, lưu lại mốc 5 năm thực thi chương trình TAT, nghiên cứumô tả cắt ngang “ Đánh giá triển khai tiêm an toàn tại 8 tỉnh đại diện thay mặt, năm 2005 ” của Đào Thành và tập sự được thực thi với tiềm năng nhìn nhận tổng lực trênphạm vi toàn nước về tác dụng sau 3 năm thực thi cuộc hoạt động Tiêm an toàntoàn quốc. Qua quan sát ngẫu nhiên 776 mũi tiêm cho thấy : tỷ suất mũi tiêm bìnhquân của bệnh nhân là 2,2 lần tiêm / người / ngày ; chỉ có 12,8 % mũi tiêm đạt từ 13 tiêu chuẩn trở xuống, 28,9 % mũi tiêm đạt 16 tiêu chuẩn, và có 22,6 % mũi tiêm đạt11đủ 17 tiêu chuẩn. Những sống sót trong quy trình tiến độ tiêm là tỷ suất tuân thủ rửa tay trướckhi chẩn bị dụng cụ còn thấp ( 35,4 % ), trước khi đâm kim qua da là 55,8 % ; còn 9 % NVYT dùng 2 tay để đậy nắp kiêm tiêm nhiễm khuẩn. Nguyên nhân là do NVYTcòn chưa phân biệt được rõ ràng động tác sạch và bẩn [ 19 ]. Trong nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra được tỷ suất mũi tiêm an toàn theo mỗi tiêu chuẩn mũi đề ra và tỷ lệtiêm an toàn chung cho cả 17 tiêu chuẩn. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này tác giảkhông nhìn nhận kỹ năng và kiến thức TAT và khám phá các yếu tố tương quan đến với việc thựchành đúng các tiêu chuẩn tiêm an toàn. Tiến hành trên khoanh vùng phạm vi 8 tỉnh, trong thời hạn từ 15/6 đến 15/7/2005, nghiêncứu “ Đánh giá kiến thức và kỹ năng về tiêm an toàn và tần xuất rủi ro đáng tiếc tại 8 tỉnh đại diện thay mặt, 6 tháng đầu năm 2005 ” của Phạm Đức Mục và tập sự, nhằm mục đích mục tiêu : ( 1 ) Đánh giákiến thức và nhận thức của điều dưỡng – hộ sinh về tiêm an toàn sau 5 năm thựchiện cuộc hoạt động TAT ; ( 2 ) Mô tả tần xuất và rủi ro tiềm ẩn rủi ro đáng tiếc do vật sắc nhọn đốivới NVYT. Nghiên cứu chỉ ra rằng 95 % NVYT đã có kỹ năng và kiến thức về tiêm an toàn vànguy cơ của tiêm ; các nguyên do làm cho mũi tiêm chưa an toàn là do kỹ thuật vôkhuẩn yếu 68,1 % ; thiếu dụng cụ giải quyết và xử lý chất thải 63,1 % ; thiếu dụng cụ tiêm 58,2 % ; người nhà và người bệnh thích được tiêm hơn uống 55,2 % ; chỉ đinh tiêm quá mứccần thiết 44,6 % ; các nguyên do khác như áp lực đè nén việc làm, bệnh nhân không hợptác … chiếm rất nhỏ 4,4 %. Tỷ lệ NVYT bị tai nạn thương tâm rủi ro đáng tiếc do vật sắc nhọn trong 6 tháng đầu năm 2005 chiếm tới 26,3 % ; thời gian rủi ro đáng tiếc cao nhất là buổi sáng ( 45,6 % ), thấp nhất là buổi tối ( 24,35 % ) ; tiến trình hay gặp rủi ro đáng tiếc nhất là khi tiêm ( 45 % ), thấp nhất là trong khi tiêm ( 24,38 % ) ; thực trạng kim bị nhiễm bẩn khi bị rủiro chiếm tới 60 % ; nguyên do bị rủi ro đáng tiếc là do sơ xuất, người bệnh giãy dụa, vô tìnhvới các tỷ suất tương ứng là 34,57 % ; 33,95 % và 31,48 % [ 15 ]. Trong nghiên cứu này, tác giả đi sâu vào tìm hiểu và khám phá về nguyên do tiêm không an toàn và diễn đạt tỷ suất rủi rocủa NVYT với vật sắc nhọn trong khi tiêm. Tại Tỉnh Bình Định, tháng 7 năm 2005, tác giả Nguyễn Thị Như Tú đã tiến hànhnghiên cứu cắt ngang “ Thực trạng tiêm an toàn tại tỉnh Tỉnh Bình Định sau 5 năm hưởngứng cuộc hoạt động ” tại 7 bệnh viện với việc quan sát 200 mũi tiêm và phỏng vấn120 điều dưỡng, nữ hộ sinh và y sỹ. Kết quả cho thấy : tỷ suất người có chỉ định dùng12thuốc tiêm, dịch truyền chiếm 67,4 % so với tổng số bệnh nhân nội trú ; trung bìnhmỗi ngày 1 bệnh nhân nội trú nhận 1,8 mũi tiêm ; 72 % số mũi tiêm là dùng thuốckháng sinh, 23 % thuốc bổ, 20 % thuốc điều trị triệu chứng. Qua phỏng vấn 120NVYT có 12 % cho rằng tiêm không an toàn hoàn toàn có thể lây nhiễm viêm gan C, 100 % NVYT cho rằng tiêm không an toàn hoàn toàn có thể viêm gan B và HIV. 82 % số NVYT chorằng người bệnh và người nhà thích được tiêm hơn uống ; 58 % số NVYT cho rằngchỉ định tiêm quá mức thiết yếu ; 6 % số NVYT cho rằng bệnh nhân quá tải lànguyên nhân làm cho việc thực thi tiêm không an toàn ; có 28 % NVYT bị rủi ro đáng tiếc dovật sắc nhọn ; nguyên do bị rủi ro đáng tiếc là do sơ xuất 40 %, do người bệnh giãy dụa25 %, do vô tình 35 %, 76,5 % không báo cáo giải trình khi bị rủi ro đáng tiếc. Kết quả quan sát thựchành tiêm cho thấy : 94 % người tiêm không rửa tay / sát khuẩn trước khi đưa kim quada ; 17 % kim lấy thuốc không bảo vệ vô khuẩn ; 3 % kim tiêm thuốc không đảmbảo vô khuẩn trước khi đưa qua da ; 1 % không đúng vị trí ; 3 % còn dùng 2 tay đậynắp kim ; 1 % không có hộp chống sốc khi đi tiêm. Đánh giá theo 10 tiêu chuẩn mũitiêm an toàn, chỉ có 6 % mũi tiêm đạt 10 tiêu chuẩn, 76 % mũi tiêm đạt 9/10 tiêuchuẩn. Tác giả cũng đã đưa ra các khuyến nghị nhằm mục đích tăng cường tuyên truyền giáodục về rủi ro tiềm ẩn tiêm không an toàn, giảm các mũi tiêm không thiết yếu, tưng cườngkiểm tra giám sát nhất là các động tác vô khuẩn, phát động chiến dịch vệ sinh tay, phân phối khá đầy đủ dung dịch sát khuẩn tay và hộp an toàn [ 21 ]. Nghiên cứu trên đãxác định tình hình tiêm của khu vực, tìm hiểu và khám phá kiến thức và kỹ năng về TAT của NVYT, tỷ lệthực hành đúng mỗi tiêu chuẩn TAT và xác lập tỷ suất mũi tiêm an toàn ( đạt 10/10 tiêu chuẩn ) là 6 %, nhưng tác giả cũng chưa đề cập đến sự liên kết giữa tỷ suất kiếnthức TAT đạt của NVYT và tỷ suất thực hành thực tế TAT đúng của các mũi tiêm được quansát mà vẫn nhìn nhận từng cấu phần độc lập với nhau. Nghiên cứu “ Khảo sát về tiêm an toàn của điều dưỡng – hộ sinh tại bệnhviện phụ sản Tiền Giang năm 2008 ” của tác giả Nguyễn Mỹ Linh và tập sự trên80 Điều dưỡng, hộ sinh với 302 mũi tiêm cho tác dụng như sau : Thực hành về tiêman toàn của ĐD-HS cho thấy rửa tay / sát khuẩn tay nhanh trước khi tiêm chỉ đạt gần15, 9 %, rút thuốc không đủ liều như sót thuốc, phụt thuốc khi đuổi khí chiếm gần12 %, hơn 20 % ĐD-HS còn lưu kim trên lọ sau khi rút thuốc, trên 50 % ĐD-HS13không quan sát bệnh nhân khi tiêm và trên 30 % không tiện lợi lại cho họ sau khitiêm. Xử lý chất thải, VSN sau khi tiêm được ĐD-HS cô lập kim rất tốt 100 % nhưng vẫn còn 1,3 % ĐD-HS dùng tay tháo lắp kim tiêm. Hiểu biết về ý nghĩa TATcủa ĐD-HS đạt 100 %, gần 95 % ĐD-HS có hiểu biết về sự thiết yếu phải rửa taytrong quy trình tiến độ tiêm và xác lập các nguyên tắc, vùng vô trùng khi tiêm thuốc. Trênxe có hộp chứa vật sắc nhọn ( VSN ) và hộp thuốc chống sốc khi đi tiêm đạt gần100 %. Tuy nhiên còn > 30 % ĐD-HS chưa giải quyết và xử lý bắt đầu đúng khi bị vật sắc nhọnđâm [ 14 ]. Tác giả nghiên cứu này cũng như 1 số ít nghiên cứu trước đây, tuy chưachỉ rõ giải pháp chọn mẫu và chiêu thức tích lũy số liệu nhưng đã miêu tả rấtchi tiết về thực hành thực tế TAT [ 14 ]. Nghiên cứu khảo sát về tiêm an toàn tại bệnh viện Việt Đức năm 2009 củaPhan Thị Dung và tập sự qua nhìn nhận 984 mũi tiêm tại 12 khoa lâm sàng cho kếtquả như sau : vị trí tiêm tĩnh mạch chiếm tỷ suất cao nhất 91,7 %, trong đó tiêm quachạc ba là 67,6 %, 100 % người bệnh được sử dụng bơm tiêm vô khuẩn, 97,7 % chuẩn bị sẵn sàng khá đầy đủ cơ số chống sốc tại xe tiêm, 95 % cô lập vật sắc nhọn vào hộpkháng thủng ngay sau khi tiêm, trên 95, % triển khai tốt các kỹ thuật tiêm như rútpiton kiểm tra trước khi bơm thuốc, sát khuẩn đúng vị trí, góc kim và độ sâu thíchhợp. Tuy nhiên cũng còn 51 % chưa sát khuẩn tay trước tiêm, 33,4 % chưa sát khuẩnnắp lọ thuốc, vỏ thuốc trước khi lấy thuốc, 3,4 % trường hợp kim nhiễm bẩn trướckhi tiêm, 26,8 % chạc ba bị nhiễm bẩn khi tiêm, 45,7 % dùng hai tay đậy nắp kim, 38,6 % không sát khuẩn tay sau khi tiêm. Nghiên cứu đề xuất kiến nghị 1 số ít giải pháp đểtăng cường tiêm an toàn tại BV Việt Đức như ; tổ chức triển khai giảng dạy liên tục, tăng cườngcông tác kiểm tra, giám sát, truyền thông online giáo dục về rủi ro tiềm ẩn tiêm không an toànvà tăng cường công tác làm việc phân loại, thu gom, và quản trị chất thải y tế đặc biệt quan trọng là rácthải y tế là vật sắc nhọn nhiễm bẩn [ 11 ]. Nghiên cứu này đã nhìn nhận hiện trạngtiêm an toàn tại BV Việt Đức năm 2009 với 19 tiêu chuẩn nhìn nhận, tuy không đưa ratỷ lệ các mũi tiêm an toàn ( đạt đủ các tiêu chuẩn trên ) và các yếu tố tác động ảnh hưởng đếnviệc tuân thủ tiêm an toàn tại Bệnh viện nhưng cũng đã miêu tả kết quả thực hiệntừng tiêu chuẩn mà nhóm đã khảo sát từ đó có các đề xuất kiến nghị tương thích với đơn vị chức năng. 14N ghiên cứu “ Đánh giá tình hình tiêm an toàn tại bệnh viện Y học cổ truyềnTW năm 2009 ” của Phạm Tuấn Anh và tập sự tại 7 khoa lâm sàng bằng quan sáttrực tiếp, chấm điểm theo bảng kiểm băng chiêu thức quan sát 210 mũi tiêm chokết quả : tuổi trung bình của điều dưỡng tham gia nghiên cứu là 32,2 ( SD ± 8,44 ), nam chiếm 23,3 %, tầm trung 95,5 %, về tình hình tiêm tại BV 51,9 % là mũi tiêmtĩnh mạch, truyền dịch 30,48 %, tiêm bắp thịt chỉ có 11,9 %, tỷ suất tiêm dưới da 3,3 %, trong da 2,9 %. Xét các tiêu chuẩn sẵn sàng chuẩn bị dụng cụ, bảo vệ an toàn cho cộng đồngcó 100 % các mũi tiêm đều đạt nhu yếu. Về tiêu chuẩn bảo vệ an toàn cho người tiêmkhông có thông kê chung nhưng 100 % triển khai 5 đúng, thấp nhất là thao tác sátkhuẩn nắp lọ thuốc 44,1 %, sát khuẩn tay trước sau tiêm đạt 84,4 %, tiêm đúng kỹthuật đạt 88,6 %. Về tiêu chuẩn bảo vệ an toàn cho người tiêm có 100 % các mũi tiêmcô lập vật sắc nhọn vào hộp kháng thủng ngay sau khi tiêm, vẫn còn 15,5 % khôngđảm bảo bơm tiêm vô khuẩn và còn dùng hai tay đậy nắp kim. Tỷ lệ tiêm an toàncủa BV đạt 22, 36 %, qua kiểm định thống kê cho thấy có sự độc lạ về tỷ suất tiêman toàn có ý nghĩa thống kê bởi các yếu tố : độ tuổi 20-29 có tỷ suất tiêm an toàn caonhất 35 %, độ tuổi từ 40 tuổi trở lên đạt 12 % ; thâm niên dưới 5 năm có tỷ suất tiêm antoàn 36,5 %, từ 5-20 năm đạt 8,6 %, trên 10 năm đạt 16,67 % ; được tập huấn đạt95, 83 %, trong nhóm chưa được tập huấn đạt 4,17 %. Nhóm nghiên cứu đã đưa ra kếtluận về tình hình tiêm an toàn tại bệnh viện và yêu cầu tăng cường giáo dục vềnguy cơ tiêm không an toàn so với cán bộ y tế và người bệnh ; tăng cường công táckiểm tra của điều dưỡng trưởng ; huấn luyện và đào tạo về các tiến trình kỹ thuật tiêm đặc biệt quan trọng làcác kỹ thuật vô khuẩn [ 1 ]. Nghiên cứu này là một trong số ít các nghiên cứu đã xáđịnh có sự độc lạ tỷ suất tiêm an toàn trong các nhóm yếu tố như tuổi, giới, thâmniên công tác làm việc và việc tập huấn kỹ năng và kiến thức, nhưng vẫn chưa khám phá các mối liênquan đến tỷ suất tiêm an toàn tại Bệnh viện Y học truyền thống Trung ương. Nghiên cứu “ Đánh giá tình hình tiêm an toàn tại bệnh viện Trung ươngHuế, năm 2010 ” của Phan Cảnh Chương và tập sự tại 30 khoa lâm sàng, bằngphương pháp miêu tả cắt ngang trong thời hạn từ tháng 1 đến tháng 7 năm 2010, vớimục tiêu 1 – Đánh giá thực hành thực tế TAT sau 6 tháng tập huấn ; 2 – Đánh giá mức độthay đổi trong thực thi tiêm an toàn hành vi của điều dưỡng trong thực hiên TAT ; 153 – Đề xuất 1 số ít giải pháp thực thi TAT. Qua quan sát và nhìn nhận 1000 mũitiêm bằng phiếu khảo sát phong cách thiết kế sẵn theo các tiêu chuẩn Sử dụng dụng cụ thích hợp, an toàn – không gây hại cho người được tiêm – không gây rủi ro tiềm ẩn phơi nhiễm chongười triển khai – không tạo chất thải nguy cơ tiềm ẩn cho người khác đã có tác dụng nhưsau : về tình hình mũi tiêm trung bình trong một ngày tại BV là 5.456, trung bìnhmỗi điều dưỡng tiêm 16,8 mũi mỗi ngày, mũi tiêm theo đường tĩnh mạch là chủ yếuchiếm 75,7 % ( tĩnh mạch trực tiếp 25,8 %, qua chạc ba 30,8 % ), tiêm bắp chiếm17, 8 %, dưới da 3 %, trong da 3,5 %. Đánh giá tiêu chuẩn sử dụng dụng cụ thích hợp, antoàn tại BV Trung ương Huế thực thi rất tốt, 100 % các mũi tiêm sử dụng bơmtiêm vô khuẩn dùng 1 lần, bảo vệ kim lấy thuốc vô khuẩn dùng 1 lần và có dungdịch sát khuẩn tay nhanh, các tiêu chuẩn về phương tiện dụng cụ khác đạt từ 96,9 % trởlên. Đã có sự biến hóa hành vi sau tập huấn, tỷ suất sát khuẩn tay trước khi chuẩn bịdụng cụ đạt từ 62,3 lên 91,7 %, kiểm tra sự nguyên vẹn của bơm tiêm là 40,5 % lên94, 8 %, sát khuẩn đầu ống thuốc / lọ thuốc tăng từ 55 % lên 95,6 %, sát khuẩn vị trítiêm đúng pháp luật tăng từ 51,4 lên 94,8 %, sát khuẩn lại vi trí tiêm bằng bông vôkhuẩn tăng từ 52,5 % lên 95,8 %, dùng tay đậy nắp kim dạt từ 38,3 % lên 95,8 %, bẻống thuốc bằng gặc vô khuẩn tăng từ 68,7 % lên 96,4 %, tiếp xúc tương tác vớingười bệnh trong và sau tiêm tăng từ 65,5 % lên 95,7 %, bơm thuốc chậm tăng từ65 % lên 82,3 % [ 8 ]. Nghiên cứu đã đưa ra các tỷ suất triển khai các tiêu chuẩn tiêm antoàn trước và sau khi tập huấn để thấy rõ có sự cải tổ đáng kể trong hành vi tiêman toàn của điều dưỡng, tuy chưa nhìn nhận tỷ suất tiêm an toàn chung của bệnh việntrước và sau tập huấn nhóm nghiên cứu cũng đã đưa ra 15 khuyến nghị cho các cấpBộ Y tế, Bệnh viện và phòng Điều dưỡng. Năm 2010, Hội Điều dưỡng Nước Ta ( VNA ) được sự tương hỗ của PI ( Pathfinder International ), đã thực thi nghiên cứu nhìn nhận tại 13 bệnh viện đạidiện lựa chọn vào dự án Bất Động Sản sau chương trình đào tạo và giảng dạy tập huấn kiến thức và kỹ năng tiêm an toàn. Nghiên cứu khảo sát nhận thức của 830 điều dưỡng qua bộ công cụ gồm 32 câu hỏiđể nhìn nhận nhận thức, kiến thức và kỹ năng và thái độ về TAT, quan sát, nhìn nhận 1-2 mũitiêm / ĐD bằng bảng kiểm gồm 36 tiêu chuẩn, mỗi tiêu chuẩn nhìn nhận theo 4 mức độ khácnhau, hiệu quả cho thấy : 16T rung bình mỗi người bệnh nhận 1,87 mũi tiêm, 0,47 mũi tiêm truyền, tổngcộng 2,28 mũi tiêm và tiêm truyền, mỗi ĐD phải triển khai 10,9 mũi tiêm mỗi ngày, cao nhất có khoa thuộc khối nội 87,8 mũi / ngày, có 2,7 mũi tiêm truyền mỗi ngàynhư vậy trung bình mỗi điều dưỡng thực thi 13,6 lần tiêm truyền trong ngày [ 20 ]. Tỷ lệ có kỹ năng và kiến thức về sẵn sàng chuẩn bị trước tiêm đạt trên 82 %, riêng kỹ năng và kiến thức vềtiêu chuẩn của hộp kháng thủng chỉ đạt 54,6 %, kỹ năng và kiến thức về quá trình tiêm đạt65, 3 %, vệ sinh tay sau khi tiêm 50,5 %, phòng ngừa và giải quyết và xử lý tai nạn thương tâm do vật sắc ngọncòn rất hạn chế, chỉ có 30,9 % số người được hỏi có kỹ năng và kiến thức đạt, hơn 50 % NVYTđã từng bị tai nạn thương tâm do vật sắc nhọn trong quy trình công tác làm việc và có đến 50 % khôngbiết xử trí khi bị tai nạn đáng tiếc, và có 66 % nhớ đến việc ghi chép, báo cáo giải trình tai nạn thương tâm này [ 20 ]. Về tình hình triển khai qui trình tiêm cho thấy : điểm trung bình đạt 2,33 / 3, có 24.7 % các mũi tiêm được thực thi rất tốt, còn lại đều chưa đạt ở mức độ khácnhau, thậm chí còn có 14 % các mũi tiêm không đạt theo qui định về vô khuẩn. Có44, 9 % mũi tiêm không có hộp chống sốc, 2,8 % không có hộp dựng vật sắc nhọn, 70,7 % không rửa tay đúng kỹ thuật. 63,1 % không triển khai tốt sát khuẩn đầu ốngthuốc, 24 % sát khuẩn vùng tiêm không bảo vệ đúng qui định [ 20 ]. Nghiên cứu này nhìn nhận rất cụ thể, đơn cử về kỹ năng và kiến thức và thực hành thực tế TATtrên toàn nước và đưa ra một số ít khuyến nghị, nhóm nghiên cứu cũng đã sử dụngthang điểm ( 0 ; 1 ; 2 ; 3 ) để nhìn nhận việc thực hành thực tế TAT nhưng chưa có tổng hợp đánhgiá tỷ suất và mức độ đạt tiêu chuẩn TAT của các mũi tiêm trong nghiên cứu [ 20 ]. Nghiên cứu của Tô Thị Minh Châm và tập sự tại bệnh viên Thanh Nhànnăm 2010 trên 220 điều dưỡng tại các khoa lâm sàng, mỗi ĐD quan sát 2 mũi tiêm, với giải pháp miêu tả cắt ngang nhóm nghiên cứu đã nhìn nhận tình hình các mũitiêm an toàn qua quan sát ngẫu nhiên trực tiếp bằng bảng kiểm gồm 20 tiêu chuẩncủa Bộ Y tế. Kết quả nghiên cứu cho thấy số mũi tiêm trung bình mỗi ngày tại BVlà 2290, số mũi tiêm trung bình của 1 điều dưỡng mỗi ngày là 16,2. 100 % các mũitiêm sẵn sàng chuẩn bị vừa đủ các dụng cụ, phương tiên như bơm tiêm trong bao gói và cóhạn dùng, có hộp chống sốc đủ cơ số trên xe tiêm, 99,55 % không dùng tay để dậynắp và tháo kim sau khi tiêm, 97,7 % đi găng khi tiêm tĩnh mạch. 100 % triển khai tốt “ 5 đúng ” và đúng các kỹ thuật tiêm, 87,5 % vệ sinh tay trước khi tiêm, chỉ có 54,5 % 17 sát khuẩn nắp lọ thuốc và đầu ống thuốc khi lấy thuốc. 100 % bỏ ngay bơm kim tiêmvào thùng kháng thủng ngay sau khi tiêm, chỉ có 1,1 % phân loại rác thải sai. Tỷ lệmũi tiêm an toàn của bệnh viện Thanh Nhàn năm 2010 là 35,3 % [ 7 ]. Gần đây nhất, nghiên cứu “ Khảo sát tình hình tiêm an toàn tại bệnh việnTim Thành Phố Hà Nội ” của Đoàn Hoàng Yến và tập sự được triển khai từ tháng 5 đến tháng9 năm 2011 với chiêu thức diễn đạt cắt ngang. Nghiên cứu thực thi quan sát 378 mũi tiêm tại 3 khoa lâm sàng vào các thời gian khác nhau trong ngày và đánh giátheo 4 nhóm tiêu chuẩn : sử dụng dụng cụ thích hợp, an toàn – không gây hại cho ngườiđược tiêm, không gây rủi ro tiềm ẩn phơi nhiễm cho người thực thi, không thải chất thảinguy hại cho người khác. Kết quả : trung bình mỗi ngày có khoảng chừng 136 mũi têmđược thực thi tại bệnh viện ; mỗi điều dưỡng thực thi khoảng chừng 3 mũi tiêm / ngày ; các dụng cụ, phương tiện đi lại thực hành thực tế tiêm an toàn đã được chuẩn bị sẵn sàng rất đầy đủ ; 100 % điều dưỡng triển khai đúng kỹ thuật tiêm ; tỷ suất khuẩn vị trí tiêm đúng lao lý là97, 8 % ; cô lập ngay vật sắc nhọn sau khi tiêm 98,4 % …. Tuy nhiên, còn một số ít thựchành của NVYT chưa tốt như tỷ suất kiểm tra sự nguyên vẹn của bơm tiêm còn thấp27, 5 % ; sát khuẩn đầu ống thuốc, lọ thuốc 13,4 %. Nghiên cứu chưa đưa ra được tỷlệ mũi tiêm đạt đủ cả 4 nhóm tiêu chuẩn đề ra [ 25 ]. Qua một số ít nghiên cứu đại diện thay mặt trên các tác giả đã đưa ra một bức tranh vềtình trạng tiêm an toàn tại Nước Ta lúc bấy giờ. Tỷ lệ mũi tiêm an toàn chưa cao phụthuộc vào qui mô và phong cách thiết kế của nghiên cứu ( tỷ suất từ 6 % – 26 % trên qui mô nhiềubệnh viện, khu vực, nhiều vùng, tỷ suất từ 20 % – 60 % trên qui mô một bệnh viện ). Xét riêng về góc nhìn thực hành thực tế TAT tại các cơ sở y tế có rất nhiều nguyên do dẫnđến tiêm không an toàn : Thiếu trang thiết bị, dụng cụ do không được phân phối đầyđủ hoặc do sự chuẩn bị sẵn sàng không của NVYT ; Sự tuân thủ các nguyên tắc vô khuẩnkém, điều này rất nguy khốn vì đây chính là những rủi ro tiềm ẩn gây nhiễm khuẩn chongười bệnh đặc biệt quan trọng là tiêm truyền qua đường tĩnh mạch ; Chưa thực thi đúng cácqui trình kỹ thuật khi tiêm gây lên những rủi ro tiềm ẩn không nhỏ cho người bệnh và chocả người tiêm ; Xử lý chất thải sắc nhọn sau khi tiêm không đúng cách gây nguy cơTNTT cho công đồng. Một số nghiên cứu đã chỉ ra mức độ triển khai các tiêu chuẩntiêm an toàn ( VNA, năm 2010 ). Có những nghiên cứu ( Phan Cảnh Chương, 2010 )
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Nghiên Cứu






