Phát triển các công cụ của thị trường tài chính việt nam – Tài liệu text

Phát triển các công cụ của thị trường tài chính việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (307.92 KB, 32 trang )

Lời nói đầu
A.

Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam đang từng bước đổi mới. Những thay đổi tích cực và toàn diện
trong đường lối đổi mới nhằm chuyển nền kinh tế từ cơ chế quản lý tập trung
bao cấp sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Thị trường tài
chính ra đời, hoạt động có hiệu quả đã khẳng định được vị trí của nó trong nền
kinh tế ngày nay. Khi nói về quá trình ra đời, phát triển của thị trường tài chính
thì phải kể đến thị trường các công cụ, ở đó chúng ta sẽ biết đầy đủ về việc làm
cách nào thị trường tài chính thực hiện được vai trò quan trọng của mình.
Đối với một nền kinh tế như ở nước ta hiện nay tăng cường và phát triển nền
kinh tế đồng nghĩa với quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước. Vì
thế những hiểu biết về nhu cầu vốn trong nền kinh tế là cần thiết, đặc biệt là các
phương thức về lưu chuyển vốn mà điển hình là các công cụ của thị trường tài
chính. Nghiên cứu về các công cụ này giúp cho các cá nhân, tổ chức kinh tế
nắm bắt được những thông tin, tình hình số liệu cụ thể, mặt tích cực, mặt hạn
chế của từng công cụ từ đó mà đưa ra những biện pháp, phương hướng, kiến
nghị cần thiết để hoàn thiện hệ thống các công cụ đó, nâng cao tính hiệu quả,
vai trò chủ yếu “ dẫn vốn ” của thị trường tài chính, thúc đẩy phát triển kinh tế…
Thực tế đó đã nói lên được tính cấp thiết của đề tài : “ Phát triển các công cụ
của thị trường tài chính Việt Nam”.
B.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Phân tích thực trạng phát triển các công cụ của thị trường tài chính ở Việt
Nam, dựa trên kỳ hạn của các công cụ mà xét chúng ở hai thị trường: thị
trường tiền tệ và thị trường vốn.
Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển các công cụ của thị trường tài chính

Việt Nam những năm tiếp theo.
C.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu: các công cụ thị trường tiền tệ và thị trường vốn của thị
1

trường tài chính Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu thực trạng phát triển các công cụ ở những
năm ra đời và giai đoạn năm 2010 đến cuối năm 2012.
D.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như : phân tích, so sánh,
tổng hợp, thống kê…
E.

Kết cấu của đề tài

Đề tài gồm 3 phần:
Phần 1. Những vấn đề cơ bản về thị trường tài chính và các công cụ
Phần 2. Thực trạng phát triển các công cụ của thị trường tài chính Việt Nam
Phần 3. Những giải pháp cho sự phát triển các công cụ của thị trường tài chính
Việt Nam

2

Chương 1. Những vấn đề cơ bản về thị trường tài chính và các công cụ của thị
trường tài chính
I.
1.

Tổng quan về thị trường tài chính
Khái niệm

Trong nền kinh tế, luôn phát sinh các nhu cầu về vốn của các chủ thể khác nhau.
Trong đó có những người có cơ hội đầu tư sinh lời thì thiếu vốn, còn những ngưòi
có vốn nhàn rỗi lại không có cơ hội đầu tư hay không biết đầu tư vào đâu. Từ đó
hình thành nên một cơ chế chuyển đổi từ tiết kiệm sang đầu tư. Cơ chế đó được
thực hiện và điều chỉnh trong khuôn khổ một thị trường,đó là thị trường tài chính.
Thị trường tài chính đã gắn kết những người đó với nhau bằng cách luân chuyển
vốn từ những người có dư vốn tới những người thiếu vốn. Những người thiếu vốn
huy động vốn bằng cách phát hành ra các công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu
… còn những người có vốn dư thừa, thay vì trực tiếp đầu tư vào máy móc thiết bị
và nhà xưởng để sản xuất hàng hoá thì sẽ mua các công cụ tài chính được phát
hành bởi người huy động vốn.
Vậy thị trường tài chính có thể được hiểu là nơi diễn ra việc mua bán, trao đổi và
chuyển nhượng các công cụ tài chính theo các quy tắc và luật lệ đã được ấn định.
2.

Các chủ thể tham gia vào thị trường tài chính

Chính phủ: tham gia chủ yếu với tư cách là người đi vay. Chính phủ phát hành
tín phiểu kho bạc, trái phiếu để bù đắp sự thiếu hụt của ngân sách Nhà nước và
tham gia với tư cách là người cho vay mỗi khi có tiền nhàn rỗi.
Các hãng kinh doanh: các hãng kinh doanh tham gia thị trường tài chính chủ yếu

với tư cách là người đi vay, họ luôn có nhu cầu vốn cho việc sản xuất kinh doanh.

3

Dân cư (các gia đình): tham gia thị trường tài chính chủ yếu với tư cách là người
cho vay do dân cư thường có xu hướng tiết kiệm, chi tiêu ít hơn thu nhập, họ cũng
tham gia với tư cách là người đi vay để tài trợ cho việc tiêu dùng của mình.
Người nước ngoài: là công dân, các hãng kinh doanh hay Chính phủ nước ngoài,
tham gia với tư cách chủ yếu là người cho vay. Khi có tiền nhàn rỗi, họ đều tìm
cách làm sinh lời dưới dạng mua trái phiếu hoặc gửi tiền vào ngân hàng.
3.

Chức năng của thị trường tài chính

Thị trường tài chính thực hiện chức năng kinh tế nòng cốt trong việc dẫn vốn từ
những chủ thể thừa vốn tới những chủ thể cần vốn.
Tài chính trực tiếp: Là con đường mà những người cần vốn sẽ huy động trực
tiếp từ những người có vốn bằng cách phát hành và bán các công cụ tài chính như
cổ phiếu, tín phiếu …
Tài chính gián tiếp: Là con đường mà thông qua các trung gian tài chính, vốn sẽ
được dịch chuyển từ người dư vốn sang những người cần vốn.
Trung gian tài chính thực hiện điều này bằng cách vay vốn của người cho vay sau
đó cho người đi vay vay vốn.
4.

Vai trò của thị trường tài chính

Với chức năng dẫn vốn, thị trường tài chính đã thực hiện vai trò vô cùng quan
trọng trong việc thúc đẩy, phát triển và ổn định nền kinh tế.

4.1

Góp phần tạo lập vốn để đầu tư phát triển kinh tế.

Thông thường, ngân sách Nhà nước không đủ để đáp ứng toàn bộ các nhu cầu xây
dựng và chi tiêu bởi để có thể tiến hành xây dựng các công trình hạ tầng của Chính
phủ và chính quyền địa phương buộc phải đòi hỏi nhu cầu về tiền vốn với quy mô
rất lớn đồng thời phải huy động trong một thời gian ngắn. Thị trường tài chính sẽ
góp phần giải quyết khó khăn này qua việc thúc đẩy việc tích luỹ và tập trung vốn,
tạo nên nguồn vốn cần thiết phục vụ cho việc đầu tư của Chính phủ.
4.2

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
4

Những người có vốn nhàn rỗi: có thêm cơ hội đầu tư, giúp họ có thể làm sinh lời
trên đồng tiền của họ qua việc gửi tiết kiệm hoặc mua cổ phần.
Những người đi vay: giúp họ có ý thức sử dụng đồng vốn vay một cách hợp lý và
hiệu quả. Như vậy mới có thể hoàn trả khoản vay, trả lãi và tạo một phần thu nhập
cho bản thân.
4.3 Là môi trường để thực hiện các điều tiết vĩ mô của nền kinh tế
Chính phủ là cơ quan quản lý vĩ mô nền kinh tế bằng cách sử dụng chính sách tài
khoá và chính sách tiền tệ để điều tiết nền kinh tế. Ngân hàng Trung ương có thể
căn cứ vào nhu cầu của từng thời kỳ để điều tiết hoạt động thị trường mở để khống
chế sự co dãn của cung – cầu tiền tệ, tiến tới khống chế quy mô và hướng đầu tư tín
dụng tiền tệ, tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế phát triển, kiểm soát lạm phát và ổn
định giá trị đồng tiền. Ngân hàng Trung ương cũng có thể mua bán ngoại tệ trên thị
trường ngoại hối để điều chỉnh lượng cung và cầu ngoại tệ nhằm giúp Chính phủ
ổn định tỷ giá hối đoái.

4.4

Tạo điều kiện phát triển kinh tế đối ngoại

Thông qua thị trường tài chính, các công ty và Chính phủ có thể bán cổ phần, phát
hành trái phiếu ra nước ngoài, tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Thị trường tài chính rất nhạy cảm với các hoạt động kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế
phát triển đồng thời nhìn vào sự phát triển của thị trường tài chính của một quốc
gia có thể đo được hiệu quả các hoạt động kinh tế của quốc gia đó.
5.
5.1

Cấu trúc của thị trường tài chính
Thị trường nợ và thị trường vốn cổ phần

Dựa vào căn cứ: doanh nghiệp sẽ tài trợ cho vốn của mình như thế nào?
Thị trường nợ là thị trường tại đó diễn ra hoạt động mua bán và trao đổi các
công cụ nợ.

5

Công cụ nợ (debt instruments) là các thoả thuận mang tính chất hợp đồng giữa
chủ thể đi vay và chủ thể cho vay. Với sự thoả thuận về số lượng tiền vay, lãi suất
vay, phương thức, thời điểm thanh toán và thời hạn vay.
Căn cứ vào kỳ hạn nợ: công cụ nợ dưới 1 năm; công cụ nợ ngắn hạn.
Công cụ nợ trên 1 năm: công cụ nợ trung và dài hạn.
Thị trường vốn cổ phần là thị trường mà tại đó diễn ra các hoạt động mua bán
cổ phiếu (có thể là những cổ phiếu phát hành lần đầu hoặc được bán lại).
Cổ phiếu (share certificate): là giấy chứng nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp

pháp đối với thu nhập ròng và tài sản của doanh nghiệp.
5.2

Thị trường tiền tệ và thị trường vốn

Căn cứ: dựa vào thời hạn thanh toán của các công cụ tài chính.
Thị trường tiền tệ là thị trường tại đó diễn ra các hoạt động mua bán và trao
đổi các công cụ nợ ngắn hạn.
Các chủ thể tham gia: ngân hàng Trung ương, ngân hàng thương mại, các tổ chức
trung gian phi ngân hàng, doanh nghiệp và dân cư.
Thị trường tiền tệ gồm: thị trường tín dụng, thị trường liên ngân hàng, thị trường
ngoại hối và thị trường chứng khoán ngắn hạn..
Thị trường tiền tệ làm tăng khả năng thanh khoản của các công cụ tài chính, hỗ trợ
vốn lưu động cho doanh nghiệp và tài trợ ngắn hạn cho ngân sách Nhà nước, cung
cấp lãi suất tham chiếu cho thị trường vốn và tăng khả năng kiểm soát, cung ứng
tiền của ngân hàng Trung ương.
Thị trường vốn là thị trường tài chính tại đó diễn ra việc mua bán các công cụ
nợ dài hạn và cổ phiếu của các công ty cổ phần
Các chủ thể tham gia : Ngân hàng Trung ương, ngân hàng thương mại, các tổ chức
trung gian phi ngân hàng.

6

Thị trường vốn đóng vai trò quan trọng trong việc tài trợ các khoản đầu tư dài hạn
cho chính phủ, các doanh nghiệp và hộ gia đình. Thị trường vốn, nhất là thị trường
chứng khoán phát triển còn được xem là thước đo“sức khoẻ” của nền kinh tế.
5.3

Thị trường cấp 1 và thị trường cấp 2

Căn cứ vào quá trình phát hành và lưu thông
Thị trường cấp 1 (primary market) là thị trường tài chính diễn ra sự phát hành
lần đầu của các chứng khoán.
Phạm vi hoạt động hẹp, thông thường chỉ có 2 chủ thể tham gia gồm chủ thể phát
hành là các cá nhân, doanh nghiệp, chính phủ, kho bạc nhà nước, ngân hàng
thương mại và những người mua đầu tiên là các chủ thể kinh doanh và đầu tư. Quy
mô nhỏ và gắn với vốn chủ phát hành.
Thị trường cấp 2 (secondary market) là thị trường tài chính diễn ra các hoạt
động mua, bán, trao đổi các công cụ tài chính đã được phát hành trên thị trường
cấp 1. Bao gồm thị trường hối đoái, thị trường tài chính kỳ hạn: futures markets và
thị trường chọn lựa: options.
Hai thị trường này có tác động tương hỗ lẫn nhau. Thị trường cấp 1 sản xuất ra
công cụ tài chính còn thị trường cấp 2 khẳng định tính thanh khoản của các công
cụ này.
5.4

Thị trường chính thức và không chính thức

Căn cứ vào sự can thiệp của nhà nước
Thị trường chính thức là thị trường mà tuân thủ 100% quy định của Nhà nước.
VD: các ngân hàng thương mại. Thị trường này có quy mô lớn và khá an toàn.
Thị trường không chính thức là thị trường mà không tuân theo hoàn toàn các
quy định của Nhà nước.
Trên thực tế, cả hai thị trường này cùng song song tồn tại vì thị trường chính thức
vẫn chưa thể đáp ứng hết nhu cầu của các chủ thể trong nền kinh tế, việc tiếp cận

7

với thị trường chính thức còn gặp nhiều khó khăn. Vì vậy mà thị trường không
chính thức tồn tại bên cạnh, gắn liền với thị trường chính thức như một sự bổ xung.
II.
1.

Các công cụ của thị trường tài chính
Khái niệm

Để hiểu đầy đủ về việc làm cách nào để thị trường tài chính thực hiện được vai
trò quan trọng trong việc dẫn vốn từ người cho vay- người tiết kiệm tới người vayngười chi tiêu, chúng ta cần nghiên cứu các loại chứng khoán được mua bán trong
thị trường tài chính. Dựa vào kì hạn của các công cụ mà xem xét công cụ của thị
trường tài chính ở hai khía cạnh là công cụ của thị trường tiền tệ và công cụ của thị
trường vốn.
2.

Các công cụ của thị trường tiền tệ

Do có kì hạn thanh toán ngắn, những công cụ vay nợ được mua bán trên thị trường
tiền tệ chịu mức giao động giá tối thiểu và nó là loại đầu tư ít rủi ro nhất.
2.1

Tín phiếu kho bạc Nhà nước

Là công cụ vay nợ ngắn hạn của chính phủ, nhằm bù đắp thâm hụt ngân sách tạm
thời.
Tín phiếu Kho bạc Nhà nước có những đặc điểm sau : Là công cụ vay nợ ngắn
hạn có tính lỏng cao nhất, tính lỏng dựa trên thời gian chuyển đổi nhanh; chi phí
cho việc chuyển đổi phù hợp, được mua bán ráo riết nhất;
Độ an toàn cao : do kỳ hạn thanh toán ngắn nên tín phiếu kho bạc chịu mức giao
động giá tối thiểu, và do đó ít rủi ro. Cùng với việc chính phủ đảm bảo chi trả :

chính phủ tăng thuế hoặc vay tiếp hoặc phát hành tiền để trả nợ.
Bởi hai đặc điểm trên mà tín phiếu kho bạc có lãi suất là thấp nhất trong hệ
thống các công cụ vay nợ ngắn hạn.
Được phát hành ra dưới nhiều hình thức khác nhau để lựa chọn người mua cho
phù hợp : lọai tín phiếu kho bạc có lợi tức được trả trước, loại tín phiếu kho bạc
có lợi tức được trả sau, loại tín phiếu kho bạc không ghi phần lãi mà là chênh
8

lệch giữa giá mua và giá bán bằng lợi tức….
Chủ thể nắm giữ chủ yếu là ngân hàng thương mại với hai mục đích khi mua :
thu lợi tức từ tín phiếu kho bạc và nắm giữ để đảm bảo khả năng thanh khoản.
Ngân hàng Trung ương mua tín phiếu kho bạc để điều chỉnh lượng tiền cung ứng
trong nền kinh tế là công cụ quan trọng nhất trong hoạt động thị trường mở.
2.2

Giấy chứng nhận tiền gửi của ngân hàng

Là giấy chứng nhận cho việc gửi tiền của các cá nhân hay tổ chức vào ngân hàng
thương mại hoặc các tổ chức tín dụng khác, chiếm một tỷ lệ khá lớn trong số các
loại tiền gửi ngân hàng.
Chứng chỉ tiền gửi được mua đi bán lại ở thị trường thứ cấp tuỳ thuộc vào quy
định của ngân hàng, điều kiện của các nước. Đến khi tăng khả năng cạnh tranh
về việc huy động vốn các ngân hàng cho phép mua bán lại nó làm tăng tính lỏng.
Chúng được mua đi bán lại vì trong thị trường có nhu cầu : khách hàng muốn bán
lại mua vào phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau như tiêu dùng, sản xuất.
Chứng chỉ tiền gửi được phát sinh bởi các ngân hàng thương mại, tổ chức tài
chính khác và do các cá nhân, các tổ chức kinh tế trong nền kinh tế gửi tiền
vào ngân hàng thương mại gửi vào các tổ chức tài chính khác nắm giữ.
2.3

Thương phiếu

Thương phiếu là công cụ vay nợ ngắn hạn do các ngân hàng lớn và các công ty nổi
tiếng phát hành. Bao gồm hối phiếu và lệnh phiếu.
2.3.1

Hối phiếu

Là một mệnh lệnh đòi tiền vô điều kiện do người sản xuất, người bán, người
cung ứng dịch vụ… ký phát đòi tiền người nhập khẩu, người mua, người nhận
cung ứng, và yêu cầu người này phải trả một số tiền nhất định, tại một địa điểm
nhất định, trong một thời gian nhất định cho người hưởng lợi quy định trong hối
phiếu, hoặc theo lệnh của người này trả cho người khác. Hối phiếu có những đặc
9

điểm :
Tính trựu tượng của hối phiếu : không cần phải ghi nội dung quan hệ kinh tế,
mà chỉ cần ghi rõ số tiền phải trả là bao nhiêu và trả cho ai, người nào sẽ thanh
toán, thời gian thanh toán khi nào…
Tính bắt buộc trả tiền của hối phiếu: người trả tiền của hối phiếu phải trả tiền
đầy đủ, đúng theo yêu cầu của tờ hối phiếu, không được viện lý do riêng của
bản thân đối với người ký phát hối phiếu trừ trường hợp hối phiếu không còn
phù hợp với đạo luật chi phối nó.
Tính lưu thông của hối phiếu: nó có thể chuyển nhượng từ người này sang
người khác trong thời hạn của nó, người trả tiền sẽ thanh toán cho người cầm
hối phiếu cho dù hợp đồng mua bán có thể không thực hiện hoàn chỉnh.
Bản chất của hối phiếu: là một loại thương phiếu, nó không những là một
phương tiện để thanh toán, mà còn là công cụ tín dụng, nó cho phép người chủ

nợ huy động được khoản đã vay ở một ngân hàng trước khi đến hạn thanh toán
hối phiếu. Ngày nay hối phiếu chủ yếu làm căn cứ cho nghiệp vụ tín dụng ngân
hàng. Trong trường hợp hối phiếu là công cụ thanh toán, nó được các thương
nhân sử dụng để thanh toán khoản trái quyền của họ, lúc đó hối phiếu đóng vai
trò tương tự như tiền tệ. Nhưng việc sử dụng hối phiếu với chức năng duy nhất
này ngày nay đã chấm dứt, vì người ta hay dùng séc hơn.
Hối phiếu luôn luôn là một chức từ thương mại, ngay cả khi những người ký
trên phiếu không phải là thương nhân.
Việc thanh toán hối phiếu : kỳ hạn trả tiền của hối phiếu có hai dạng trả tiền
ngay và trả tiền sau. Ngày nay có xu hướng mới trong việc chuyển dịch các
thương phiếu là việc tăng cường sử dụng các công cụ phi vật chất ( như hối
phiếu trên băng từ…)
2.3.2

Lệnh phiếu

Là một giấy tờ nợ do người mua kí phát trao cho người bán, trong đó người mua
10

cam kết trả một số tiền nhất định khi đến hạn thanh toán cho người thụ hưởng lệnh
phiếu. Thương phiếu có những đặc điểm: trả một số tiền nhất định một cách vô
điều kiện và ghi rõ tên người thụ hưởng. Có thể sử dụng nó để làm phương tiện
thanh toán, phương tiện để tất toán những khoản nợ của mình. Dùng nó để vay
tiền ngân hàng, họ vay tiền ngân hàng dưới hình thức chiết khấu và cho vay tái
chiết khấu.
2.4 Hối phiếu được ngân hàng chấp nhận
Là một hối phiếu ngân hàng, do một công ty phát hành được thanh toán trong thời
hạn sắp tới và được ngân hàng bảo đảm với một khoản lệ phí bằng cách ngân hàng
đóng dấu : “đã chấp nhận” lên hối phiếu. Hối phiếu của công ty sẽ được tăng

thêm khả năng chấp nhận khi mua hàng hoá bởi đã có sự bảo đảm về việc thanh
toán, ngay cả khi công ty phá sản thì hối phiếu vẫn được ngân hàng thanh toán đầy
đủ. Hối phiếu được ngân hàng chấp nhận thường được bán lại trên thị trường thứ
cấp với giá thấp hơn, và như vậy có tác dụng tương tự như tín phiếu kho bạc.
Công ty phát hành hối phiếu phải gửi món tiền bắt buộc vào tài khoản của mình tại
ngân hàng đủ để trả cho hối phiếu.
Công ty phát hành hối phiếu có thêm khả năng được chấp nhận khi mua hàng hóa
ở nước ngoài.
2.5 Các công cụ khác
2.5.1 Hợp đồng mua lại
Là loại giao dịch mua bán trong đó khoán dịch viên huy động tiền mặt bằng
cách tìm một người mua tạm thời một số chứng khoán của khoán dịch viên
khác và ký hợp đồng với bên mua là anh ta sẽ mua lại số chứng khoán đó vào thời
điểm sau này, hợp đồng này gọi là thoả thuận mua lại, là thoả thuận giữa người
mua và người bán, ở đây người bán đồng ý mua lại số chứng khoán ( đã bán cho
người mua ) theo giá đã thoả thuận và theo thời điểm đã định.
Thoả thuận mua lại được dùng cho hai cách : huy động vốn ngắn hạn và
11

là công cụ của chính sách tiền tệ của Nhà nước. Thành viên tham gia vào thoả
thuận mua lại là : người mua bán trái phiếu nhà nước, trái phiếu đô thị, dùng
chúng để tài trợ cho ngân sách, ngân hàng thương mại dùng chúng để huy động
ngân hàng quỹ ngắn hạn, nhà nước dùng chúng để tác động làm thay đổi ngắn
hạn số dự trữ trong các ngân hàng thành viên ( điều chỉnh nguồn cung tiền tệ ).
II.5.2

Các khoản vay ngắn hạn ở nước ngoài

Là các khoản vay ngắn hạn có tính lỏng cao, có thể mang với tiền mặt.

3.

Các công cụ của thị trường vốn

Là các công cụ nợ và cổ phiếu với kỳ hạn trên một năm hay vô hạn, có độ lệch
tiêu chuẩn lớn nên mức độ rủi ro lớn và lợi tức thường cao
3.1

Cổ phiếu công ty

Là trái quyền về vốn đối với thu nhập ròng và tài sản của một công ty. Là một loại
chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở
hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó. Là một chứng khoán có giá, có
quyền nhận lãi và hoa hồng. Cổ phiếu có thể dùng mua bán và thế chấp, trở
thành một trong những phương tiện tín dụng dài hạn chủ yếu của thị trường tiền
vốn.
Tính tất yếu khách quan phát hành cổ phiếu trong điều kiện XHCN : thứ nhất
là nhu cầu tiền vốn trong cạnh tranh thị trường buộc các công ty phải đổi mới kỉ
thuật thiết bị, hai là xem xét việc cung cấp tiền vốn từ lâu đã hình thành thói
quen cấp phát hoặc ngân hàng cho vay và thể hiện yêu cầu quy luật vận động
của tiền vốn trong quá trình phát triển kinh tế hàng hoá, phần nào giải quyết được
mâu thuẫn cung cầu tiền vốn.
Đặc điểm của cổ phiếu: Có tính quyết sách, người có cổ phiếu phổ thông có quyền
tham gia đại hội cổ đông, bầu cử ban quản trị tham gia quyết sách quản lý kinh
doanh xí nghiệp, quyền lợi lớn hay nhỏ tuỳ theo số lượng cổ phiếu. Có thể đổi tiền
12

mặt, cổ phiếu có thể chuyển nhượng bất kỳ lúc nào giao dịch ở thị trường, biến
thành tiền giấy. Giá cả và giá trị mặt phiếu không khớp nhau. Cổ phiếu là đối

tượng giao dịch, giống như hàng hoá, có loại giá cả này chịu ảnh hưởng tình
hình kinh doanh và chịu ảnh hưởng nhiều nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội, luôn
luôn thay đổi, tăng giảm lớn, không khớp với giá trị mặt cổ phiếu. Rủi ro, cổ
phiếu đã mua không thể trả lại vốn cũ. Người đầu cơ cổ phiếu có thể nhận được
thù lao dự kiến hay không hoàn toàn phụ thuộc vào doanh lợi của xí nghiệp
quyết định.Vì vậy, người đầu cơ cổ phiếu thường chịu rủi ro nhất định.
Cổ phiếu có thể chia làm hai loại:
Cổ phiếu thông thường là loại cổ phiếu có thu nhập không ổn định,lợi tức biến
động tùy theo sự biến động của công ty.Thị giá cổ phiếu nhạy cảm,thông thường
phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế nói chung và biến động theo chiều nghịch với
biến động theo lãi suất trái phiếu chính phủ, các công cụ vay nợ.
Cổ phiếu ưu đãi là loại cổ phiếu có quyền nhận được thu nhập cố định theo một
tỷ lệ lãi suất nhất định, thị giá cổ phiếu này phụ thuộc vào sự thay đổi lãi suất trái
phiếu kho bạc và tình hình tài chính của công ty.
3.2 Trái phiếu
Là một loại chứng khoán có giá là một giấy chứng nhận nợ của người vay
vốn muốn thu góp vốn và đảm bảo trả lãi với lãi suất, thời hạn nhất định, và trả
vốn gốc trong thời hạn nhất định. Trái phiếu thường chỉ loại trái phiếu có thời
hạn trung dài hạn trên một năm.
Đặc điểm của trái phiếu: có thể trong cùng một điều kiện, một thời gian thu góp
số vốn lớn của nhiều người đầu tư; sau một thời hạn nhất định trả lại vốn và lãi
theo định kỳ; chủ nợ xem xét tình hình thực tế thị trường tự do chuyển nhượng
trái phiếu của họ.
Các loại trái phiếu
Khi căn cứ vào mục đích phát hành và người phát hành thì gồm trái phiếu chính
13

phủ và trái phiếu công ty
Trái phiếu chính phủ : là một công cụ vay nợ trung và dài hạn của chính phủ,

người đứng ra vay nợ là chính phủ với một mục đích huy động vốn nhàn rỗi trong
nền kinh tế để bù đắp thâm hụt ngân sách triền miên đồng thời giúp chính phủ có
nguồn vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng… loại trái phiếu này có tín nhiệm cao, người
có trái phiếu sau một thời gian thu lại vốn theo kim ngạch ghi trên mặt phiếu và
nhận được tiền thù lao nhất định. Với những trái phiếu chính quyền trung ương
thì có mức độ an toàn hơn là trái phiếu chí địa phương nhưng lại có lãi suất cao
hơn vì không bị đánh thuế thu nhập,lãi suất của trái phiếu chính phủ là thấp. Với
nhiều kỳ hạn khác nhau, trái phiếu chính phủ có thể có kỳ hạn là 3 tháng, 6
tháng, 9 tháng, 12 tháng, 1 năm đến 2, 3 năm… bên cạnh độ rủi ro là không cao
Trái phiếu công ty : là công cụ vay nợ trung, dài hạn của công ty, huy động
vốn cho sản xuất kinh doanh của công ty. Công ty bảo đảm sẽ trả vốn trái phiếu
trong thời hạn nhất định và trả lãi suất trái phiếu theo thời hạn ước định và lãi
suất quy định. Có loại trái phiếu được phát hành thấp hơn giá trị mặt phiếu, còn
có thể trả vốn gốc trước thời hạn. Nếu có trái phiếu công ty có đảm bảo cần ghi
rõ hai chữ “đảm bảo” được cơ quan chủ quản cho phép và phép kiểm chứng.
Khi căn cứ vào phương thức thanh toán các khoản vay vốn gốc và lãi cho trái
phiếu ta có:
Trái phiếu vay đơn : trái phiếu mà toàn bộ tiền vốn gốc và lãi sẽ được
thanh toán một lần đến thời kỳ đáo hạn.
Trái phiếu vay trả cố định : loại trái phiếu mà người mua trái phiếu sẽ được
thanh toán một khoản cố định đều nhau trong suốt kỳ hạn của trái phiếu đó.
Trái phiếu Coupon : tiền lãi của trái phiếu được trả hàng năm, tiền vốn gốc
được trả vào ngày đáo hạn.
Trái phiếu chiết khấu : là trái phiếu mà ở đó người mua trái phiếu sẽ trả cho
14

người bán với giá mua thấp hơn mệnh giá nhưng đến ngày đáo hạn người mua
được thanh toán trả lại theo mệnh giá. Khoản chênh lệch đó chính là lãi suất.
Trái phiếu vĩnh cửu : là loại trái phiếu mà ở đó người mua nó không bao giờ

được thanh toán tiền gốc.
3.3 Các món vay thế chấp
Vay thế chấp là các món tiền cho các cá nhân hoặc các công ty kinh doanh vay để
đầu tư vào những công trình kiến trúc, đất đai được dùng làm vật thế chấp các
món vay. Hình thức này chiếm một phần lớn trong nguồn tài trợ của các công ty.
Ngân hàng và các tổ chức tiết kiệm là người cho vay hàng đầu, các tổ chức này
cung cấp vốn cho thị trường vay thế chấp bằng cách bán trái khoán và dùng tiền để
mua các món thế chấp.
3.4 Các chứng chỉ quỹ
Là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của nhà đầu tư với một phần vốn góp
của quỹ đại chúng.
Đặc điểm: do công ty quản lý quỹ phát hành, xác nhận việc góp vốn của nhà đầu
tư vào quỹ, người sở hữu nó không có quyền tham gia ứng cử, bầu cử, tùy mỗi
loại quỹ mà nhà đầu tư có thể rút vốn trực tiếp hay qua thị trường chứng khoán.
Chương II. Thực trạng phát triển các công cụ của thị trường tài chính Việt
Nam
I.

Sự hình thành của thị trường tài chính Việt Nam

Củng như các quốc gia chậm phát triển khác, thị trường tài chính Việt Nam cho
đến nay chưa thực sự phát triển. Hoạt động của thị trường tài chính chỉ tập trung ở
hoạt động của trung gian tài chính- các ngân hàng thương mại. Để thúc đẩy quá
trình phát triển thị trường tài chính, Chính phủ đã thành lập Ủy ban chứng khoán
quốc gia vào năm 1998, ủy ban này hiện hàng loạt các hoạt động tạo điều kiện cho
việc hình thành và phát triển thị trường chứng khoán. Tháng 7/1998 trung tâm
15

giao dịch chứng khoán ở thành phố Hồ Chí Minh được thành lập, đây là bước đi

tiến tới thành lập sở giao dịch chứng khoán ở Việt Nam.
II.
1.
1.1

Thực trạng các công cụ của thị trường tài chính Việt Nam
Các công cụ của thị trường tiền tệ
Tín phiếu kho bạc Nhà nước

Ngày 1 – 4 – 1990 ở Việt Nam mới hình thành Kho bạc Nhà nước. Khi đó
chính phủ giao cho kho bạc nhiệm vụ phát hành tín phiếu với thời gian 3 tháng.
Nhưng ngân sách vẫn mất cân đối Chính phủ đã phải phát hành tiếp có đợt số
thuế mới phục vụ cho trả nợ cũ chiếm tới 60 – 75%. Hiện tại trái phiếu kho bạc
Nhà nước Việt Nam vẫn là một công cụ vay nợ ngắn hạn với chính phủ để bù
đắp thâm hụt ngân sách tạm thời. Trong thời gian đầu khi kho bạc phát hành trái
phiếu kho bạc dân chúng chưa biết nhiều, họ vẫn quen gửi tiết kiệm vì vậy để hấp
dẫn dân chúng thì lãi suất trái phiếu tăng lên. Mặt khác lúc đó nhu cầu vay của
chính phủ lớn để bù đắp thâm hụt ngân sách. Hiện nay thì trái phiếu kho bạc có
lãi suất nhỏ hơn lãi suất tiền gửi ngân hàng.
Những năm tiếp theo thị trường đấu thầu trái phiếu kho bạc có nhiều mới mẻ.
Đến tháng 10/2000 đã có 47 thành viên tham gia thị trường. Tuy nhiên, do nhiều
nguyên nhân khác nhau, các đợt đấu thầu vẫn còn kém sôi động.
Những năm gần đây trên thị trường phi tập trung OTC, tín phiếu Kho bạc được
mua bán vào bất cứ lúc nào.Các nhà kinh doanh tín phiếu kho bạc chính là các nhà
tạo thị trường, còn các nhà môi giới đóng vai trò trung gian cho khách hàng của
mình. Các tín phiếu kho bạc thường được trao đổi với khối lượng lớn giữa các nhà
đầu tư chuyên nghiệp. Vì tín phiếu kho bạc có những ưu điểm vượt trội hơn hẳn
các loại chứng khoán khác. Do đó, đây là kênh các Tổ chức tín dụng và các tổ
chức trung gian tài chính khác đầu tư vốn khả dụng của mình, hưởng lãi, khi cần
đem giao dịch trên thị trường mở đáp ứng nhu cầu vốn của mình.Điều đó đã cho ta

thấy được tính hấp dẫn của nó trong việc đầu tư kiếm lợi. Chính vì vậy mà tín
16

phiếu Kho bạc chủ yếu do các ngân hàng thương mại nắm giữ.
Sau hơn 17 năm phát hành sơ cấp, từ ngày 24/8/2012 lần đầu tiên tín phiếu kho bạc
phát hành theo phương thức đấu thầu qua Ngân hàng Nhà nước sẽ được đăng ký,
lưu ký tại Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam và được niêm yết giao dịch
trên thị trường trái phiếu chuyên biệt tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội. Thành
công này tạo tính thanh khoản cho tín phiếu Kho bạc đồng thời thể hiện sự liên
thông chặt chẽ giữa thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán.
Tuy nhiên vẩn còn một số tồn tại như thành viên tham gia đấu thầu chủ yếu vẫn là
các ngân hàng thương mại Nhà nước, số lượng các ngân hàng TMCP và chi nhánh
ngân hàng nước ngoài tham gia rất ít. Nguyên nhân chủ yếu là các ngân hàng
TMCP chưa thực sự quan tâm tới thị trường này do lãi suất chưa thực sự hấp dẫn
so với các loại trái phiếu phát hành qua Uỷ Ban chứng khoán. Mặt khác, lượng vốn
khả dụng dư thừa để đầu tư vào trái phiếu Kho bạc của các ngân hàng TMCP vẫn
còn hạn chế.
Sang năm 2013 ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa có thông báo kế hoạch tổ chức
phát hành tín phiếu kho bạc theo phương thức đấu thầu qua Sở Giao dịch ngân
hàng Nhà nước, theo đó mỗi tháng Sở giao dịch sẽ tổ chức 2 đợt đấu thầu, ngày
phát hành và thanh toán là T+1. Trong trường hợp cần thiết, Kho bạc Nhà nước có
thể bổ sung các đợt phát hành tín phiếu kho bạc và dự kiến sẽ có 24 đợt phát hành
tín phiếu kho bạc trong năm nay.

1.2

Chứng chỉ tiền gửi

Những năm đầu ra đời vì chưa có một thị trường thứ cấp phát triển nên mặc dù

chứng chỉ tiền gửi ngân hàng đã có nhưng chưa phát triển. Nhưng những năm
17

gần đây việc có tiền đề là có một thị trường thứ cấp khá phát triển giúp chứng chỉ
tiền gửi bước sang một giai đoạn mới. Trong các năm 2009- 2012 là cuộc chạy đua
phát hành chứng chỉ tiền gửi của các Ngân hàng thương mại, đặc biêt là sự đa dạng
kỳ hạn chứng chỉ tiền gửi. Chứng chỉ tiền gửi được phát hành cho các tổ chức, cá
nhân người Việt Nam và tổ chức, cá nhân người nước ngoài đang sinh sống và
hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.
Trong năm 2012 ngân hàng TMCP Công thương Vietin Bank đã phát hành 5 đợt
chứng chỉ tiền gửi ghi danh. Đặc biệt chứng chỉ tiền gửi ghi danh đợt V/2012 có
mệnh giá tối thiểu từ 100.000 đồng/100USD/ 100EUR. Kỳ hạn phát hành đối với
loại ngắn hạn là 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng (áp dụng với VND, USD, EUR). Chứng
chỉ tiền gửi ghi danh dài hạn áp dụng kỳ hạn 12 tháng với VND. Tại ngân hàng
TMCP đầu tư và phát triển BIDV kỳ hạn chứng chỉ tiền gửi khá linh hoạt, kết hợp
cả kỳ hạn ngắn và trung hạn với các mốc 4 tháng, 7 tháng và 13 tháng. Khách hàng
tham gia mua chứng chỉ tiền gửi của BIDV có cơ hội nhận được mức lãi suất hấp
dẫn, từ 9,3%/năm trở lên và mức cao nhất lên tới 9,99%/năm.

1.3

Thương phiếu

Ở Việt Nam đã ra đời kỳ phiếu thương mại, phát triển theo luật lệ nhà nước nhưng
chưa ở mức độ phổ biến rộng rãi. Để tạo môi trường cho sự tồn tại và phát triển
của thương phiếu trong điện hoạt ngân hàng còn sơ khai vốn tự có của nền sản
xuất thấp, từ năm 1995 việc soạn thảo pháp lệnh thương phiếu đã được đề cập
đến nhưng phải đến tháng 6/1999 dự thảo pháp lệnh thương phiếu mới được trình
lên để Ủy ban Quốc hội thông qua. Sự ra đời của Luật các công cụ chuyển

nhượng 2005 đánh giấu mốc quan trọng góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị
trường thương phiếu nước ta.
18

Những tồn tại tích cực trong khi lưu hành thương phiếu là một phương tiện
thanh toán, thương phiếu có tác dụng không thể phủ nhận là thúc đẩy kinh doanh,
mở rộng sản xuất trong nền kinh tế thị trường với đặc trưng cơ bản là khan hiếm
tiền tệ. Hạn chế sự lệch pha giữa nhu cầu và khả năng thanh khoản cũng như
giúp giảm sự hạn chế về khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng ngân hàng của các
đơn vị kinh tế.
Đi cùng với sự ra đời, phát triển của thương phiếu cũng là sự xuất hiện và phát
triển của thị trường thứ cấp, thị trường chiết khấu củ và thị trường tái chiết khấu
của các ngân hàng với các thương phiếu. Thương phiếu giúp chủ sở hữu nó và
các tác nhân trong nền kinh tế thực hiện được mục tiêu lợi nhuận trong nền kinh
tế thị trường, bằng cách giao dịch mua bán thương phiếu trên thị trường cấp 2.
Hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam tiến hành giao dịch thông qua các ngân hàng
thương mại. Tỷ lệ doanh số thanh toán có sử dụng thương phiếu gồm thanh toán
bằng L/C và nhờ thu chiếm đa phần, trên 80% doanh số thanh toán quốc tế ở hầu
hết các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên thương phiếu còn chưa phát triển rộng
rãi trong thương mại nội địa mà mới chỉ sử dụng rộng rãi trong thương mại quốc
tế cho nên chủ thể tham gia thị trường thương phiếu trong hoạt động thương mại ở
nước ta chủ yếu là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và ngân hàng thương mại.
Ở Việt Nam, thương phiếu (chủ yếu là hối phiếu) được sử dụng làm phương tiện
thanh toán và tín dụng quốc tế trong lĩnh vực ngoại thương, nghiệp vụ kinh doanh
thương phiếu của các ngân hàng thương mại giúp các doanh nghiệp đẩy nhanh tốc
độ quay vòng vốn, nâng cao hiệu quả kinh doanh.
1.4

Kỳ phiếu ngân hàng

Ở Việt Nam ngân hàng Nhà nước đã có quy chế phát hành kỳ phiếu ngân hàng
ngày 23/10/1999. Chúng thực chất là một công cụ vay nợ ngắn hạn của ngân
hàng thương mại để thu hút vốn phục vụ kinh doanh ngắn hạn của mình, vay
19

mang tính chất chủ động của. Hiện nay ở Việt Nam mệnh giá lớn tối thiểu là
100 triệu đồng kỳ phiếu ngân hàng. Chúng được mua bán trên cơ sở tự nguyện
trong trường hợp cần thiết thì hệ thống ngân hàng Nhà nước bắt buộc phát hành
cho ngân hàng thương mại để điều hành chính sách tiền tệ quốc gia.
Hiện nay, thị trường kỳ phiếu chủ yếu do các ngân hàng thương mại phát hành và
chủ yếu phát hành với thời hạn ngắn nhằm huy động tiền gửi của người dân, ít
dùng trong thương mại.
2.
2.1

Các công cụ của thị trường vốn
Cổ phiếu

Các công ty cổ phần và doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam có quyền phát hành
cổ phiếu theo quy định của luật công ty và luật doanh nghiệp Nhà nước ngày
17/9/1994, chính phủ ban hành quy chế tạm thời về phát hành cổ phiếu, trái
phiếu. Sự non yếu trong thị trường vốn, sự thiếu vốn đầu tư trong một số công ty
và cho các dự án lớn dẫn đến phải phát hành cổ phiếu để tạo ra vốn cho sản
xuất kinh doanh, cho các dự án quốc gia.
Hiện nay có thể nói cổ phiếu là loại trái khoán mạnh nhất trên thị trường các công
cụ tài chính. Không chỉ ngân hàng, công ty chứng khoán mà hầu hết các tổ chức
niêm yết, hàng loạt các công ty cổ phần lớn nhỏ đã không ngần ngại xem tăng
vốn, phát hành cổ phiếu như một kênh huy động vốn tiện lợi… Hàng loạt ngân

hàng thương mại cổ phần như ACB, Sacombank, Đông Á, Eximbank, Phương
Đông… thi nhau tăng vốn hoặc phát hành thêm cổ phiếu. Theo sau là các công ty
chứng khoán từ lớn đến nhỏ như SSI, SBS, BVSC, Đại Việt… và ít có doanh
nghiệp nào chịu tăng vốn thông qua phát hành thêm cổ phiếu ít hơn 100 tỷ.
Năm 2011 là một năm đầy khó khăn của nền kinh tế. Đặc biệt chứng khoán lao đao
khi thị trường chứng khoán tụt điểm liên tục với nhiều cổ phiếu mà giá trị của nó rất
thấp. Điển hình như công ty cổ phần nhựa Tân Hóa, mã VKP là cổ phiếu đầu tiên
có giá dưới 1.000 đồng trong lịch sử thị trường chứng khoán Việt Nam. Chốt phiên
20

22/11/2011 cổ phiếu này chỉ còn 700 đồng. Tuy đối mặt với nhiều khó khăn nhưng
trước áp lực cổ phần hóa của các doanh nghiệp Nhà nước và hoàn thiện bộ máy của
các doanh nghiệp thì thị trường huy động vốn bằng cổ phiếu vẩn diễn ra khá sôi
động. Hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế như tài chính, ngân hàng, dịch vụ tiêu
dùng đều có hoạt động trên thị trường vốn cổ phiếu.
Năm 2012, trong 6 tháng đầu năm thị trường chứng khoán huy động được 84.000 tỷ
đồng nhưng vốn huy động bằng cổ phiếu giảm 50% so với cùng kì năm 2011. Quý
I/2012 có đến 54 công ty lỗ, đặc biệt sự kiện bầu Kiên bị bắt làm cho cổ phiếu của
ngân hàng Á Châu ACB tục dốc thê thảm, tại sàn HNX cổ phiếu của ACB giảm
kịch sàn. Theo thống kê năm 2012 có 187 đợt phát hành cổ phiếu trong đó khoảng
30% là phát hành có thu tiền, tổng số tiền thu về của các doanh nghiệp là 8.3 nghìn
tỷ đồng.
Trong kế hoạch được xây dựng cho năm nay, rất ít ngân hàng bỏ sót việc phát hành
thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ, vốn tăng thêm chủ yếu được các ngân hàng dành
cho cổ đông hiện hữu. Nhưng trong tình hình thị trường chứng khoán còn khó khăn,
giá cổ phiếu ngân hàng khó có thể được cải thiện sớm thì giá phát hành bằng mệnh
giá ( 10.000 đồng/cổ phiếu) củng khó làm hài lòng cổ đông hiện hữu. Trong khi
việc tìm kiếm đối tác chiến lược trong và ngoài nước để phát hành riêng lẻ lúc này
củng không còn dễ như trước đây.

2.2 Trái phiếu
2.2.1 Trái phiếu

Chính phủ

Tháng 3/1991 Bộ Tài chính quyết định phát hành các loại tín phiếu và trái phiếu
kho bạc để huy động vốn cho Ngân sách Nhà nước và cho đầu tư phát triển. Đây
là thời điểm đánh giấu sự ra đời của thị trường trái phiếu Chính phủ.
Tháng 10/2005 lần đầu tiên trái phiếu Chính phủ Việt Nam được phát hành ra thị
trường vốn quốc tế với 750 triệu USD trái phiếu đã được các nhà đầu tư mua hết
ngay sau khi phát hành. Một kết quả khó có thể khả quan hơn và đợt trái phiếu này
21

sẽ được mua bán lại trên tất cả các thị trường thứ cấp lớn như Hongkong,
Singapore, London, New York.. liên tục đến năm 2016.
Hiện nay trái phiếu Chính phủ có những đặc điểm chủ yếu sau : mệnh giá trái
phiếu là 100.000 đồng và bội số của 100.000 đồng, Bộ Tài chính là chủ thể phát
hành trái phiếu. Bộ Tài chính ủy quyền cho Kho bạc Nhà nước tổ chức phát hành
trái phiếu theo quy định, tín phiếu kho bạc có kỳ hạn là 13 tuần, 26 tuần và 52 tuần
còn trái phiếu kho bạc và công trái xây dựng tổ quốc có kỳ hạn là 2 năm, 3 năm, 5
năm, 10 năm, 15 năm và 30 năm. Về thanh toán lãi, gốc trái phiếu, đối với trái
phiếu phát hành theo phương thức đấu thầu và bảo lãnh phát hành, tiền lãi trái
phiếu được thanh toán sau theo định kỳ 6 tháng một lần hoặc 12 tháng một lần kể
từ ngày phát hành trái phiếu, và tiền gốc trái phiếu được thanh toán một lần vào
ngày trái phiếu đáo hạn, đối với trái phiếu phát hành theo phương thức đại lý phát
hành và bán lẻ thông qua hệ thống Kho bạc Nhà nước, tiền lãi và gốc trái phiếu
được thanh toán định kỳ hoặc một lần khi đến hạn hoặc thanh toán trước hạn.
Năm 2012 được coi là năm dấu ấn của thị trường trái phiếu Chính phủ : Không chỉ
góp phần bình ổn thị trường tài chính, mở rộng quy mô và tăng thanh khoản cho

thị trường nợ mà thị trường trái phiếu đã góp phần hỗ trợ tích cực cho công tác
trọng yếu là điều hành ngân sách nhà nước. Trong ba năm qua, Kho bạc Nhà nước
đã tổ chức đầu thầu thành công các loại trái phiếu Chính phủ trên sàn HNX đạt
hơn 224,7 ngàn tỷ đồng thì chỉ riêng 9 tháng đầu năm 2012, Chính phủ huy động
thành công đã được tổng cộng 147,458 ngàn tỷ đồng. Cơ cấu thị trường trái phiếu
Việt Nam cho đến nay có tỷ lệ trái phiếu chính phủ lớn hơn 90% tổng lượng trái
phiếu được phát hành.
Theo thống kê của sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội, các ngân hàng thương mại
chiếm hơn 80% lượng trái phiếu Chính phủ trúng thầu trong quý I/2013. Tổng huy
động trái phiếu Chính phủ qua kênh đấu thầu tại sở Giao dịch Chứng khoán Hà
Nội trong quý I đạt gần 63.000 tỷ đồng, tăng hơn 11.000 tỷ đồng so với cùng kỳ
22

năm ngoái. Các ngân hàng thương mại trong nước chiếm tỷ trọng trúng thầu cao
nhất với 80,12%, tiếp theo là các ngân hàng nước ngoài, tổ chức tài chính và một
phần nhỏ công ty chứng khoán.
2.2.2

Trái phiếu công ty

Các doanh nghiệp có thể tăng nguồn vốn từ vốn tự có, điều này chỉ có thể tiến
hành đối với doanh nghiệp làm ăn tốt, các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng, coi
ngân hàng là bà đỡ cho sự phát triển của mình. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất ở
đây là bản thân doanh nghiệp phải có dự án kinh tế khả thi, mặt khác ngân hàng
phải thẩm định chắc chắn đối với người vay về tài sản tài chính, tình hình sản
xuất… và giám sát chặt chẽ trước và sau khi cho vay. Một số doanh nghiệp đã có
nhiều cách khác nhau để huy động vốn như huy động từ cán bộ công nhân viên,
làm đại lý…. nhưng phương thức đó gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó phát
hành trái phiếu là cần thiết và đ â y là những chứng khoán nợ chứng nhận một

nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng của doanh nghiệp đối với người sở hữu trái phiếu.
Hiện nay ở nước ta, nhà nước rất ưu ái trong việc phát hành trái phiếu doanh
nghiệp nên chỉ mất khoảng 6 đến 8 tuấn doanh nghiệp có thể hoàn tất hồ sơ phát
hành. Phát hành trái phiếu cho phép doanh nghiệp huy động được lượng vốn lớn.
Nếu doanh nghiệp có nhu cầu vốn trên 1000 tỷ đồng thì họ có thể tiếp cận nguồn
vốn từ phát hành trái phiếu dễ dàng hơn so với đi vay và phát hành cổ phiếu.
Năm 2008 chỉ có 2 đến 3 doanh nghiệp phát hành trái phiếu nhưng đến năm 2009
thì đã có 15 đợt doanh nghiệp phát hành trái phiếu, đặc biệt Vincom đã phát hành
thành công trái phiếu chuyể đổi quốc tế có giá 1 tỷ đồng/ 1 trái phiếu với tổng giá
trị lên đến 100 triệu USD trên thị trường Singapore. Tổng kết năm 2009 thị trường
trái phiếu Việt Nam đã có tổng các giao dịch lên đến gần 20.000 tỷ đồng. Năm
2010 trái phiếu doanh nghiệp chỉ chiếm 10% cơ cấu. Năm 2012 quy mô thị trường
trái phiếu Việt Nam chiếm 21,6% GDP trong đó thị trường trái phiếu doanh
nghiệp trong nước hiện còn rất nhỏ, chiếm 5,56% GDP, tập trung vào một số
23

doanh nghiệp lớn, chủ yếu là doanh nghiệp Nhà nước. Ngoài ra hiện nay thị
trường trái phiếu doanh nghiệp còn thiếu nhiều yếu tố quan trọng trong hệ thống
cơ sở hạ tầng .
III.

Đánh giá thực trạng các công cụ của thị trường tài chính Việt Nam

1. Thuận lợi
Qua nhiều năm hình thành và phát triển thị trường các công cụ thị trường tài chính
Việt Nam đã có những bước phát triển nhất định.
Đầu tiên, nền kinh tế nói chung và thị trường tài chính nói riêng của Việt Nam đã
có những bước phát triển đáng kể, tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn giữ ở mức cao
và ổn định.

Tiếp theo phải kể đến đó là đường lối chính sách của Đảng và nhà nước. Sau khi
thị trường chứng khoán Việt Nam được thành lập thì việc đưa các công cụ lên sàn
Giao dịch cho phép mua bán trên thị trường thứ cấp là một bước đi cực kì quan
trọng, bên cạnh đó là luôn tạo điều kiện thuận lợi cho thị trường tài chính củng như
các công cụ phát triển. Các giải pháp Chính phủ đưa ra đã có tác dụng và tạo được
sự chủ động hơn trong ứng phó với những khó khăn.
Bản thân thị trường tài chính Việt Nam qua các thời kỳ khó khăn cũng đã có điều
chỉnh khá mạnh. Chính điều chỉnh như vậy, trước ảnh hưởng quốc tế, khả năng
chống đỡ sẽ tốt hơn với khó khăn.
Các yếu tố lạm phát, nhập siêu, dự trữ ngoại tệ… đã có những dấu hiệu tích cực.
Các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã chủ động tái cấu trúc và tăng cường quản trị,
khai thác cơ hội giảm chi phí cần thiết, mở rộng mặt bằng kinh doanh, nắm bắt và
24

xử lý sớm thông tin, phản ứng nhanh nhạy và tiếp cận với các nguồn vốn, nguồn
cung cấp thiết bị, máy móc. Đồng thời tham gia ngày càng chặt chẽ, hiệu quả vào
quá trình tái cấu trúc nền kinh tế.
Việc Việt Nam hội nhập quốc tế giúp cho việc đưa các chứng khoán ra thị trường
nước ngoài, đây là thị trường lớn có nhiều thuận lợi cho việc phát triển.
Năm 2013 sẽ hứa hẹn nhiều cơ hội mới cho thị trường các công cụ tài chính.

2. Khó khăn
Nền kinh tế nước ta những năm gần đây do ảnh hưởng của tình hình kinh tế thế
giới đang thực sự khó khăn, những nguy cơ bất ổn như biến động tỷ giá, lãi suất,
lạm phát, thâm hụt… ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Chỉ riêng 6 tháng đầu năm 2012 đã có 49000 doanh nghiệp phá sản và chờ
phá sản.
Trong thời gian qua củng có rất nhiều giải pháp đưa ra tuy nhiên hầu hết chỉ dừng
lại ở mức đề xuất, việc chậm triển khai đã gây ảnh hưởng đến thị trường và các nhà

đầu tư. Sự phối hợp giữa các ngành tài chính-ngân hàng để hổ trợ chưa được như
mong đợi.
Việc cho phép ra đời quá nhiều công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ trong
lúc thị trường chứng khoán Việt Nam còn nhỏ bé dẫn đến tình trạng vi phạm
nguyên tắc nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp.
Thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng hết sức nhạy
cảm và là thị trường của niềm tin nhưng mà do thông tin một chiều làm tâm lý nhà
đầu tư hoang mang, làm thị trường khó khăn hơn.
25

Nước Ta những năm tiếp theo. C.Đối tượng và khoanh vùng phạm vi nghiên cứu và điều tra của đề tàiĐối tượng nghiên cứu và điều tra : các công cụ thị trường tiền tệ và thị trường vốn của thịtrường tài chính Nước Ta. Phạm vi nghiên cứu và điều tra : nghiên cứu và điều tra tình hình tăng trưởng các công cụ ở nhữngnăm sinh ra và quá trình năm 2010 đến cuối năm 2012. D.Phương pháp nghiên cứuĐề tài sử dụng các chiêu thức nghiên cứu và điều tra đơn cử như : nghiên cứu và phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê … E.Kết cấu của đề tàiĐề tài gồm 3 phần : Phần 1. Những yếu tố cơ bản về thị trường tài chính và các công cụPhần 2. Thực trạng tăng trưởng các công cụ của thị trường tài chính Việt NamPhần 3. Những giải pháp cho sự tăng trưởng các công cụ của thị trường tài chínhViệt NamChương 1. Những yếu tố cơ bản về thị trường tài chính và các công cụ của thịtrường tài chínhI. 1. Tổng quan về thị trường tài chínhKhái niệmTrong nền kinh tế tài chính, luôn phát sinh các nhu yếu về vốn của các chủ thể khác nhau. Trong đó có những người có thời cơ góp vốn đầu tư sinh lời thì thiếu vốn, còn những ngưòicó vốn nhàn nhã lại không có thời cơ góp vốn đầu tư hay không biết góp vốn đầu tư vào đâu. Từ đóhình thành nên một chính sách quy đổi từ tiết kiệm ngân sách và chi phí sang góp vốn đầu tư. Cơ chế đó đượcthực hiện và kiểm soát và điều chỉnh trong khuôn khổ một thị trường, đó là thị trường tài chính. Thị trường tài chính đã kết nối những người đó với nhau bằng cách luân chuyểnvốn từ những người có dư vốn tới những người thiếu vốn. Những người thiếu vốnhuy động vốn bằng cách phát hành ra các công cụ tài chính như CP, trái phiếu … còn những người có vốn dư thừa, thay vì trực tiếp góp vốn đầu tư vào máy móc thiết bịvà nhà xưởng để sản xuất hàng hoá thì sẽ mua các công cụ tài chính được pháthành bởi người kêu gọi vốn. Vậy thị trường tài chính hoàn toàn có thể được hiểu là nơi diễn ra việc mua và bán, trao đổi vàchuyển nhượng các công cụ tài chính theo các quy tắc và luật lệ đã được ấn định. 2. Các chủ thể tham gia vào thị trường tài chínhChính phủ : tham gia hầu hết với tư cách là người đi vay. nhà nước phát hànhtín phiểu kho bạc, trái phiếu để bù đắp sự thiếu vắng của ngân sách Nhà nước vàtham gia với tư cách là người cho vay mỗi khi có tiền nhàn nhã. Các hãng kinh doanh thương mại : các hãng kinh doanh thương mại tham gia thị trường tài chính chủ yếuvới tư cách là người đi vay, họ luôn có nhu yếu vốn cho việc sản xuất kinh doanh thương mại. Dân cư ( các mái ấm gia đình ) : tham gia thị trường tài chính đa phần với tư cách là ngườicho vay do dân cư thường có khuynh hướng tiết kiệm chi phí, tiêu tốn ít hơn thu nhập, họ cũngtham gia với tư cách là người đi vay để hỗ trợ vốn cho việc tiêu dùng của mình. Người quốc tế : là công dân, các hãng kinh doanh thương mại hay nhà nước quốc tế, tham gia với tư cách hầu hết là người cho vay. Khi có tiền rảnh rỗi, họ đều tìmcách làm sinh lời dưới dạng mua trái phiếu hoặc gửi tiền vào ngân hàng nhà nước. 3. Chức năng của thị trường tài chínhThị trường tài chính triển khai công dụng kinh tế tài chính nòng cốt trong việc dẫn vốn từnhững chủ thể thừa vốn tới những chủ thể cần vốn. Tài chính trực tiếp : Là con đường mà những người cần vốn sẽ kêu gọi trựctiếp từ những người có vốn bằng cách phát hành và bán các công cụ tài chính nhưcổ phiếu, tín phiếu … Tài chính gián tiếp : Là con đường mà trải qua các trung gian tài chính, vốn sẽđược di dời từ người dư vốn sang những người cần vốn. Trung gian tài chính triển khai điều này bằng cách vay vốn của người cho vay sauđó cho người đi vay vay vốn. 4. Vai trò của thị trường tài chínhVới tính năng dẫn vốn, thị trường tài chính đã thực thi vai trò vô cùng quantrọng trong việc thôi thúc, tăng trưởng và không thay đổi nền kinh tế tài chính. 4.1 Góp phần tạo lập vốn để góp vốn đầu tư tăng trưởng kinh tế tài chính. Thông thường, ngân sách Nhà nước không đủ để phân phối hàng loạt các nhu yếu xâydựng và tiêu tốn bởi để hoàn toàn có thể triển khai kiến thiết xây dựng các khu công trình hạ tầng của Chínhphủ và chính quyền sở tại địa phương buộc phải yên cầu nhu yếu về tiền vốn với quy môrất lớn đồng thời phải kêu gọi trong một thời hạn ngắn. Thị trường tài chính sẽgóp phần xử lý khó khăn vất vả này qua việc thôi thúc việc tích luỹ và tập trung chuyên sâu vốn, tạo nên nguồn vốn thiết yếu Giao hàng cho việc góp vốn đầu tư của nhà nước. 4.2 Nâng cao hiệu suất cao sử dụng vốnNhững người có vốn thư thả : có thêm thời cơ góp vốn đầu tư, giúp họ hoàn toàn có thể làm sinh lờitrên đồng tiền của họ qua việc gửi tiết kiệm chi phí hoặc mua CP. Những người đi vay : giúp họ có ý thức sử dụng đồng vốn vay một cách hài hòa và hợp lý vàhiệu quả. Như vậy mới hoàn toàn có thể hoàn trả khoản vay, trả lãi và tạo một phần thu nhậpcho bản thân. 4.3 Là môi trường tự nhiên để thực thi các điều tiết vĩ mô của nền kinh tếChính phủ là cơ quan quản trị vĩ mô nền kinh tế tài chính bằng cách sử dụng chủ trương tàikhoá và chủ trương tiền tệ để điều tiết nền kinh tế tài chính. Ngân hàng Trung ương có thểcăn cứ vào nhu yếu của từng thời kỳ để điều tiết hoạt động giải trí thị trường mở để khốngchế sự co dãn của cung – cầu tiền tệ, tiến tới khống chế quy mô và hướng góp vốn đầu tư tíndụng tiền tệ, tạo điều kiện kèm theo thôi thúc kinh tế tài chính tăng trưởng, trấn áp lạm phát kinh tế và ổnđịnh giá trị đồng xu tiền. Ngân hàng Trung ương cũng hoàn toàn có thể mua và bán ngoại tệ trên thịtrường ngoại hối để kiểm soát và điều chỉnh lượng cung và cầu ngoại tệ nhằm mục đích giúp Chính phủổn định tỷ giá hối đoái. 4.4 Tạo điều kiện kèm theo tăng trưởng kinh tế tài chính đối ngoạiThông qua thị trường tài chính, các công ty và nhà nước hoàn toàn có thể bán CP, pháthành trái phiếu ra quốc tế, tạo điều kiện kèm theo lôi cuốn vốn góp vốn đầu tư quốc tế. Thị trường tài chính rất nhạy cảm với các hoạt động giải trí kinh tế tài chính, thôi thúc nền kinh tếphát triển đồng thời nhìn vào sự tăng trưởng của thị trường tài chính của một quốcgia hoàn toàn có thể đo được hiệu suất cao các hoạt động giải trí kinh tế tài chính của vương quốc đó. 5.5.1 Cấu trúc của thị trường tài chínhThị trường nợ và thị trường vốn cổ phầnDựa vào địa thế căn cứ : doanh nghiệp sẽ hỗ trợ vốn cho vốn của mình như thế nào ? Thị trường nợ là thị trường tại đó diễn ra hoạt động giải trí mua và bán và trao đổi cáccông cụ nợ. Công cụ nợ ( debt instruments ) là các thoả thuận mang đặc thù hợp đồng giữachủ thể đi vay và chủ thể cho vay. Với sự thoả thuận về số lượng tiền vay, lãi suấtvay, phương pháp, thời gian giao dịch thanh toán và thời hạn vay. Căn cứ vào kỳ hạn nợ : công cụ nợ dưới 1 năm ; công cụ nợ thời gian ngắn. Công cụ nợ trên 1 năm : công cụ nợ trung và dài hạn. Thị trường vốn CP là thị trường mà tại đó diễn ra các hoạt động giải trí mua báncổ phiếu ( hoàn toàn có thể là những CP phát hành lần đầu hoặc được bán lại ). Cổ phiếu ( share certificate ) : là giấy ghi nhận quyền sở hữu và quyền lợi hợppháp so với thu nhập ròng và gia tài của doanh nghiệp. 5.2 Thị trường tiền tệ và thị trường vốnCăn cứ : dựa vào thời hạn giao dịch thanh toán của các công cụ tài chính. Thị trường tiền tệ là thị trường tại đó diễn ra các hoạt động giải trí mua và bán và traođổi các công cụ nợ thời gian ngắn. Các chủ thể tham gia : ngân hàng nhà nước Trung ương, ngân hàng nhà nước thương mại, các tổ chứctrung gian phi ngân hàng nhà nước, doanh nghiệp và dân cư. Thị trường tiền tệ gồm : thị trường tín dụng thanh toán, thị trường liên ngân hàng nhà nước, thị trườngngoại hối và kinh doanh thị trường chứng khoán thời gian ngắn .. Thị trường tiền tệ làm tăng năng lực thanh khoản của các công cụ tài chính, hỗ trợvốn lưu động cho doanh nghiệp và hỗ trợ vốn thời gian ngắn cho ngân sách Nhà nước, cungcấp lãi suất vay tham chiếu cho thị trường vốn và tăng năng lực trấn áp, cung ứngtiền của ngân hàng nhà nước Trung ương. Thị trường vốn là thị trường tài chính tại đó diễn ra việc mua và bán các công cụnợ dài hạn và CP của các công ty cổ phầnCác chủ thể tham gia : Ngân hàng Trung ương, ngân hàng nhà nước thương mại, các tổ chứctrung gian phi ngân hàng nhà nước. Thị trường vốn đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ vốn các khoản góp vốn đầu tư dài hạncho chính phủ nước nhà, các doanh nghiệp và hộ mái ấm gia đình. Thị trường vốn, nhất là thị trườngchứng khoán tăng trưởng còn được xem là thước đo “ sức khoẻ ” của nền kinh tế tài chính. 5.3 Thị trường cấp 1 và thị trường cấp 2C ăn cứ vào quy trình phát hành và lưu thôngThị trường cấp 1 ( primary market ) là thị trường tài chính diễn ra sự phát hànhlần đầu của các sàn chứng khoán. Phạm vi hoạt động giải trí hẹp, thường thì chỉ có 2 chủ thể tham gia gồm chủ thể pháthành là các cá thể, doanh nghiệp, chính phủ nước nhà, kho bạc nhà nước, ngân hàngthương mại và những người mua tiên phong là các chủ thể kinh doanh thương mại và góp vốn đầu tư. Quymô nhỏ và gắn với vốn chủ phát hành. Thị trường cấp 2 ( secondary market ) là thị trường tài chính diễn ra các hoạtđộng mua, bán, trao đổi các công cụ tài chính đã được phát hành trên thị trườngcấp 1. Bao gồm thị trường hối đoái, thị trường tài chính kỳ hạn : futures markets vàthị trường lựa chọn : options. Hai thị trường này có ảnh hưởng tác động tương hỗ lẫn nhau. Thị trường cấp 1 sản xuất racông cụ tài chính còn thị trường cấp 2 khẳng định tính thanh toán của các côngcụ này. 5.4 Thị trường chính thức và không chính thứcCăn cứ vào sự can thiệp của nhà nướcThị trường chính thức là thị trường mà tuân thủ 100 % lao lý của Nhà nước. VD : các ngân hàng nhà nước thương mại. Thị trường này có quy mô lớn và khá bảo đảm an toàn. Thị trường không chính thức là thị trường mà không tuân theo trọn vẹn cácquy định của Nhà nước. Trên trong thực tiễn, cả hai thị trường này cùng song song sống sót vì thị trường chính thứcvẫn chưa thể cung ứng hết nhu yếu của các chủ thể trong nền kinh tế tài chính, việc tiếp cậnvới thị trường chính thức còn gặp nhiều khó khăn vất vả. Vì vậy mà thị trường khôngchính thức sống sót bên cạnh, gắn liền với thị trường chính thức như một sự bổ xung. II. 1. Các công cụ của thị trường tài chínhKhái niệmĐể hiểu khá đầy đủ về việc làm cách nào để thị trường tài chính triển khai được vaitrò quan trọng trong việc dẫn vốn từ người cho vay – người tiết kiệm chi phí tới người vayngười tiêu tốn, tất cả chúng ta cần điều tra và nghiên cứu các loại sàn chứng khoán được mua và bán trongthị trường tài chính. Dựa vào kì hạn của các công cụ mà xem xét công cụ của thịtrường tài chính ở hai góc nhìn là công cụ của thị trường tiền tệ và công cụ của thịtrường vốn. 2. Các công cụ của thị trường tiền tệDo có kì hạn thanh toán giao dịch ngắn, những công cụ vay nợ được mua và bán trên thị trườngtiền tệ chịu mức giao động giá tối thiểu và nó là loại góp vốn đầu tư ít rủi ro đáng tiếc nhất. 2.1 Tín phiếu kho bạc Nhà nướcLà công cụ vay nợ thời gian ngắn của chính phủ nước nhà, nhằm mục đích bù đắp thâm hụt ngân sách tạmthời. Tín phiếu Kho bạc Nhà nước có những đặc thù sau : Là công cụ vay nợ ngắnhạn có tính lỏng cao nhất, tính lỏng dựa trên thời hạn quy đổi nhanh ; chi phícho việc quy đổi tương thích, được mua và bán ráo riết nhất ; Độ bảo đảm an toàn cao : do kỳ hạn giao dịch thanh toán ngắn nên tín phiếu kho bạc chịu mức giaođộng giá tối thiểu, và do đó ít rủi ro đáng tiếc. Cùng với việc chính phủ nước nhà bảo vệ chi trả : chính phủ nước nhà tăng thuế hoặc vay tiếp hoặc phát hành tiền để trả nợ. Bởi hai đặc thù trên mà tín phiếu kho bạc có lãi suất vay là thấp nhất trong hệthống các công cụ vay nợ thời gian ngắn. Được phát hành ra dưới nhiều hình thức khác nhau để lựa chọn người mua chophù hợp : lọai tín phiếu kho bạc có cống phẩm được trả trước, loại tín phiếu kho bạccó cống phẩm được trả sau, loại tín phiếu kho bạc không ghi phần lãi mà là chênhlệch giữa giá mua và giá cả bằng cống phẩm …. Chủ thể nắm giữ hầu hết là ngân hàng nhà nước thương mại với hai mục tiêu khi mua : thu cống phẩm từ tín phiếu kho bạc và nắm giữ để bảo vệ năng lực thanh khoản. Ngân hàng Trung ương mua tín phiếu kho bạc để kiểm soát và điều chỉnh lượng tiền cung ứngtrong nền kinh tế tài chính là công cụ quan trọng nhất trong hoạt động giải trí thị trường mở. 2.2 Giấy ghi nhận tiền gửi của ngân hàngLà giấy ghi nhận cho việc gửi tiền của các cá thể hay tổ chức triển khai vào ngân hàngthương mại hoặc các tổ chức triển khai tín dụng thanh toán khác, chiếm một tỷ suất khá lớn trong số cácloại tiền gửi ngân hàng nhà nước. Chứng chỉ tiền gửi được mua đi bán lại ở thị trường thứ cấp tuỳ thuộc vào quyđịnh của ngân hàng nhà nước, điều kiện kèm theo của các nước. Đến khi tăng năng lực cạnh tranhvề việc kêu gọi vốn các ngân hàng nhà nước được cho phép mua và bán lại nó làm tăng tính lỏng. Chúng được mua đi bán lại vì trong thị trường có nhu yếu : người mua muốn bánlại mua vào ship hàng cho nhiều mục tiêu khác nhau như tiêu dùng, sản xuất. Chứng chỉ tiền gửi được phát sinh bởi các ngân hàng nhà nước thương mại, tổ chức triển khai tàichính khác và do các cá thể, các tổ chức triển khai kinh tế tài chính trong nền kinh tế tài chính gửi tiềnvào ngân hàng nhà nước thương mại gửi vào các tổ chức triển khai tài chính khác nắm giữ. 2.3 Thương phiếuThương phiếu là công cụ vay nợ thời gian ngắn do các ngân hàng nhà nước lớn và các công ty nổitiếng phát hành. Bao gồm hối phiếu và lệnh phiếu. 2.3.1 Hối phiếuLà một mệnh lệnh đòi tiền vô điều kiện kèm theo do người sản xuất, người bán, ngườicung ứng dịch vụ … ký phát đòi tiền người nhập khẩu, người mua, người nhậncung ứng, và nhu yếu người này phải trả một số tiền nhất định, tại một địa điểmnhất định, trong một thời hạn nhất định cho người hưởng lợi lao lý trong hốiphiếu, hoặc theo lệnh của người này trả cho người khác. Hối phiếu có những đặcđiểm : Tính trựu tượng của hối phiếu : không cần phải ghi nội dung quan hệ kinh tế tài chính, mà chỉ cần ghi rõ số tiền phải trả là bao nhiêu và trả cho ai, người nào sẽ thanhtoán, thời hạn giao dịch thanh toán khi nào … Tính bắt buộc trả tiền của hối phiếu : người trả tiền của hối phiếu phải trả tiềnđầy đủ, đúng theo nhu yếu của tờ hối phiếu, không được viện nguyên do riêng củabản thân so với người ký phát hối phiếu trừ trường hợp hối phiếu không cònphù hợp với luật đạo chi phối nó. Tính lưu thông của hối phiếu : nó hoàn toàn có thể chuyển nhượng ủy quyền từ người này sangngười khác trong thời hạn của nó, người trả tiền sẽ giao dịch thanh toán cho người cầmhối phiếu mặc dầu hợp đồng mua và bán hoàn toàn có thể không thực thi hoàn hảo. Bản chất của hối phiếu : là một loại thương phiếu, nó không những là mộtphương tiện để thanh toán giao dịch, mà còn là công cụ tín dụng thanh toán, nó được cho phép người chủnợ kêu gọi được khoản đã vay ở một ngân hàng nhà nước trước khi đến hạn thanh toánhối phiếu. Ngày nay hối phiếu đa phần làm địa thế căn cứ cho nhiệm vụ tín dụng thanh toán ngânhàng. Trong trường hợp hối phiếu là công cụ thanh toán giao dịch, nó được các thươngnhân sử dụng để giao dịch thanh toán khoản trái quyền của họ, lúc đó hối phiếu đóng vaitrò tựa như như tiền tệ. Nhưng việc sử dụng hối phiếu với tính năng duy nhấtnày thời nay đã chấm hết, vì người ta hay dùng séc hơn. Hối phiếu luôn luôn là một chức từ thương mại, ngay cả khi những người kýtrên phiếu không phải là thương nhân. Việc giao dịch thanh toán hối phiếu : kỳ hạn trả tiền của hối phiếu có hai dạng trả tiềnngay và trả tiền sau. Ngày nay có xu thế mới trong việc vận động và di chuyển cácthương phiếu là việc tăng cường sử dụng các công cụ phi vật chất ( như hốiphiếu trên băng từ … ) 2.3.2 Lệnh phiếuLà một sách vở nợ do người mua kí phát trao cho người bán, trong đó người mua10cam kết trả một số tiền nhất định khi đến hạn giao dịch thanh toán cho người thụ hưởng lệnhphiếu. Thương phiếu có những đặc thù : trả một số tiền nhất định một cách vôđiều kiện và ghi rõ tên người thụ hưởng. Có thể sử dụng nó để làm phương tiệnthanh toán, phương tiện đi lại để tất toán những khoản nợ của mình. Dùng nó để vaytiền ngân hàng nhà nước, họ vay tiền ngân hàng nhà nước dưới hình thức chiết khấu và cho vay táichiết khấu. 2.4 Hối phiếu được ngân hàng nhà nước chấp nhậnLà một hối phiếu ngân hàng nhà nước, do một công ty phát hành được giao dịch thanh toán trong thờihạn sắp tới và được ngân hàng nhà nước bảo vệ với một khoản lệ phí bằng cách ngân hàngđóng dấu : “ đã đồng ý ” lên hối phiếu. Hối phiếu của công ty sẽ được tăngthêm năng lực đồng ý khi mua hàng hoá bởi đã có sự bảo vệ về việc thanhtoán, ngay cả khi công ty phá sản thì hối phiếu vẫn được ngân hàng nhà nước thanh toán giao dịch đầyđủ. Hối phiếu được ngân hàng nhà nước gật đầu thường được bán lại trên thị trường thứcấp với giá thấp hơn, và như vậy có công dụng tương tự như như tín phiếu kho bạc. Công ty phát hành hối phiếu phải gửi món tiền bắt buộc vào thông tin tài khoản của mình tạingân hàng đủ để trả cho hối phiếu. Công ty phát hành hối phiếu có thêm năng lực được đồng ý khi mua hàng hóaở quốc tế. 2.5 Các công cụ khác2. 5.1 Hợp đồng mua lạiLà loại thanh toán giao dịch mua và bán trong đó khoán dịch viên kêu gọi tiền mặt bằngcách tìm một người mua trong thời điểm tạm thời 1 số ít sàn chứng khoán của khoán dịch viênkhác và ký hợp đồng với bên mua là anh ta sẽ mua lại số sàn chứng khoán đó vào thờiđiểm sau này, hợp đồng này gọi là thoả thuận mua lại, là thoả thuận giữa ngườimua và người bán, ở đây người bán chấp thuận đồng ý mua lại số sàn chứng khoán ( đã bán chongười mua ) theo giá đã thoả thuận và theo thời gian đã định. Thoả thuận mua lại được dùng cho hai cách : kêu gọi vốn thời gian ngắn và11là công cụ của chủ trương tiền tệ của Nhà nước. Thành viên tham gia vào thoảthuận mua lại là : người mua và bán trái phiếu nhà nước, trái phiếu đô thị, dùngchúng để hỗ trợ vốn cho ngân sách, ngân hàng nhà nước thương mại dùng chúng để huy độngngân hàng quỹ thời gian ngắn, nhà nước dùng chúng để tác động ảnh hưởng làm biến hóa ngắnhạn số dự trữ trong các ngân hàng nhà nước thành viên ( kiểm soát và điều chỉnh nguồn cung tiền tệ ). II. 5.2 Các khoản vay thời gian ngắn ở nước ngoàiLà các khoản vay thời gian ngắn có tính lỏng cao, hoàn toàn có thể mang với tiền mặt. 3. Các công cụ của thị trường vốnLà các công cụ nợ và CP với kỳ hạn trên một năm hay vô hạn, có độ lệchtiêu chuẩn lớn nên mức độ rủi ro đáng tiếc lớn và cống phẩm thường cao3. 1C ổ phiếu công tyLà trái quyền về vốn so với thu nhập ròng và gia tài của một công ty. Là một loạichứng chỉ do công ty CP phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sởhữu một hoặc 1 số ít CP của công ty đó. Là một sàn chứng khoán có giá, cóquyền nhận lãi và hoa hồng. Cổ phiếu hoàn toàn có thể dùng mua và bán và thế chấp ngân hàng, trởthành một trong những phương tiện đi lại tín dụng thanh toán dài hạn đa phần của thị trường tiềnvốn. Tính tất yếu khách quan phát hành CP trong điều kiện kèm theo XHCN : thứ nhấtlà nhu yếu tiền vốn trong cạnh tranh đối đầu thị trường buộc các công ty phải thay đổi kỉthuật thiết bị, hai là xem xét việc phân phối tiền vốn từ lâu đã hình thành thóiquen cấp phép hoặc ngân hàng nhà nước cho vay và biểu lộ nhu yếu quy luật vận độngcủa tiền vốn trong quy trình tăng trưởng kinh tế hàng hoá, phần nào xử lý đượcmâu thuẫn cung và cầu tiền vốn. Đặc điểm của CP : Có tính quyết sách, người có CP đại trà phổ thông có quyềntham gia đại hội cổ đông, bầu cử ban quản trị tham gia quyết sách quản trị kinhdoanh xí nghiệp sản xuất, quyền hạn lớn hay nhỏ tuỳ theo số lượng CP. Có thể đổi tiền12mặt, CP hoàn toàn có thể chuyển nhượng ủy quyền bất kể khi nào thanh toán giao dịch ở thị trường, biếnthành tiền giấy. Giá cả và giá trị mặt phiếu không khớp nhau. Cổ phiếu là đốitượng thanh toán giao dịch, giống như hàng hoá, có loại Chi tiêu này chịu ảnh hưởng tác động tìnhhình kinh doanh thương mại và chịu ảnh hưởng tác động nhiều tác nhân kinh tế tài chính, chính trị, xã hội, luônluôn biến hóa, tăng giảm lớn, không khớp với giá trị mặt CP. Rủi ro, cổphiếu đã mua không hề trả lại vốn cũ. Người đầu tư mạnh CP hoàn toàn có thể nhận đượcthù lao dự kiến hay không trọn vẹn nhờ vào vào doanh lợi của xí nghiệpquyết định. Vì vậy, người đầu tư mạnh CP thường chịu rủi ro đáng tiếc nhất định. Cổ phiếu hoàn toàn có thể chia làm hai loại : Cổ phiếu thường thì là loại CP có thu nhập không không thay đổi, cống phẩm biếnđộng tùy theo sự dịch chuyển của công ty. Thị giá CP nhạy cảm, thông thườngphụ thuộc vào sự tăng trưởng kinh tế tài chính nói chung và dịch chuyển theo chiều nghịch vớibiến động theo lãi suất vay trái phiếu chính phủ nước nhà, các công cụ vay nợ. Cổ phiếu tặng thêm là loại CP có quyền nhận được thu nhập cố định và thắt chặt theo mộttỷ lệ lãi suất vay nhất định, thị giá CP này phụ thuộc vào vào sự biến hóa lãi suất vay tráiphiếu kho bạc và tình hình tài chính của công ty. 3.2 Trái phiếuLà một loại sàn chứng khoán có giá là một giấy ghi nhận nợ của người vayvốn muốn thu góp vốn và bảo vệ trả lãi với lãi suất vay, thời hạn nhất định, và trảvốn gốc trong thời hạn nhất định. Trái phiếu thường chỉ loại trái phiếu có thờihạn trung dài hạn trên một năm. Đặc điểm của trái phiếu : hoàn toàn có thể trong cùng một điều kiện kèm theo, một thời hạn thu gópsố vốn lớn của nhiều người góp vốn đầu tư ; sau một thời hạn nhất định trả lại vốn và lãitheo định kỳ ; chủ nợ xem xét tình hình thực tiễn thị trường tự do chuyển nhượngtrái phiếu của họ. Các loại trái phiếuKhi địa thế căn cứ vào mục tiêu phát hành và người phát hành thì gồm trái phiếu chính13phủ và trái phiếu công tyTrái phiếu cơ quan chính phủ : là một công cụ vay nợ trung và dài hạn của chính phủ nước nhà, người đứng ra vay nợ là chính phủ nước nhà với một mục tiêu kêu gọi vốn rảnh rỗi trongnền kinh tế tài chính để bù đắp thâm hụt ngân sách triền miên đồng thời giúp cơ quan chính phủ cónguồn vốn góp vốn đầu tư vào hạ tầng … loại trái phiếu này có tin tưởng cao, ngườicó trái phiếu sau một thời hạn thu lại vốn theo kim ngạch ghi trên mặt phiếu vànhận được tiền thù lao nhất định. Với những trái phiếu chính quyền sở tại trung ươngthì có mức độ bảo đảm an toàn hơn là trái phiếu chí địa phương nhưng lại có lãi suất vay caohơn vì không bị đánh thuế thu nhập, lãi suất vay của trái phiếu chính phủ nước nhà là thấp. Vớinhiều kỳ hạn khác nhau, trái phiếu cơ quan chính phủ hoàn toàn có thể có kỳ hạn là 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng, 1 năm đến 2, 3 năm … bên cạnh độ rủi ro đáng tiếc là không caoTrái phiếu công ty : là công cụ vay nợ trung, dài hạn của công ty, huy độngvốn cho sản xuất kinh doanh thương mại của công ty. Công ty bảo vệ sẽ trả vốn trái phiếutrong thời hạn nhất định và trả lãi suất vay trái phiếu theo thời hạn ước định và lãisuất pháp luật. Có loại trái phiếu được phát hành thấp hơn giá trị mặt phiếu, còncó thể trả vốn gốc trước thời hạn. Nếu có trái phiếu công ty có bảo vệ cần ghirõ hai chữ “ bảo vệ ” được cơ quan chủ quản được cho phép và phép kiểm chứng. Khi địa thế căn cứ vào phương pháp thanh toán giao dịch các khoản vay vốn gốc và lãi cho tráiphiếu ta có : Trái phiếu vay đơn : trái phiếu mà hàng loạt tiền vốn gốc và lãi sẽ đượcthanh toán một lần đến thời kỳ đáo hạn. Trái phiếu vay trả cố định và thắt chặt : loại trái phiếu mà người mua trái phiếu sẽ đượcthanh toán một khoản cố định và thắt chặt đều nhau trong suốt kỳ hạn của trái phiếu đó. Trái phiếu Coupon : tiền lãi của trái phiếu được trả hàng năm, tiền vốn gốcđược trả vào ngày đáo hạn. Trái phiếu chiết khấu : là trái phiếu mà ở đó người mua trái phiếu sẽ trả cho14người bán với giá mua thấp hơn mệnh giá nhưng đến ngày đáo hạn người muađược giao dịch thanh toán trả lại theo mệnh giá. Khoản chênh lệch đó chính là lãi suất vay. Trái phiếu vĩnh cửu : là loại trái phiếu mà ở đó người mua nó không bao giờđược thanh toán giao dịch tiền gốc. 3.3 Các món vay thế chấpVay thế chấp ngân hàng là các món tiền cho các cá thể hoặc các công ty kinh doanh thương mại vay đểđầu tư vào những khu công trình kiến trúc, đất đai được dùng làm vật thế chấp ngân hàng cácmón vay. Hình thức này chiếm một phần nhiều trong nguồn hỗ trợ vốn của các công ty. Ngân hàng và các tổ chức triển khai tiết kiệm ngân sách và chi phí là người cho vay số 1, các tổ chức triển khai nàycung cấp vốn cho thị trường vay thế chấp ngân hàng bằng cách bán trái khoán và dùng tiền đểmua các món thế chấp ngân hàng. 3.4 Các chứng từ quỹLà loại sàn chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của nhà đầu tư với một phần vốn gópcủa quỹ đại chúng. Đặc điểm : do công ty quản trị quỹ phát hành, xác nhận việc góp vốn của nhà đầutư vào quỹ, người chiếm hữu nó không có quyền tham gia ứng cử, bầu cử, tùy mỗiloại quỹ mà nhà đầu tư hoàn toàn có thể rút vốn trực tiếp hay qua đầu tư và chứng khoán. Chương II. Thực trạng tăng trưởng các công cụ của thị trường tài chính ViệtNamI. Sự hình thành của thị trường tài chính Việt NamCủng như các vương quốc chậm tăng trưởng khác, thị trường tài chính Nước Ta chođến nay chưa thực sự tăng trưởng. Hoạt động của thị trường tài chính chỉ tập trung chuyên sâu ởhoạt động của trung gian tài chính – các ngân hàng nhà nước thương mại. Để thôi thúc quátrình tăng trưởng thị trường tài chính, nhà nước đã xây dựng Ủy ban chứng khoánquốc gia vào năm 1998, ủy ban này hiện hàng loạt các hoạt động giải trí tạo điều kiện kèm theo choviệc hình thành và tăng trưởng đầu tư và chứng khoán. Tháng 7/1998 trung tâm15giao dịch sàn chứng khoán ở thành phố Hồ Chí Minh được xây dựng, đây là bước đitiến tới xây dựng sở giao dịch sàn chứng khoán ở Nước Ta. II. 1.1.1 Thực trạng các công cụ của thị trường tài chính Việt NamCác công cụ của thị trường tiền tệTín phiếu kho bạc Nhà nướcNgày 1 – 4 – 1990 ở Nước Ta mới hình thành Kho bạc Nhà nước. Khi đóchính phủ giao cho kho bạc trách nhiệm phát hành tín phiếu với thời hạn 3 tháng. Nhưng ngân sách vẫn mất cân đối nhà nước đã phải phát hành tiếp có đợt sốthuế mới Giao hàng cho trả nợ cũ chiếm tới 60 – 75 %. Hiện tại trái phiếu kho bạcNhà nước Nước Ta vẫn là một công cụ vay nợ thời gian ngắn với chính phủ nước nhà để bùđắp thâm hụt ngân sách trong thời điểm tạm thời. Trong thời hạn đầu khi kho bạc phát hành tráiphiếu kho bạc dân chúng chưa biết nhiều, họ vẫn quen gửi tiết kiệm chi phí thế cho nên để hấpdẫn dân chúng thì lãi suất vay trái phiếu tăng lên. Mặt khác lúc đó nhu yếu vay củachính phủ lớn để bù đắp thâm hụt ngân sách. Hiện nay thì trái phiếu kho bạc cólãi suất nhỏ hơn lãi suất vay tiền gửi ngân hàng nhà nước. Những năm tiếp theo thị trường đấu thầu trái phiếu kho bạc có nhiều mới lạ. Đến tháng 10/2000 đã có 47 thành viên tham gia thị trường. Tuy nhiên, do nhiềunguyên nhân khác nhau, các đợt đấu thầu vẫn còn kém sôi động. Những năm gần đây trên thị trường phi tập trung chuyên sâu OTC, tín phiếu Kho bạc đượcmua bán vào bất kỳ khi nào. Các nhà kinh doanh tín phiếu kho bạc chính là các nhàtạo thị trường, còn các nhà môi giới đóng vai trò trung gian cho người mua củamình. Các tín phiếu kho bạc thường được trao đổi với khối lượng lớn giữa các nhàđầu tư chuyên nghiệp. Vì tín phiếu kho bạc có những ưu điểm tiêu biểu vượt trội hơn hẳncác loại sàn chứng khoán khác. Do đó, đây là kênh các Tổ chức tín dụng thanh toán và các tổchức trung gian tài chính khác góp vốn đầu tư vốn khả dụng của mình, hưởng lãi, khi cầnđem thanh toán giao dịch trên thị trường mở phân phối nhu yếu vốn của mình. Điều đó đã cho tathấy được tính mê hoặc của nó trong việc góp vốn đầu tư kiếm lợi. Chính thế cho nên mà tín16phiếu Kho bạc hầu hết do các ngân hàng nhà nước thương mại nắm giữ. Sau hơn 17 năm phát hành sơ cấp, từ ngày 24/8/2012 lần tiên phong tín phiếu kho bạcphát hành theo phương pháp đấu thầu qua Ngân hàng Nhà nước sẽ được ĐK, lưu ký tại Trung tâm lưu ký sàn chứng khoán Nước Ta và được niêm yết giao dịchtrên thị trường trái phiếu chuyên biệt tại Sở thanh toán giao dịch sàn chứng khoán TP.HN. Thànhcông này tạo tính thanh khoản cho tín phiếu Kho bạc đồng thời biểu lộ sự liênthông ngặt nghèo giữa thị trường tiền tệ và kinh doanh thị trường chứng khoán. Tuy nhiên vẩn còn một số ít sống sót như thành viên tham gia đấu thầu đa phần vẫn làcác ngân hàng nhà nước thương mại Nhà nước, số lượng các ngân hàng nhà nước TMCP và chi nhánhngân hàng quốc tế tham gia rất ít. Nguyên nhân hầu hết là các ngân hàngTMCP chưa thực sự chăm sóc tới thị trường này do lãi suất vay chưa thực sự hấp dẫnso với các loại trái phiếu phát hành qua Uỷ Ban chứng khoán. Mặt khác, lượng vốnkhả dụng dư thừa để góp vốn đầu tư vào trái phiếu Kho bạc của các ngân hàng nhà nước TMCP vẫncòn hạn chế. Sang năm 2013 ngân hàng nhà nước Nhà nước Nước Ta vừa có thông tin kế hoạch tổ chứcphát hành tín phiếu kho bạc theo phương pháp đấu thầu qua Sở Giao dịch ngânhàng Nhà nước, theo đó mỗi tháng Sở thanh toán giao dịch sẽ tổ chức triển khai 2 đợt đấu thầu, ngàyphát hành và giao dịch thanh toán là T + 1. Trong trường hợp thiết yếu, Kho bạc Nhà nước cóthể bổ trợ các đợt phát hành tín phiếu kho bạc và dự kiến sẽ có 24 đợt phát hànhtín phiếu kho bạc trong năm nay. 1.2 Chứng chỉ tiền gửiNhững năm đầu sinh ra vì chưa có một thị trường thứ cấp tăng trưởng nên mặc dùchứng chỉ tiền gửi ngân hàng nhà nước đã có nhưng chưa tăng trưởng. Nhưng những năm17gần đây việc có tiền đề là có một thị trường thứ cấp khá tăng trưởng giúp chứng chỉtiền gửi bước sang một quy trình tiến độ mới. Trong các năm 2009 – 2012 là cuộc chạy đuaphát hành chứng từ tiền gửi của các Ngân hàng thương mại, đặc biêt là sự đa dạngkỳ hạn chứng từ tiền gửi. Chứng chỉ tiền gửi được phát hành cho các tổ chức triển khai, cánhân người Nước Ta và tổ chức triển khai, cá thể người quốc tế đang sinh sống vàhoạt động hợp pháp tại Nước Ta. Trong năm 2012 ngân hàng nhà nước TMCP Công thương Vietin Bank đã phát hành 5 đợtchứng chỉ tiền gửi ghi danh. Đặc biệt chứng từ tiền gửi ghi danh đợt V / 2012 cómệnh giá tối thiểu từ 100.000 đồng / 100USD / 100EUR. Kỳ hạn phát hành đối vớiloại thời gian ngắn là 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng ( vận dụng với VND, USD, EUR ). Chứngchỉ tiền gửi ghi danh dài hạn vận dụng kỳ hạn 12 tháng với VND. Tại ngân hàngTMCP góp vốn đầu tư và tăng trưởng Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam BIDV kỳ hạn chứng từ tiền gửi khá linh động, kết hợpcả kỳ hạn ngắn và trung hạn với các mốc 4 tháng, 7 tháng và 13 tháng. Khách hàngtham gia mua chứng từ tiền gửi của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam BIDV có thời cơ nhận được mức lãi suất vay hấpdẫn, từ 9,3 % / năm trở lên và mức cao nhất lên tới 9,99 % / năm. 1.3 Thương phiếuỞ Nước Ta đã sinh ra kỳ phiếu thương mại, tăng trưởng theo luật lệ nhà nước nhưngchưa ở mức độ thông dụng thoáng rộng. Để tạo môi trường tự nhiên cho sự sống sót và phát triểncủa thương phiếu trong điện hoạt ngân hàng nhà nước còn sơ khai vốn tự có của nền sảnxuất thấp, từ năm 1995 việc soạn thảo pháp lệnh thương phiếu đã được đề cậpđến nhưng phải đến tháng 6/1999 dự thảo pháp lệnh thương phiếu mới được trìnhlên để Ủy ban Quốc hội trải qua. Sự sinh ra của Luật các công cụ chuyểnnhượng 2005 đánh giấu mốc quan trọng góp thêm phần thôi thúc sự tăng trưởng của thịtrường thương phiếu nước ta. 18N hững sống sót tích cực trong khi lưu hành thương phiếu là một phương tiệnthanh toán, thương phiếu có tính năng không hề phủ nhận là thôi thúc kinh doanh thương mại, lan rộng ra sản xuất trong nền kinh tế thị trường với đặc trưng cơ bản là khan hiếmtiền tệ. Hạn chế sự lệch sóng giữa nhu yếu và năng lực thanh khoản cũng nhưgiúp giảm sự hạn chế về năng lực tiếp cận các nguồn tín dụng thanh toán ngân hàng nhà nước của cácđơn vị kinh tế tài chính. Đi cùng với sự sinh ra, tăng trưởng của thương phiếu cũng là sự Open và pháttriển của thị trường thứ cấp, thị trường chiết khấu củ và thị trường tái chiết khấucủa các ngân hàng nhà nước với các thương phiếu. Thương phiếu giúp chủ sở hữu nó vàcác tác nhân trong nền kinh tế tài chính triển khai được tiềm năng doanh thu trong nền kinhtế thị trường, bằng cách thanh toán giao dịch mua và bán thương phiếu trên thị trường cấp 2. Hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam tiến hành thanh toán giao dịch trải qua các ngân hàngthương mại. Tỷ lệ doanh thu thanh toán giao dịch có sử dụng thương phiếu gồm thanh toánbằng L / C và nhờ thu chiếm đa số, trên 80 % doanh thu thanh toán giao dịch quốc tế ở hầuhết các ngân hàng nhà nước thương mại. Tuy nhiên thương phiếu còn chưa tăng trưởng rộngrãi trong thương mại trong nước mà mới chỉ sử dụng thoáng rộng trong thương mại quốctế vì vậy chủ thể tham gia thị trường thương phiếu trong hoạt động giải trí thương mại ởnước ta đa phần là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và ngân hàng nhà nước thương mại. Ở Nước Ta, thương phiếu ( hầu hết là hối phiếu ) được sử dụng làm phương tiệnthanh toán và tín dụng thanh toán quốc tế trong nghành nghề dịch vụ ngoại thương, nhiệm vụ kinh doanhthương phiếu của các ngân hàng nhà nước thương mại giúp các doanh nghiệp đẩy nhanh tốcđộ quay vòng vốn, nâng cao hiệu suất cao kinh doanh thương mại. 1.4 Kỳ phiếu ngân hàngỞ Nước Ta ngân hàng nhà nước Nhà nước đã có quy định phát hành kỳ phiếu ngân hàngngày 23/10/1999. Chúng thực ra là một công cụ vay nợ thời gian ngắn của ngânhàng thương mại để lôi cuốn vốn ship hàng kinh doanh thương mại thời gian ngắn của mình, vay19mang đặc thù dữ thế chủ động của. Hiện nay ở Nước Ta mệnh giá lớn tối thiểu là100 triệu đồng kỳ phiếu ngân hàng nhà nước. Chúng được mua và bán trên cơ sở tự nguyệntrong trường hợp thiết yếu thì mạng lưới hệ thống ngân hàng nhà nước Nhà nước bắt buộc phát hànhcho ngân hàng nhà nước thương mại để điều hành quản lý chủ trương tiền tệ vương quốc. Hiện nay, thị trường kỳ phiếu hầu hết do các ngân hàng nhà nước thương mại phát hành vàchủ yếu phát hành với thời hạn ngắn nhằm mục đích kêu gọi tiền gửi của dân cư, ítdùng trong thương mại. 2.2.1 Các công cụ của thị trường vốnCổ phiếuCác công ty CP và doanh nghiệp nhà nước ở Nước Ta có quyền phát hànhcổ phiếu theo pháp luật của luật công ty và luật doanh nghiệp Nhà nước ngày17 / 9/1994, chính phủ nước nhà phát hành quy định trong thời điểm tạm thời về phát hành CP, tráiphiếu. Sự non yếu trong thị trường vốn, sự thiếu vốn góp vốn đầu tư trong một số ít công tyvà cho các dự án Bất Động Sản lớn dẫn đến phải phát hành CP để tạo ra vốn cho sảnxuất kinh doanh thương mại, cho các dự án Bất Động Sản vương quốc. Hiện nay hoàn toàn có thể nói CP là loại trái khoán mạnh nhất trên thị trường các côngcụ tài chính. Không chỉ ngân hàng nhà nước, công ty sàn chứng khoán mà hầu hết các tổ chứcniêm yết, hàng loạt các công ty cổ phần lớn nhỏ đã không ngần ngại xem tăngvốn, phát hành CP như một kênh kêu gọi vốn thuận tiện … Hàng loạt ngânhàng thương mại CP như Ngân Hàng Á Châu, Sacombank, Đông Á, Ngân Hàng Eximbank, PhươngĐông … thi nhau tăng vốn hoặc phát hành thêm CP. Theo sau là các công tychứng khoán từ lớn đến nhỏ như SSI, SBS, BVSC, Đại Việt … và ít có doanhnghiệp nào chịu tăng vốn trải qua phát hành thêm CP ít hơn 100 tỷ. Năm 2011 là một năm đầy khó khăn vất vả của nền kinh tế tài chính. Đặc biệt sàn chứng khoán lao đaokhi đầu tư và chứng khoán tụt điểm liên tục với nhiều CP mà giá trị của nó rấtthấp. Điển hình như công ty CP nhựa Tân Hóa, mã VKP là CP đầu tiêncó giá dưới 1.000 đồng trong lịch sử vẻ vang kinh doanh thị trường chứng khoán Nước Ta. Chốt phiên2022 / 11/2011 CP này chỉ còn 700 đồng. Tuy đương đầu với nhiều khó khăn vất vả nhưngtrước áp lực đè nén cổ phần hóa của các doanh nghiệp Nhà nước và triển khai xong cỗ máy củacác doanh nghiệp thì thị trường kêu gọi vốn bằng CP vẩn diễn ra khá sôiđộng. Hầu hết các nghành của nền kinh tế tài chính như tài chính, ngân hàng nhà nước, dịch vụ tiêudùng đều có hoạt động giải trí trên thị trường vốn CP. Năm 2012, trong 6 tháng đầu năm đầu tư và chứng khoán kêu gọi được 84.000 tỷđồng nhưng vốn kêu gọi bằng CP giảm 50 % so với cùng kì năm 2011. QuýI / 2012 có đến 54 công ty lỗ, đặc biệt quan trọng sự kiện bầu Kiên bị bắt làm cho CP củangân hàng Á Châu ACB tục dốc thê thảm, tại sàn HNX CP của Ngân Hàng Á Châu giảmkịch sàn. Theo thống kê năm 2012 có 187 đợt phát hành CP trong đó khoảng30 % là phát hành có thu tiền, tổng số tiền thu về của các doanh nghiệp là 8.3 nghìntỷ đồng. Trong kế hoạch được thiết kế xây dựng cho năm nay, rất ít ngân hàng nhà nước bỏ sót việc phát hànhthêm CP để tăng vốn điều lệ, vốn tăng thêm đa phần được các ngân hàng nhà nước dànhcho cổ đông hiện hữu. Nhưng trong tình hình kinh doanh thị trường chứng khoán còn khó khăn vất vả, giá CP ngân hàng nhà nước khó hoàn toàn có thể được cải tổ sớm thì giá phát hành bằng mệnhgiá ( 10.000 đồng / CP ) củng khó làm hài lòng cổ đông hiện hữu. Trong khiviệc tìm kiếm đối tác chiến lược trong và ngoài nước để phát hành riêng không liên quan gì đến nhau lúc nàycủng không còn dễ như trước đây. 2.2 Trái phiếu2. 2.1 Trái phiếuChính phủTháng 3/1991 Bộ Tài chính quyết định hành động phát hành các loại tín phiếu và trái phiếukho bạc để kêu gọi vốn cho Ngân sách chi tiêu Nhà nước và cho góp vốn đầu tư tăng trưởng. Đâylà thời gian đánh giấu sự sinh ra của thị trường trái phiếu nhà nước. Tháng 10/2005 lần tiên phong trái phiếu nhà nước Nước Ta được phát hành ra thịtrường vốn quốc tế với 750 triệu USD trái phiếu đã được các nhà đầu tư mua hếtngay sau khi phát hành. Một hiệu quả khó hoàn toàn có thể khả quan hơn và đợt trái phiếu này21sẽ được mua và bán lại trên toàn bộ các thị trường thứ cấp lớn như Hongkong, Nước Singapore, London, New York .. liên tục đến năm năm nay. Hiện nay trái phiếu nhà nước có những đặc thù đa phần sau : mệnh giá tráiphiếu là 100.000 đồng và bội số của 100.000 đồng, Bộ Tài chính là chủ thể pháthành trái phiếu. Bộ Tài chính ủy quyền cho Kho bạc Nhà nước tổ chức triển khai phát hànhtrái phiếu theo lao lý, tín phiếu kho bạc có kỳ hạn là 13 tuần, 26 tuần và 52 tuầncòn trái phiếu kho bạc và công trái thiết kế xây dựng tổ quốc có kỳ hạn là 2 năm, 3 năm, 5 năm, 10 năm, 15 năm và 30 năm. Về giao dịch thanh toán lãi, gốc trái phiếu, so với tráiphiếu phát hành theo phương pháp đấu thầu và bảo lãnh phát hành, tiền lãi tráiphiếu được giao dịch thanh toán sau theo định kỳ 6 tháng một lần hoặc 12 tháng một lần kểtừ ngày phát hành trái phiếu, và tiền gốc trái phiếu được thanh toán giao dịch một lần vàongày trái phiếu đáo hạn, so với trái phiếu phát hành theo phương pháp đại lý pháthành và kinh doanh nhỏ trải qua mạng lưới hệ thống Kho bạc Nhà nước, tiền lãi và gốc trái phiếuđược thanh toán giao dịch định kỳ hoặc một lần khi đến hạn hoặc thanh toán giao dịch trước hạn. Năm 2012 được coi là năm dấu ấn của thị trường trái phiếu nhà nước : Không chỉgóp phần bình ổn thị trường tài chính, lan rộng ra quy mô và tăng thanh khoản chothị trường nợ mà thị trường trái phiếu đã góp thêm phần tương hỗ tích cực cho công táctrọng yếu là quản lý ngân sách nhà nước. Trong ba năm qua, Kho bạc Nhà nướcđã tổ chức triển khai đầu thầu thành công xuất sắc các loại trái phiếu nhà nước trên sàn HNX đạthơn 224,7 ngàn tỷ đồng thì chỉ riêng 9 tháng đầu năm 2012, nhà nước huy độngthành công đã được tổng số 147,458 ngàn tỷ đồng. Cơ cấu thị trường trái phiếuViệt Nam cho đến nay có tỷ suất trái phiếu chính phủ nước nhà lớn hơn 90 % tổng lượng tráiphiếu được phát hành. Theo thống kê của sở Giao dịch Chứng khoán Thành Phố Hà Nội, các ngân hàng nhà nước thương mạichiếm hơn 80 % lượng trái phiếu nhà nước trúng thầu trong quý I / 2013. Tổng huyđộng trái phiếu nhà nước qua kênh đấu thầu tại sở Giao dịch Chứng khoán HàNội trong quý I đạt gần 63.000 tỷ đồng, tăng hơn 11 Nghìn tỷ đồng so với cùng kỳ22năm ngoái. Các ngân hàng nhà nước thương mại trong nước chiếm tỷ trọng trúng thầu caonhất với 80,12 %, tiếp theo là các ngân hàng nhà nước quốc tế, tổ chức triển khai tài chính và mộtphần nhỏ công ty sàn chứng khoán. 2.2.2 Trái phiếu công tyCác doanh nghiệp hoàn toàn có thể tăng nguồn vốn từ vốn tự có, điều này chỉ hoàn toàn có thể tiếnhành so với doanh nghiệp làm ăn tốt, các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng nhà nước, coingân hàng là bà đỡ cho sự tăng trưởng của mình. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất ởđây là bản thân doanh nghiệp phải có dự án Bất Động Sản kinh tế tài chính khả thi, mặt khác ngân hàngphải đánh giá và thẩm định chắc như đinh so với người vay về gia tài tài chính, tình hình sảnxuất … và giám sát ngặt nghèo trước và sau khi cho vay. Một số doanh nghiệp đã cónhiều cách khác nhau để kêu gọi vốn như kêu gọi từ cán bộ công nhân viên, làm đại lý …. nhưng phương pháp đó gặp nhiều khó khăn vất vả. Trong khi đó pháthành trái phiếu là thiết yếu và đ â y là những sàn chứng khoán nợ ghi nhận mộtnghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng của doanh nghiệp so với người chiếm hữu trái phiếu. Hiện nay ở nước ta, nhà nước rất ưu tiên trong việc phát hành trái phiếu doanhnghiệp nên chỉ mất khoảng chừng 6 đến 8 tuấn doanh nghiệp hoàn toàn có thể hoàn tất hồ sơ pháthành. Phát hành trái phiếu được cho phép doanh nghiệp kêu gọi được lượng vốn lớn. Nếu doanh nghiệp có nhu yếu vốn trên 1000 tỷ đồng thì họ hoàn toàn có thể tiếp cận nguồnvốn từ phát hành trái phiếu thuận tiện hơn so với đi vay và phát hành CP. Năm 2008 chỉ có 2 đến 3 doanh nghiệp phát hành trái phiếu nhưng đến năm 2009 thì đã có 15 đợt doanh nghiệp phát hành trái phiếu, đặc biệt quan trọng Vincom đã phát hànhthành công trái phiếu chuyể đổi quốc tế có giá 1 tỷ đồng / 1 trái phiếu với tổng giátrị lên đến 100 triệu USD trên thị trường Nước Singapore. Tổng kết năm 2009 thị trườngtrái phiếu Nước Ta đã có tổng các thanh toán giao dịch lên đến gần 20.000 tỷ đồng. Năm2010 trái phiếu doanh nghiệp chỉ chiếm 10 % cơ cấu tổ chức. Năm 2012 quy mô thị trườngtrái phiếu Nước Ta chiếm 21,6 % GDP trong đó thị trường trái phiếu doanhnghiệp trong nước hiện còn rất nhỏ, chiếm 5,56 % GDP, tập trung chuyên sâu vào một số23doanh nghiệp lớn, hầu hết là doanh nghiệp Nhà nước. Ngoài ra lúc bấy giờ thịtrường trái phiếu doanh nghiệp còn thiếu nhiều yếu tố quan trọng trong hệ thốngcơ sở hạ tầng. III.Đánh giá tình hình các công cụ của thị trường tài chính Việt Nam1. Thuận lợiQua nhiều năm hình thành và tăng trưởng thị trường các công cụ thị trường tài chínhViệt Nam đã có những bước tăng trưởng nhất định. Đầu tiên, nền kinh tế tài chính nói chung và thị trường tài chính nói riêng của Nước Ta đãcó những bước tăng trưởng đáng kể, vận tốc tăng trưởng kinh tế tài chính luôn giữ ở mức caovà không thay đổi. Tiếp theo phải kể đến đó là đường lối chủ trương của Đảng và nhà nước. Sau khithị trường chứng khoán Nước Ta được xây dựng thì việc đưa các công cụ lên sànGiao dịch được cho phép mua và bán trên thị trường thứ cấp là một bước đi cực kỳ quantrọng, cạnh bên đó là luôn tạo điều kiện kèm theo thuận tiện cho thị trường tài chính củng nhưcác công cụ tăng trưởng. Các giải pháp nhà nước đưa ra đã có công dụng và tạo đượcsự dữ thế chủ động hơn trong ứng phó với những khó khăn vất vả. Bản thân thị trường tài chính Nước Ta qua các thời kỳ khó khăn vất vả cũng đã có điềuchỉnh khá mạnh. Chính kiểm soát và điều chỉnh như vậy, trước ảnh hưởng tác động quốc tế, khả năngchống đỡ sẽ tốt hơn với khó khăn vất vả. Các yếu tố lạm phát kinh tế, nhập siêu, dự trữ ngoại tệ … đã có những tín hiệu tích cực. Các doanh nghiệp Nước Ta cũng đã dữ thế chủ động tái cấu trúc và tăng cường quản trị, khai thác thời cơ giảm ngân sách thiết yếu, lan rộng ra mặt phẳng kinh doanh thương mại, chớp lấy và24xử lý sớm thông tin, phản ứng nhạy bén và tiếp cận với các nguồn vốn, nguồncung cấp thiết bị, máy móc. Đồng thời tham gia ngày càng ngặt nghèo, hiệu suất cao vàoquá trình tái cấu trúc nền kinh tế tài chính. Việc Nước Ta hội nhập quốc tế giúp cho việc đưa các sàn chứng khoán ra thị trườngnước ngoài, đây là thị trường lớn có nhiều thuận tiện cho việc tăng trưởng. Năm 2013 sẽ hứa hẹn nhiều thời cơ mới cho thị trường các công cụ tài chính. 2. Khó khănNền kinh tế tài chính nước ta những năm gần đây do tác động ảnh hưởng của tình hình kinh tế tài chính thếgiới đang thực sự khó khăn vất vả, những rủi ro tiềm ẩn không ổn định như dịch chuyển tỷ giá, lãi suất vay, lạm phát kinh tế, thâm hụt … ảnh hưởng tác động đến tình hình sản xuất kinh doanh thương mại của doanhnghiệp. Chỉ riêng 6 tháng đầu năm 2012 đã có 49000 doanh nghiệp phá sản và chờphá sản. Trong thời hạn qua củng có rất nhiều giải pháp đưa ra tuy nhiên hầu hết chỉ dừnglại ở mức yêu cầu, việc chậm tiến hành đã gây tác động ảnh hưởng đến thị trường và các nhàđầu tư. Sự phối hợp giữa các ngành tài chính-ngân hàng để hổ trợ chưa được nhưmong đợi. Việc được cho phép sinh ra quá nhiều công ty sàn chứng khoán, công ty quản trị quỹ tronglúc đầu tư và chứng khoán Nước Ta còn nhỏ bé dẫn đến thực trạng vi phạmnguyên tắc nhiệm vụ, đạo đức nghề nghiệp. Thị trường tài chính nói chung và kinh doanh thị trường chứng khoán nói riêng rất là nhạycảm và là thị trường của niềm tin nhưng mà do thông tin một chiều làm tâm ý nhàđầu tư sợ hãi, làm thị trường khó khăn vất vả hơn. 25