100 CÂU HỎI THƯỜNG GẶP VỀ TĂNG HUYẾT ÁP
1. Hỏi:Hai thông số hiển thị trên huyết áp là gì?
Trả lời:
– Số trên (huyết áp tâm thu): Là chỉ số huyết áp cao nhất khi tim co bóp.
Bạn đang đọc: 100 CÂU HỎI THƯỜNG GẶP VỀ TĂNG HUYẾT ÁP
– Số dưới ( huyết áp tâm trương ) : Là chỉ số huyết áp thấp nhất khi tim nghỉ ngơi .
2. Hỏi:Huyết áp như thế nào là bình thường?
Trả lời:
– Huyết áp thông thường : dưới 120 / 80 mmHg
– Tiền THA : 120 – 139 / 80-89 mmHg
– THA : lớn hơn 140 / 90 mmHg
3. Hỏi:Nguyên nhân chính gây tăng huyết áp (THA)?
Trả lời:
Phần lớn THA ở người trưởng thành là không rõ nguyên do ( THA nguyên phát ) ; những trường hợp này chỉ có yếu tố rủi ro tiềm ẩn ( YTNC ) gây nên THA. Chỉ có khoảng chừng 5 % những trường hợp là có nguyên do ( THA thứ phát ). Các trường hợp THA là có nguyên do là :
– Bệnh thận cấp hoặc mạn tính : viêm cầu thận cấp / mạn, viêm thận kẽ, sỏi thận, thận đa nang, thận ứ nước, suy thận .
– Hẹp động mạch thận .
– U tủy thượng thận ( Pheocromocytome ) .
– Cường Aldosterone tiên phát ( Hội chứng Conn ) .
– Hội chứng Cushing’s .
– Bệnh lý tuyến giáp / cận giáp, tuyến yên .
– Do thuốc, tương quan đến thuốc ( kháng viêm non-steroid, thuốc tránh thai, corticoid, cam thảo, hoạt chất giống giao cảm trong thuốc cảm / thuốc nhỏ mũi ) .
– Hẹp eo động mạch chủ .
– Bệnh Takayasu .
– Nhiễm độc thai nghén .
– Ngừng thở khi ngủ .
– Yếu tố tâm thần …
4. Hỏi:Yếu tố nguy cơ (YTNC) gây nên THA là gì?
Trả lời:YTNC gây nên THA gồm:
4.1. Các YTNC can thiệp được :
– THA ( là YTNC của ĐTĐ ) .
– ĐTĐ ( là YTNC của THA ) .
– Rối loạn Lipid máu .
– Có Microalbumin niệu hoặc mức lọc cầu thận ước tính < 60 ml / ph .
- Thừa cân / béo phì ; béo bụng .
- Hút thuốc lá, thuốc lào, uống nhiều rượu, bia .
- Ít hoạt động giải trí thể lực .
- Stress và stress tâm ý .
- Chế độ ăn quá nhiều muối ( yếu tố rủi ro tiềm ẩn so với THA ), ít rau quả .
4.2. Các YTNC không can thiệp được :
- Tuổi cao .
- Trong mái ấm gia đình có người mắc THA / ĐTĐ ( cha mẹ, anh chị em ruột, con đẻ ) .
5. Hỏi: Triệu chứng của THA là gì?
Trả lời:Đau ngực, hoa mắt, chóng mặt, ù tai; nếu cơn THA thì đau đầu dữ dội, choáng váng, đo huyết áp thấy cao hơn bình thường.
6. Hỏi:Các xét nghiệm cần làm để chẩn đoán THA là gì?
Trả lời:Các xét nghiệm cần làm để chẩn đoán THA là:
– Hemoglobin và / hoặc hematocrit, Glucose máu khi đói ;
– Li pít máu hay 4 chỉ số mỡ máu : cholesterol toàn phần, triglycerides, LDL-C, HDL-C ;
– Điện giải máu ( Na +, K + ), axit uric, creatinine máu ; SGOT / SGPT ;
– Tổng nghiên cứu và phân tích nước tiểu và tìm protein niệu ;
– Điện tâm đồ .
7. Hỏi: Cách phân độ THA hiện nay như thế nào?
Trả lời:Phân độ THA theo Bộ Y tế hiện nay như sau
|
Phân độ huyết áp |
HA tâm thu (mmHg) |
và/hoặc |
HA tâm trương (mmHg) |
| HA tối ưu | < 120 | và | < 80 |
| HA thông thường | 120 – 129 | và / hoặc | 80 – 84 |
| HA thông thường cao | 130 – 139 | và / hoặc | 85 – 89 |
| THA độ 1 | 140 – 159 | và / hoặc | 90 – 99 |
| THA độ 2 | 160 – 179 | và / hoặc | 100 – 109 |
| THA độ 3 | ≥ 180 | và / hoặc | ≥ 110 |
8. Hỏi:Nguy cơ tim mạch tổng thể là gì?
Trả lời:Nguy cơ tim mạch tổng thể làphản ánh nguy cơ xuất hiện các biến cố tim mạch trong một khoảng thời gian nhất định, thường được tính trong 10 năm.
Nguy cơ tim mạch được phân loại thành những mức
“Thấp”: nguy cơ tử vong 10 năm < 1%
“Trung bình”: nguy cơ tử vong 10 năm 1-5%
“Cao”: nguy cơ tử vong 10 năm 5- <10%
“Rất cao”: nguy cơ tử vong 10 năm ≥ 10%
9. Hỏi:Phân tầng nguy cơ tim mạch rất cao cho người THA là gì?
Trả lời:Nguy cơ rất cao khi có 1 trong các yếu tố sau:
– Đã có bệnh / biến cố tim mạch như : bệnh động mạch ( ĐM ) vành, ĐM não, ĐM chủ, ĐM ngoại vi ;
– Có ĐTĐ kèm tổn thương cơ quan đích ( như protein niệu ) hay có kèm một yếu tố nguy cơ tim mạch chính ( THA độ III hay cholesterol toàn phần máu ≥ 8 mmol / L ;
– Suy thận nặng mức lọc cầu thận ( MLCT ) < 30 ml / phút ;
- Nguy cơ tim mạch tổng thể và toàn diện 10 năm theo thang điểm SCORE > 10 %
BIỂU ĐỒ ƯỚC TÍNH NGUY CƠ TIM MẠCH TỔNG THỂ
Nguy cơ tim mạch toàn diện và tổng thể ( gọi tắt là nguy cơ tim mạch ) phản ánh rủi ro tiềm ẩn Open những biến cố tim mạch trong một khoảng chừng thời hạn nhất định, thường được tính trong 10 năm .
Nguy cơ tim mạch được phân loại thành những mức
“Thấp” (nguy cơ tử vong 10 năm < 1%),
“Trung bình” (nguy cơ tử vong 10 năm 1-5%) ,
“Cao” (nguy cơ tử vong 10 năm 5- <10%)
“Rất cao” nguy cơ tử vong 10 năm ≥ 10%
10. Hỏi:Phân tầng nguy cơ tim mạch cao cho người THA là gì?
Trả lời: Nguy cơ cao khi có 1 trong các yếu tố sau:
– Tăng rõ 1 trong những yếu tố nguy cơ tim mạch : THA ≥ 180 / 110 mmHg, rối loạn
Li pít máu : cholesterol toàn phần ≥ 8 mmol / L ;
– Có ĐTĐ chưa có tổn thương cơ quan đích ;
– THA đã có dày thất trái ;
– Suy thận vừa, MLCT từ 30-59 ml / phút ;
– Nguy cơ tim mạch toàn diện và tổng thể 10 năm theo thang điểm SCORE từ 5-10 % .
11. Hỏi: Khi nào bệnh nhân THA thì chuyển từ Trạm Y tế lên tuyến trên?
Trả lời:THA chuyển từ Trạm Y tế lên tuyến trên trong các trường hợp sau:
– THA ở người trẻ 40 tuổi .
– THA ở phụ nữ có thai hoặc nghi THA thứ phát .
– THA có nhiều bệnh nặng phối hợp, như suy tim, hen phế quản / COPD *. v.v. .
– THA đang quản trị điều trị có diễn biến không bình thường, không đạt HA tiềm năng dù đã điều trị đủ ≥ 3 thuốc, với tối thiểu 1 lợi tiểu hoặc không dung nạp với thuốc .
– THA hoài nghi hoặc đã có biến chứng nặng ( như tai biến mạch máu não, suy tim, bệnh mạch vành, phình tách động mạch chủ, suy thận, tiền sản giật … ) ;
– Khi cần làm xét nghiệm cho lần tiên phong mới phát hiện THA hoặc khám định kỳ 6-12 tháng ( nếu TYT chưa làm được những xét nghiệm cơ bản ) .
12. Hỏi: Những trường hợp nào thì chuyển từtuyến trên về TYT?
Trả lời:Những trường hợp thì chuyển từ tuyến trên về TYT là:
– Những bệnh nhân chuyển lên để làm xét nghiệm lần đầu hoặc theo định kỳ mà không thấy không bình thường .
– THA đã được trấn áp không thay đổi ở tuyến trên với một phác đồ hiệu suất cao, đạt tiềm năng điều trị THA, trên cơ sở phải có sẵn những thuốc THA tại TYT .
13. Hỏi: Nguyên tắc điều trị THA là gì?
Trả lời:Nguyên tắc điều trị THA là:
– Cần điều trị đúng và đủ hàng ngày, điều trị vĩnh viễn .
– Dùng thuốc tích hợp với điều trị YTNC .
– Chỉnh liều thuốc theo YTNC .
14. Hỏi: Mục tiêu điều trị THA là gì?
Trả lời: Mục tiêu điều trị THA nhằm ngăn ngừa hoặc làm chậm tiến triển các biến chứng của THA trên cơ quan đích: nghĩa là cần đạt “HA mục tiêu” và giảm tối đa “nguy cơ tổn thương cơ quan đích”
Cụ thể tiềm năng phải đưa huyết áp về đạt huyết áp tiềm năng như sau :
+ HA tâm thu từ 120 đến <130 mmHg (người <65 tuổi) và từ 130 đến< 140 mmHg (người ≥65 tuổi), có thể thấp hơn nếu dung nạp được.
+ HA tâm trương cần đạt từ 70 đến <80 mmHg.
15. Hỏi: Huyết áp mục tiêu là gì?
Trả lời:Huyết áp mục tiêu là mức huyết áp mà mỗi cá nhân nên hướng tới để có được lợi ích tốt nhất cho sức khỏe.
Chỉ số huyết áp 120/80mmHg hoặc thấp hơn được xem là huyết áp mục tiêu lý tưởng ở một người bình thường.
16. Hỏi: Để đạt huyết áp mục tiêu thì người bệnh cần phải làm gì?
Trả lời:Để đạt huyết áp mục tiêu thì người bệnh cần
Điều trị tốt yếu tố rủi ro tiềm ẩn của THA .
Uống thuốc đều theo chỉ định của bác sĩ .
17. Hỏi:Xử trí cơn THA ở nhà như thế nào?
Trả lời:Khi HA ≥200/120 mmHg hoặc ≥180/110 mmHg nhưng có các biểu hiện như đau thắt ngực, đau đầu dữ dội, thở nhanh và nông, nhìn mờ, đi tiểu giảm, buồn nôn và nôn, lơ mơ, co giật, có dấu hiệu thần kinh khu trú hoặc dấu hiệu suy tim. Thì cần phải:
– Nằm nghỉ đầu thấp, gọi ngay Trạm Y tế hoặc cấp cứu 115 .
– Không tự luân chuyển đến TYT hoặc bệnh viện
– Không tự cho uống thuốc THA ( trừ Trạm Y tế có điện thoại cảm ứng chỉ định dùng )
18. Hỏi: Thay đổi lối sống để điều trị THA là phải làm gì?
Trả lời:Thay đổi lối sống để điều trị THA là:
– Chế độ ăn hài hòa và hợp lý :
+ Thực hành giảm mối ăn
+ Đảm bảo đủ kali và những yếu tố vi lượng ;
+ Tăng cường rau xanh, quả tươi nhiều mầu sắc, ưu tiên những loại hạt thô, dầu thực vật ;
+ Hạn chế thức ăn nhiều cholesterol và axít béo no ; cân đối dầu thực vật và mỡ động vật hoang dã ;
+ Hạn chế thức ăn chế biến sẵn, đồ uống ngọt có gas .
– Duy trì cân nặng lý tưởng : BMI 18,5 đến 22,9 kg / mét vuông ; vòng bụng < 90 cm ( nam ) và < 80 cm ( nữ ) ;
- Ngừng trọn vẹn việc hút thuốc lá hoặc thuốc lào kể cả những dạng khác như hút thuốc lá điện tử, nhai, ăn … cũng như tránh xa môi trường tự nhiên có khói thuốc ;
- Tăng cường hoạt động giải trí thể lực : ≥ 150 phút / tuần ( tối thiểu là ở mức độ vừa phải, 30-60 phút / ngày, tích hợp những bài tập cơ tĩnh và động ) ;
- Tránh lo âu, căng thẳng mệt mỏi ; cần có thời hạn thư giãn giải trí, nghỉ ngơi hài hòa và hợp lý, tránh bị lạnh bất thần .
19. Hỏi: Đơn vị cồn là gì?
Trả lời: Đơn vị cồn = Dung tích (ml) x (Nồng độ (%) x Khối lượng riêng)

20. Hỏi: Hạn chế uống bia là uống thế nào?
Trả lời:Hạn chế uống rượu bia là
Uống bia ≤ 2 cốc / ngày ( nam ) hoặc ≤ 1 cốc / ngày ( nữ ) và tổng phải ≤ 10 cốc / tuần ( nam ) hoặc ≤ 5 cốc / tuần
21. Hỏi: Nguyên lý y học gia đình (NLYHGĐ) trong phòng chống THA, ĐTĐ là gì?
Trả lời: NLYHGĐ là chăm sóc toàn diện, lấy bệnh nhân làm trung tâm, hướng tới dự phòng cho cộng đồng, với 6 nguyên tắc chăm sóc là: liên tục – toàn diện – phối hợp – hướng dự phòng -hướng gia đình – hướng cộng đồng.
22. Hỏi:Phòng chống THA, ĐTĐ theo NLYHGĐ là gì?
Trả lời: Phòng chống THA, ĐTĐ theo NLYHGĐ là gồm các công việc tư vấn, truyền thông, khám sàng lọc, chẩn đoán, chăm sóc, điều trị, theo dõi thường xuyên, liên tục người bệnh ĐTĐ, THA trên địa bàn quản lý kể từ khi phát hiện bệnh.
23. Hỏi:Mục đích, nội dung phòng chống ĐTĐ, THA theo NLYHGĐ là gì?
Trả lời:
– Truyền thông phòng chống những YTNC để giảm người mắc THA, ĐTĐ .
– Khám sàng lọc tiếp tục liên tục để phát hiện sớm người mắc THA, ĐTĐ .
– Theo dõi diễn biến bệnh của từng bệnh nhân qua khám định kỳ hoặc thăm mái ấm gia đình để giải quyết và xử lý kịp thời phát hiện những biến chứng nếu có .
– Giúp người bệnh liên tục tuân thủ điều trị : chính sách nhà hàng siêu thị rèn luyện, dùng thuốc và vô hiệu những yếu tố rủi ro tiềm ẩn .
– Nâng cao chất lượng đời sống về sức khỏe thể chất và niềm tin cho người bệnh .
24. Hỏi:Vai trò, trách nhiệm của người bệnh trong NLYHGĐ là gì?
Trả lời: Tuân thủ các hướng dẫn phòng chống bệnh của nhân viên y tế về chế độ ăn uống, luyện tập và dùng thuốc.
– Tham gia những buổi truyền thông online, hội thi về phòng chống bệnh THA, ĐTĐ do xã tổ chức triển khai .
– Quyết tâm từ bỏ nhanh những YTNC hoàn toàn có thể khắc phục được .
– Rủ, nhắc người cùng mắc bệnh đi khám bệnh theo lịch hẹn .
– Khuyên thành viên trong mái ấm gia đình, hàng xóm đi khám bệnh để phát hiện THA .
– Lưu giữ thật tốt những loại hồ sơ, sổ y bạ sau mỗi lần đi khám bệnh .
– Biết cách tự đo huyết áp, nhìn nhận tác dụng đo huyết áp .
– Biết cách tự đo làm xét nghiệm ĐHMM, nhìn nhận hiệu quả đường huyết .
– Nắm được ý nghĩa và số lượng giới hạn thông thường của xét nghiệm máu, nước tiểu .
25. Hỏi:Cá thể hoá điều trị THA là gì?
Trả lời:Cá thể hoá điều trị THA làđánh giá toàn diện HA, hiệu quả/giá thành và khả năng tuân thủ điều trị.
26. Hỏi:Biến chứng của THA là gì?
Trả lời:THA sẽ gây nên các biến chứng là:
– Đột quị : Tai biến mạch máu não ( xuất huyết não, nhũn não ) .
– Thiếu máu não thoáng qua, sa sút trí tuệ .
– Hẹp động mạch cảnh .
– Phì đại thất trái ( trên điện tâm đồ hay siêu âm tim ), suy tim .
– Nhồi máu cơ tim, cơn đau thắt ngực .
– Bệnh mạch máu ngoại vi .
– Xuất huyết hoặc xuất tiết võng mạc, phù gai thị .
– Protit niệu, tăng creatinin huyết thanh, suy thận .
27. Hỏi:THA cấp cứu và THA khẩn trương là gì?
Trả lời:
Nếu câu vấn đáp là CÓ, bệnh nhân có THA cấp cứu và cần hạ áp khẩn cấp. Nếu câu vấn đáp là KHÔNG, bệnh nhân không có THA cấp cứu và chỉ cần hạ áp từ từ .
28. Hỏi: Lợi ích của hoạt động thể lực là gì?
Trả lời:Lợi ích của hoạt động thể lực là:
· Giảm Glucosemáu do tăng sử dụng Glucosevà tăng nhạy cảm Insulin .
· Giảm cân và duy trì cân nặng .
· Giảm huyết áp .
· Giảm rối loạn Lipidmáu .
· Cải thiện hoạt động giải trí tim mạch .
· Tập luyện đều đặn là tăng sức mạnh, độ dẻo dai và sự linh động của khung hình .
· Giảm stress, giúp duy trì và cải tổ chất lượng đời sống .
29. Hỏi: Ước tính số người THA của tỉnh Bắc Kạn là bao nhiêu?
Trả lời: Theo kết quả điều tra quốc gia về một số bệnh không lây nhiễm năm 2015 ở nhóm tuổi từ 18 đến 69 cho thấy tỷ lệ hiện mắc THA là 18,9%. Như vậy với 01 xã có 3.000 dân thì:
Số người THA là : 18,9 % x 70 % dân số từ 18 tuổi = 18,9 % x 2.100 = 396 người .
Với 300.000 dân tỉnh Bắc Kạn ( làm tròn ) thì :
Số người THA là : 18,9 % x70 % dân số từ 18 tuổi = 18,9 % x210. 000 = 39.600 người
30. Hỏi: Con số THA tại tỉnh Bắc Kạn chưa được phát hiện là bao nhiêu?
Trả lời: Theo báo cáo từ các huyện, thành phố, số người mắc THA, ĐTĐ đang được quản lý của tỉnh Bắc Kạn đến tháng 12/2020 thì số mắc THA là 16.931 người; số mắc ĐTĐ là 2.728 người.
Như vậy ước số người mắc THA, ĐTĐ của tỉnh Bắc Kạn đến nay chưa được phát hiện là :
Số THA chưa được phát hiện : 39.600 – 16.931 = 22.669 người .
31. Hỏi: Vì sao khi mắc ĐTĐ mà mắc thêm bệnh THA thì càng nguy hiểm?
Trả lời:THA gây cản trở luồng máu lưu thông đến thận, gây suy thận, THA làm nặng thêm các biến chứng của ĐTĐ, khi bệnh ĐTĐ gây tổn thương động mạch vành và động mạch não thì THA sẽ làm cho bệnh nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não nặng hơn.
Bởi vì THA làm tăng áp lực đè nén lên thành động mạch vành và thành động mạch não, vốn nó đã bị tổn thương do THA và đường máu rồi. Chỉ cần một cơn THA nhẹ thì động mạch sẽ bị vỡ hoặc tắc hoặc bán tắc, khi bán tắc cục máu đông vận động và di chuyển đến chỗ không chuyển dời được nữa thì gây tắc mạch trọn vẹn .
32. Hỏi:Tôi đã được chẩn đoán là đau thắt ngực ổn định? Bệnh này có chữa được không? Chữa như thế nào?
Trả lời: Các biện pháp điều trị đau thắt ngực ổn định bao gồm: điều trị bằng thuốc, can thiệp động mạch vành, và phẫu thuật.
Đau thắt ngực không thay đổi là một bộc lộ của bệnh mạch vành. Để trấn áp tốt bệnh mạch vành, bạn phải được theo dõi định kỳ bởi thầy thuốc chuyên khoa và uống thuốc liên tục. Các thuốc dùng để điều trị đau thắt ngực không thay đổi thường gồm có : nitroglycerin, thuốc chống ngưng tập tiểu cầu ( aspirin, clopidogrel ), thuốc giảm mỡ máu, thuốc chẹn beta giao cảm, thuốc ức chế men chuyển hoặc 1 số ít thuốc tim mạch khác. Hãy đi khám bác sỹ đều đặn, bác sỹ sẽ cho bạn đơn thuốc tương thích và được tư vấn cho bạn chính sách dinh dưỡng và tập luyện thích hợp .
Can thiệp động mạch vành là thủ pháp mở thông nhánh động mạch vành bị hẹp. Nhờ một ống thông đưa vào lòng mạch qua da, thầy thuốc sẽ dùng một quả bóng nong rộng mạch vành, và đặt vào đó một giá đỡ sắt kẽm kim loại ( stent ) để giúp mạch vành không bị hẹp lại. Qua đó tăng cường lượng máu phân phối cho cơ tim và cải tổ những triệu chứng của người bệnh .
Mổ Ruột là giải pháp tạo một cầu nối vượt qua chỗ mạch vành bị hẹp, nhờ đó cải tổ dòng máu giàu oxy đi đến cơ tim .
Cần nhớ là ngay cả khi đã được can thiệp mạch vành hay phẫu thuật thì bạn vẫn phải liên tục uống thuốc định kỳ, đều đặn. Ngừng thuốc hoàn toàn có thể dẫn đến những hậu quả nghiệm trọng và rình rập đe dọa tính mạng con người .
33. Hỏi:Động mạch vành là gì? Chức năng của nó ra sao?
Trả lời:Động mạch vành là hệ thống mạch máu có chức năng nuôi dưỡng quả tim. Tuần hoàn động mạch vành là tuần hoàn dinh dưỡng tim. Mỗi quả tim của chúng ta có hai động mạch vành: động mạch vành phải và động mạch vành trái, các động mạch vành này xuất phát từ gốc động mạch chủ qua các trung gian là các xoang Valsalva và chạy trên bề mặt quả tim. Động mạch vành trái chạy một đoạn ngắn (1 – 3cm) sau đó chia thành 2 nhánh lớn là động mạch liên thất trước và động mach mũ, đoạn ngắn đó được gọi là thân chung động mạch vành. Như vậy, hệ thống động mạch vành có ba nhánh lớn làm nhiệm vụ nuôi dưỡng tim là: động mạch liên thất trước, động mạch mũ và động mạch vành phải. Từ ba nhánh lớn này cho ra rất nhiều các nhánh động mạch nhỏ hơn như các nhánh vách, nhánh chéo, nhánh bờ… sẽ có nhiệm vụ mang máu giàu oxy từ động mạch chủ đi nuôi dưỡng tất cả các cấu trúc trong quả tim. Khi bị bệnh lý động mạch vành, dòng máu từ động mạch vành tới cơ tim giảm sút, khi đó cơ tim không nhận đủ oxy và xuất hiện triệu chứng cơn đau thắt ngực.
34. Hỏi:Đang khoẻ mạnh thì không cần quan tâm đến huyết áp?
Trả lời:THA có đặc tính là không gây ra dấu hiệu hay triệu chứng gì. Nếu chỉ căn cứ vào cảm giác khoẻ mạnh để coi là mình có huyết áp bình thường là không đúng. Cách duy nhất để biết có THA hay không là kiểm tra huyết áp. Nhiều nước công nghiệp tỷ lệ THA chiếm đến gần một phần ba dân số, ở Mỹ ít nhất có 65 triệu người bị THA.
35. Hỏi:Có phải chỉ những người cao tuổi mới lo bị THA?
Trả lời:Mặc dù người có tuổi có nguy cơ bị THA lớn hơn nhưng họ không phải là đối tượng duy nhất; cả trẻ em cũng có thể bị THA.
Đừng cho rằng còn trẻ thì không cần chăm sóc kiểm tra định kỳ huyết áp hay cần phải đổi khác lối sống như bỏ hút thuốc lá hay duy trì cân nặng lành mạnh. Bất cứ ai cũng hoàn toàn có thể bị THA .
36. Hỏi:Khi bị THA mà chả có triệu chứng gì mà không điều trị thì có sao không?
Trả lời:Huyết áp cao khiến thành động mạch phải chịu áp lực quá tải, nhiều cơ quan quan trọng bị tổn thương.
THA càng để lâu thì tổn thương càng lớn, biến chứng càng nghiêm trọng, thậm chí còn là nguy khốn tới tính mạng con người người bệnh .
Nên liên tục đo và trấn áp huyết áp của mình bởi huyết áp là nguyên do chính gây suy thận, bệnh mạch vành, suy tim, nhồi máu cơ tim, đột quỵ, …
37. Hỏi:Môn thể thao nào phù hợp cho người THA?
Trả lời:Người mắc THA nên tập thể dục 30 phút/ngày và tập đều đặn trong tuần. Môn thể thao phù hợp nhất cho người bệnh THA là đi bộ nhẹ nhàng; ngoài ra người THA cũng có thể tập các môn như: chạy chậm, đạp xe, bơi lội, khiêu vũ, tập thiền, yoga, …. Vận động cơ thể thường xuyên, đều đặn sẽ giúp khí huyết lưu thông, huyết áp ổn định.
Người THA không nên tập những môn thể thao nặng và tốn sức như : cử tạ, leo núi, bóng đá, quyền anh, đánh tennis, … sẽ gây tốn sức và tăng gánh nặng cho tim .
38. Hỏi: Có thể ngưng thuốc khi có tác dụng phụ hoặc huyết áp đã ổn định?
Trả lời:THA là bệnh có diễn biến âm thầm, ít có biểu hiện lâm sàng, do vậy nhiều người bệnh chủ quan theo dõi và điều trị đến khi xảy ra những biến chứng nặng nề thì đã muộn và lúc đó họ mới thấy vai trò vô cùng quan trọng của việc điều trị đúng và đủ.
Nguyên tắc điều trị quan trọng nhất là điều trị lâu dài hơn. Đa số người bệnh đều cảm thấy quan ngại trước những tính năng phụ của thuốc khi dùng lâu dài hơn hoặc cảm thấy dùng thuốc hàng ngày là một việc phiền phức. Nhưng nếu ngưng sử dụng thuốc thì bệnh THA nhất định sẽ tái phát trở lại .
Tuy nhiên bạn hoàn toàn có thể chuyển từ sử dụng thuốc tây sang sử dụng những mẫu sản phẩm có nguồn gốc từ thảo dược tự nhiên. Tuy nhiên công dụng đến từ thảo dược sẽ từ từ nên bạn không được phép dừng thuốc tây dược mà nên tìm hiểu thêm quan điểm của chuyên viên .
39. Hỏi:Ăn nhạt ít muối là như thế nào?
Trả lời:Ăn ít muối là một phần quan trọng để kiểm soát huyết áp. Mỗi người cần ăn dưới 2,4 gam muối/ngày, tương đương với một nửa thìa cà phê. Lượng muối như vậy là cho cả ngày, không phải là lượng ăn thêm trong bữa ăn. Đồ hộp dùng cho bữa ăn và các thực phẩm chế biến khác thường có nhiều muối. Cho nên nếu đọc nhãn thực phẩm để biết lượng muối, bạn sẽ ngạc nhiên là mình đã ăn quá quy định.
40. Hỏi:THA chỉ xảy ra ở những người luôn phải sống căng thẳng và có nhiều stress?
Trả lời:
Ai cũng hoàn toàn có thể bị THA dù tính cách như thế nào, nếu bạn có đời sống luôn phải tranh chấp, căng thẳng mệt mỏi và lo ngại thì bạn sẽ có rủi ro tiềm ẩn bị THA .
Kiểm soát stress vẫn là một yếu tố quan trọng vì những thực trạng có nhiều stress hoàn toàn có thể làm THAtạm thời ; theo thời hạn những stress liên tục xảy ra hay đi kèm với THAmà điều trị không đúng thì sẽ tăng rủi ro tiềm ẩn gây tổn thương những động mạch, cho tim, não, thận và mắt .
41. Hỏi:Nếu là người trưởng thành và không có tiền sử THA, định kỳ bao lâu cần được kiểm tra huyết áp?
Trả lời:Nếu huyết áp bình thường, dưới 120/80 mmHg thì cần được kiểm tra huyết áp ít nhất 2 năm 1 lần hoặc nên đi khám sức khỏe định kỳ. Nếu có tiền sử THA hay nếu có bệnh nào đó như ĐTĐ, bệnh tim, bệnh thận thì cần được kiểm tra thường xuyên hơn.
42. Hỏi:Nếu huyết áp luôn tốt khi đo ở nhà nhưng lại luôn cao khi đo tại phòng khám hay bệnh viện thì có đáng lo không?
Trả lời:
Có thể do hội chứng áo choàng trắng, tức THA trong thời điểm tạm thời mỗi khi gặp bác sĩ vì cứ gặp Bác sỹ lại có tâm trạng lo ngại. Bác sĩ sẽ giúp xác lập đó là THA chỉ xảy ra khi đi khám bệnh hay có bệnh THA thực sự. Tuy huyết áp vẫn thông thường khi đo ở nhà nhưng vẫn nên kiểm tra liên tục hơn và vẫn nên theo chính sách trấn áp huyết áp như đổi khác chính sách ăn, bỏ thuốc lá, hạn chế rượu, thực hành thực tế hoạt động và giảm stress .
43. Hỏi:Muốn giảm huyết áp, loại chế độ ăn nào tốt nhất?
Trả lời:Chế độ ăn có nhiều rau quả cũng như những sản phẩm sữa ít mỡ có thể giúp giảm huyết áp nhưng phải thực hành chế độ ăn này trong 2 tuần mới có tác dụng. Người ta nghiên cứu một chế độ ăn gọi là DASH(Dietary Approches to Stop Hypertension) đểngăn ngừa THA, gồm thức ăn ít mỡ và cholesterol; sản phẩm làm từ hạt toàn phần, cá, gia cầm và giảm thịt có màu đỏ, kẹo và đồ uống ngọt.
44. Hỏi:Để giảm huyết áp, cần vận động thân thể ít nhất một giờ mỗi ngày?
Trả lời:Ít nhất 30 phút tập thể dục vừa phải hàng ngày hay 5 ngày mỗi tuần có thể giúp phòng hoặc kiểm soát THA. Nếu quá bận thì chia làm nhiều lần mỗi lần 10 phút. Hoặc lao động ở vườn nhà hoặc không đi làm bằng xe o tô, xe máy mà đi làm sớm bằng đi bộ.
45. Hỏi:Tổn thương các cơ quan đích của bệnh THA là gì?
Trả lời: Tổn thương các cơ quan đích có thể gặp trong THA bao gồm: Tim (cấp tính: phù phổi cấp, nhồi máu cơ tim cấp; Mạn tính: dày thất trái, suy vành mạn, suy tim…); Mạch não (cấp tính: tai biến mạch não, bệnh não do THA…; mạn tính: tai biến mạch não, tai biến mạch não thoáng qua); Thận (đái máu, đái ra protein, suy thận); Đáy mắt (phù, xuất huyết, xuất tiết, mạch co nhỏ…); Bệnh động mạch ngoại vi (tắc động mạch chi, tắc động mạch cảnh…)…

46. Hỏi: Tại sao càng phát hiện được sớm bệnhTHA để điều trị ở tuyến xã thì càng rẻ?
Trả lời:Phát hiện sớm THA sẽ dễ dàng điều trị hơn vì lúc đóchưa có tổn thương cơ quan đích; hơn nữa phát hiện THA sớm thì chỉ cần điều trị tại tuyến xã, người bệnh đỡ phải đi lại, chỉ là THA độ 1, chưa có tổn thương cơ quan đích, chỉ dùng 1 loại thuốc nên đỡ tốn kém hơn rất nhiều khi phát hiện muộn phải lên tuyến trên điều trị
47. Hỏi:Những điểm cần lưu ý trước khi đo huyết áp là gì?
Trả lời:Khi đo HA cần lưu ý:
Nghỉ tối thiểu 5 phút trước khi đo, không ăn, uống, tập thể dục, tắm tối thiểu 30 phút trước khi đo huyết áp. Không cử động người và chuyện trò trong khi đo. Không đo huyết áp khi đang stress .
Ngồi trên ghế với bàn chân đặt trên mặt nền phẳng và đặt cánh tay lên bàn sao cho vòng bít ở ngang với tầm tim bạn .
48. Hỏi:Trị số bình thường của các xét nghiệm sinh hóa máu trong chẩn đoán THA là gì?
Trả lời:
|
Tên xét nghiệm |
Trị số bình thường |
Trị số gây hại cho sức khỏe |
| Cholesterol toàn phần | < 5,2 mmol / l | > 6,2 mmol / l |
| LDL-c | <3, 4 mmol / l | > 4,1 mmol / l |
| HDL-c | 0,9 mmol / l | < 0,9 mmol / l |
| Triglycerid | < 2,26 mmol / l | > 4,5 mmol / l |
| Đường máu | 3,9 – 5,6 | > 5,6 mmol / l |
| HbA1C | 4-6 % | > 6 % |
| Ure | 2,5 – 7,5 | > 7.5 mmol |
| Creatinin |
Nam : 62-120 Nữ : 53-100 |
Nam > 120 Nữ > 100 |
49. Hỏi:Ý nghĩa và giới hạn bình thường của xét nghiệm nước tiểu 10 để chẩn đoán THAlà gì?
Trả lời:
|
Tên thông số |
Ý nghĩa |
Giới hạn bình thường |
| Tỉ trọng | Tỷ trọng tăng trong bệnh ĐTĐ, giảm trong bệnh đái tháo nhạt. Tỷ trọng thấp lê dài cũng thường gặp trong suy thận . | 1,014 – 1,028 |
| pH | pH acid : ĐTĐ không trấn áp, mất nước, đói lả pH kiềm : nhiễm khuẩn tiết niệu | 5-6 |
| Các chất cetonic | Khi Open thì hoàn toàn có thể bệnh nhân mắc bệnh ĐTĐ có biến chứng toan ceton, bệnh nhân nhịn đói lâu ngày, nôn mửa lê dài, suy kiệt, trong một vài trường hợp ngộ độc . | Không có |
| Hồng cầu |
Dương tính và hồng cầu còn nguyên : sỏi thận, lao thận, ung thư thận, viêm thận, viêm đường tiết niệu và THAgiai đoạn 2 . Dương tính và hồng cầu đã vỡ : tan máu như sốt rét, vàng da do tan máu, ngộ độc photpho . |
Không có |
|
Bilirubin ( sắc tố mật ) |
Dương tính : có tổn thương gan hoặc đường dẫn mật ( có tăng Bilirubin trực tiếp ) | Không có |
| Urobilinogen | Tăng : bệnh gan hoặc tan huyết Nếu tắc mật trọn vẹn thì không có urobilinogen trong nước tiểu | Có ít trong nước tiểu |
| Protein niệu |
Dương tính: bệnh thận, nhiễm trùng đường tiết niệu, THA, ngộ độc thai nghén, suy tim xung huyết. |
Không có |
| Đường niệu | Dương tính : ĐTĐ, stress, viêm tuỵ cấp, cushing, sau gây mê | Không có |
| Nitrit | Dương tính : nhiễm trùng đường tiết niệu | Không có |
| Bạch cầu | Nhiễm trùng đường tiết niệu | Không có |
50. Hỏi:Đột tử là gì?
Trả lời:Đột tử là hiện tượng một người đang sống bình thường tự nhiên tử vong mà không thể cứu được. Đột tử, người dân còn gọi là “trúng gió” hay “chết bất thường”; nhưng trong y học không có khái niệm “trúng gió” hay “chết bất thường”. Tất cả những ai bị đột tử đều có nguyên nhân. Song điều quan trọng chúng ta cần tìm hiểu“Người đang sống bình thường là thế nào???” để chủ động tìm nguyên nhân và đưa ra biện pháp phòng ngừa tốt nhất.
51. Hỏi:Tại sao đang sống bình thường lại bị đột tử?
Trả lời:Câu hỏi này được đặt ra từ người thân, bạn bè của người bị đột tử. Nhưng thực tế rất nhiều người đột tử không tìm được nguyên nhân vì không có một dấu hiệu bệnh lý gì báo trước; không có hồ sơ sức khỏe cá nhân ghi chép tình trạng bệnh tật trước khi bị đột tử. Đột tử tìm được nguyên nhân chỉ khi gia đình nhất trí cho mổ tử thi hoặc có bằng chứng về tiền sử bệnh tật mắc những bệnh dễ gây đột tử. Vì vậy, mỗi người bị đột tử là một bài học cho những người đang sống, nhất là những người đang có yếu tố nguy cơ đột tử.
52. Hỏi:Tại sao người đang sống bình thường lại đột tử?
Trả lời:Trường hợp thứ nhất là người bình thường không được cơ sở y tế xác nhận có bệnh lý gì, do chưa đi khám bệnh và chưa đi khám sức khỏe định kỳ bao giờ; họ cho rằng mình khỏe mạnh mà không biết mình mắc các bệnh THA, ĐTĐ, rối loạn chuyển hóa mỡ máu (RLCHMM), phình mạch não.v.v… Các bệnh lý này hiện nay gặp ở rất nhiều người mà hầu nhưng không có triệu chứng gì, kể cả THA đã có tổn thương cơ quan đích hoặc ĐTĐ đã có biến chứng và RLCHMM đã có tổn thương lớp áo trong của lòng động mạch.Những người này khi gặp phải hay có các yếu tố nguy cơ tác động thì sẽ bị đột tử. Các yếu tố nguy cơ là: nhiễm lạnh đột ngột, stress, ăn mặn, không uống thuốc đều, ăn uống, luyện tập không đúng theo hướng dẫn của Bác sỹ hoặc huyết áp, hoặc đường huyết, mỡ máu cao liên tục; điều trị không đạt mục tiêu (các chỉ số huyết áp, đường huyết, mỡ máu không về bình thường). Trường hợp đột tử này là không có bằng chứng của bệnh lý trước khi đột tử, nhưng có nguyên nhân là mắc một trong các bệnh lý đó (qua mổ tử thi).
Trường hợpthứ hai là người đã được cơ sở y tế xác nhận là mắc một trong các các bệnh lý như trên hoặc mắc bệnh tim (như bệnh cơ tim phì đại, rung nhĩ, hẹp động mạch vành,bệnh tim bẩm sinh, viêm cơ tim). Người mắc một trong các bệnh này(còn gọi là bệnh lý nền) do không điều trị hoặc điều trị không đúng; trước khi bị đột tử, họ vẫn sinh hoạt, làm việc bình thường; nhưng khi gặp phải hay có các yếu tố nguy cơ tác động thì sẽ bị đột tử thì là đương nhiên.Trường hợp đột tử này là có bằng chứng và có nguyên nhân trước khi khi bị đột tử.
53. Hỏi:Tại sao khi người mắc các bệnh lý nền trên kể cả chưa được phát hiện hay đã được phát hiện lại chết nhanh và bất ngờ như vậy?
Trả lời:Nguyên nhân là do các bệnh sau đây:
Do THA: Người bị THA lâu ngày, không được điều trị hoặc điều trị không đúng, khi có nhiều yếu tố nguy cơ tác động như nhiễm lạnh đột ngột, stress sẽ làm THA đột ngột, gây vỡ mạch máu não thì sẽ rất dễ bị đột tử. Những người bị THA mà có RLCHMM hoặc ĐTĐ kèm theo thì nguy cơ đột tử còn cao hơn.
THA sẽ gây biến chứng là tai biến mạch máu não (TBMMN), có hai dạng TBMMN là tắc mạch não (nhồi máu não) và xuất huyết não (vỡ mạch máu não). Tử vong TBMMN là một dạng đột tử, nếu người bệnh tử vong nhanh chóng, không thể cứu được; còn nếu tử vong muộn hơn hoặc cứu được thì gọi là đột quị.
Do ĐTĐ: Người bị ĐTĐ lâu ngày, không được điều trị hoặc điều trị không đúng, bị tăng hoặc hạ đường huyết đột ngột hoặc có kèm theo THA, RLCHMM thì có thể sẽ bị nhồi máu cơ tim hoặc vỡ mạch máu não thì sẽ rất dễ bị đột tử.
Do RLCHMM: Người bị RLCHMM, nhất là tăng chỉ số tryglycerit (nếu chỉ số tryglycerit tăng quá cao thì khi lấy máu xét nghiệm, để lắng tự nhiên thì phần huyết thanh ở trên sẽ đục như sữa); tăng chỉ số mỡ xấu (LDL), giảm chỉ số mỡ tốt (HDL) thì sẽ bị tổn thương lớp áo trong của thành động mạch. Khi đó sẽ tạo cục máu đông; cục máu đông này di chuyển đến động mạch vành của tim gây tắc động mạch vành (nhồi máu cơ tim) sẽ gây ngừng tim và đột tử. Nếu cục máu đông di chuyển đến não gây tắc một nhánh động mạch não gây nhồi máu nào thì rất có thể đột tử ngay. Hoặc cục máu đông di chuyển đến động mạch phổi làm tắc hệ thống mạch máu vào – ra phổi trao đổi khí dẫn đến cơ thể thiếu oxy đột ngột và tử vong.
Do vỡ động mạch chủ: Động mạch chủ là động mạch lớn nhất trong cơ thể, bao gồm một đoạn chạy trong ngực và một đoạn chạy trong bụng, có nhiệm vụ như dòng kênh lớn nhất giúp lưu chuyển máu đi khắp cơ thể. Do THA hoặc RLCHMM làm thành mạch bị tổn thương, mỡ máu lách vào trong thành động mạch, làm động mạch chủ yếu đi, dần phình to ra, danh từ y khoa gọi là “Phình lóc tách động mạch chủ” sẽ gây nên bệnh cảnh vỡ động mạch chủ, bệnh nhân mất máu rất nhanh và ồ ạt, 90% tử vong trong tích tắc.
Do mắc các bệnh tim:Người mắc một trong các bệnh như bệnh cơ tim phì đại, rung nhĩ, hẹp động mạch vành,bệnh tim bẩm sinh, viêm cơ tim đều có thể bị dẫn ngừng tim đột ngột gây đột tử hoặc gây loạn nhịp tim. Khi bị loạn nhịp tim lại tạo cục máu đông, cục máu đông di chuyển đến não, phổi, động mạch vành đều có thể gây đột tử.
54. Hỏi:Để dự phòng đột tử thì phải làm gì?
Trả lời:
Một là: Những người chưa đi khám bệnh hoặc chưa đi khám sức khỏe định kỳ bao giờ thì “ngay từ ngày mai” hãy đi khám sức khỏe định kỳ (phải làm được các xét nghiệm máu) để phát hiện sớm những người mắc các bệnh THA, ĐTĐ, RLCHMM, bệnh tim để đưa vào quản lý điều trị và phòng bệnh.
Hai là: Những người đã được phát hiện (đang mắc) các bệnh THA, ĐTĐ, RLCHMM, bệnh tim thì cần được quản lý điều trị thật tốt. Quản lý điều trị thật tốt nghĩa là tuân thủ tư vấn điều trị của Bác sỹ, tức là dùng thuốc đúng theo chỉ định, loại bỏ các yếu tố nguy cơ, đi khám bệnh định kỳ, có số điện thoại của Bác sỹ để cần thiết liên hệ. Ngoài ra hơn bao giờ hết người bệnh phải hiểu tình trạng bệnh của mình, biết thế nào là huyết áp mục tiêu, đường huyết mục tiêu, HbA1C mục tiêu, mỡ máu mục tiêu.v.v…
Dành ra 30 phút mỗi ngày để tập thể dục, không thức quá khuya, hạn chế thao tác quá căng thẳng mệt mỏi. Ngủ đủ giấc ( tối thiểu 6 giờ / ngày ), triển khai siêu thị nhà hàng theo tư vấn của Bác sỹ .
Ba là: Gia đình, người thân của những người đã được phát hiện những bệnh như trên cần động viên, chia sẻ, giúp đỡ; đôn đốc, nhắc nhở người bệnh đi khám bệnh định kỳ; không uống rượu, bia, cai thuốc lá (nếu nghiện thuốc lá). Chủ động phòng tránh các yếu tố nguy cơ, giúp người bệnh có một trạng thái tinh thần luôn tốt để tránh và chủ động sẵn sàng ứng phó với các stress. Nếu người bệnh trong gia đình già yếu không biết thì người thân trong gia đình phải tìm hiểu về bệnh để biết về tình trạng bệnh của người thân mình.v.v…
Bốn là: Về phía nhân viên y tế, ngoài việc khám xét bệnh nhân cẩn thận, thực hành điều trị đúng phác đồ thì nên quan tâm gặp gỡ bệnh nhân và gia đình bệnh nhân để giải thích tình trạng bệnh, các nguy cơ của bệnh. Cần tổ chức các lớp học cho người bệnh để giải thích cặn kẽ về triệu chứng, biến chứng và cách điều trị phòng bệnh.
Năm là: Về phía ngành y tế cần liên tục tổ chức khám sàng lọc các bệnh THA, ĐTĐ, bệnh tim; tổ chức lớp đào tạo tập huấn cho nhân viên y tế về khám sàng lọc, khám sức khỏe định kỳ, khám điều trị ngay từ khi mới phát hiện bệnh.
Không có ai đột tử là không bình thường cả, đột tử phải có nguyên do, điều quan trọng là mỗi người dân phải có thông tin về sức khỏe thể chất qua khám sức khỏe thể chất, khám bệnh định kỳ để phát hiện sớm bệnh. Như vậy tất cả chúng ta sẽ trấn áp được đột tử .
55. Hỏi: Các nhóm thuốc điều trị THA tại tuyến xã nên dùng là gì?
Trả lời:Các nhóm thuốc điều trị THA tại tuyến xã nên dùng là:
– Nhóm thuốc chẹn kênh can xi ( chẹn Ca ) .
– Nhóm thuốc ức chế men chuyển ( ƯCMC ) .
– Nhóm thuốc ức chế thụ thể AT1 ( ƯCTT ) .
– Nhóm thuốc lợi tiểu thiazit
– Có thể dùng thuốc phối hợp hai loại được đóng trong 01 viên gồm nhóm lợi tiểu phối hợp với ƯCMC / ƯCTT
56. Hỏi: Các thuốc điều trị THA hiện nay hay dùng tại Trạm y tế và tác dụng phụ hay gặp là gì?
Trả lời:
|
Nhóm thuốc |
Tên thuốc trên thị trường |
Tác dụng phụ |
| Thuốc lợi tiểu | Thường dùng tích hợp với nhóm ƯCMC hoặc Thuốc ức chế thụ thể AT1 |
Người bệnh đi tiểu nhiều hơn mức thông thường Cơ thể thiếu vắng kali do đào thải theo nước tiểu, làm suy yếu những chi và khó khăn vất vả trong hoạt động Một số ít trường hợp hoàn toàn có thể gây rối loạn cương dương |
| Thuốc ức chế men chuyển ( ACE ) |
Coversyn Captopril Enalapril |
Ho khan lê dài Gây mẫn cảm trên da Người bệnh thường siêu thị nhà hàng không ngon miệng Tác động xấu nếu bệnh nhân đang mang thai, nên PNCT không được dùng |
| Thuốc ức chế thụ thể AT1 |
Candesartan , Losartan Telmisartan |
Thi thoảng có ho, nhưng giảm hơn rất nhiều so với thuốc ƯCMC |
| Thuốc chẹn kênh canxi |
Amlodipine Nicardipine Nifedipine |
Sưng mắt cá chân và bàn chân Gây chóng mặt, nhức đầu Có thể bị táo bón |
57. Hỏi: Dùng thuốc Amlodipine, tôi bị phù chân thì làm như nhế nào?
Trả lời: Phù là một tác dụng phụ của Amlodipine, nhưng không phải ai cũng bị tác dụng phụ này. Nếu thấy phù chân thì nên đến cơ sở y tế khám quản lý bệnh THA của mình để tìm nguyên nhân, nếu không tìm được nguyên nhân Bác sỹ sẽ đổi thuốc cho bạn, có thể chuyển sang thuốc ƯCMC hoặc ƯCTT.
58. Hỏi: Sau khi dùng thuốc Coversyn, tôi cứ bị ho thúng thắn, đã đi khám Bs sỹ Tai mũi họng mà không tìm ra được nguyên nhân. Vậy tôi phải làm thế nào?
Trả lời: Coversyn là nhóm thuốc ƯCMC, sau khi dùng thuốc mà bị ho là bị tác dụng phụ của thuốc, bạn nên đi khám. Bác sỹ sẽ đổi thuốc cho bạn sang nhóm có tác dụng tương tự, nhưng không có tác dụng phụ là ho là nhóm thuốc ức chế thụ thể, biệt dược hay có thên thị trường là Bloza.
|
Các thuốc tích hợp : Ebitac, gồm 2 thuốc tích hợp : Enalapril 10 mg, Hydrochloro thiazide 12,5 mg . SastanH, gồm 2 thuốc tích hợp : Losartan 25 mg, Hydrochloro thiazide 12,5 mg . |
59. Hỏi:Như thế nào là ăn mặn? Vì sao ăn mặn lại gây THA?
Trả lời:Ăn mặn là ăn nhiều muối (hoặc các sản phẩm từ muối), nghĩa là từ trên 5 gam muối/ngày; 5 gam muối tương đương với 01thìa gạt cà phê.
Muối ăn có công thức là NaCL, Ion Natri sẽ làm tăng tính thấm của màng tế bào, khi ăn nhiều Natri, Ion Natri sẽ chuyển vào tế bào cơ trơn của thành mạch máu nhiều hơn, gây tăng nước trong tế bào, tăng trương lực của thành mạch, gây co mạch, tăng sức cản ngoại vi, dẫn đến THA. Ăn nhiều muối dẫn đến tăng tái hấp thu Natri ở ống thận ; làm cho Ion Natri vào trong tế bào của cơ trơn của ống thận nhiều hơn, gây co mạch, tăng sức cản ngoại vi sẽ gây THA .
60. Hỏi: Thế nào là giảm bớt muối để phòng chống THA?
Trả lời:Giảm 1/2 lượng muối và các gia vịchứa nhiều muối khi nấu ăn.
– Nên nếm thức ăn trước khi muốn cho thêm muối và giavị .
– Khi tẩm, ướp nên hạn chế cho muối và gia vị chứa nhiều muối. Việc này cần làm từ từ để thay dần khẩu vị, hợp với vị giác của người ăn. Sau đó liên tục giảm thêm đến mức còn 50% so với lượng muối ăn hàng ngày .
– Hãy sử dụng những gia vị khác ( tiêu, ớt, chanh … ) để làm tăng cảm nhận vị giác thay cho vị mặn .
– Không nên cho muối hoặc gia vị vào nước luộc rau .
61. Hỏi: Thế nào là chấm nhẹ tay để phòng chống THA?
Trả lời:Giảm 1/2 lượng muối và gia vị chứa nhiều muối khi ăn:
– Nên pha loãng nước mắm để chấm khi ăn .
– Cách chấm món ăn : chấm nhẹ tay, không chấm ngập thực ăn vào nước chấm, gia vị ; không lật đi lật lại nhiều lần miếng thức ăn trong bát nước chấm, muối .
– Không ăn trái cây chấm với muối và bột canh .
– Hãy hạn chế để muối và nước chấm trên bàn hay trên mâm cơm khi ăn .
– Không chấm những món ăn đã mặn ( như thịt kho / rim / rang, cákho, dưa muối, cà muối … ) vào muối hay nước chấm .
62. Hỏi: Thế nào là giảm ngay đồ mặn để phòng chống THA?
Trả lời:Giảm1/2 lượng thực phẩm chứa nhiều muối khi lựa chọn:
– Tăng cường sử dụng những thực phẩm tươi, hạn chế ăn những thực phẩm chế biến sẵn chứa nhiều muối như : mỳ ăn liền, rau củ muối, bim bim, giò, chả …
– Ăn nhiều những món luộc thay cho những món kho, rim hay rang .
– Hãy đọc hàm lượng muối trên nhãn thực phẩm khi trước khi mua .
– Không rưới nước mắm, nước kho cá, kho thịt hay nước sốt vào cơm khi ăn
– Sử dụng những loại sản phẩm gia vị có chứa hàm lượng muối thấp …
– Không nên cố uống hết nước canh, nước của những món phở, bún, miến ; đặc biệt quan trọng là khi ăn ở hàng quán .
– Không nên nghĩ rằng hãy ăn mặn rồi uống nước để hòa loãng ra. Đây là sai lầm đáng tiếc vì càng ăn mặn và càng uống nước nhiều sẽ làm tăng thế tích máu, nênTHA .
63. Hỏi:Rối loạn mỡ máu là gì?
Trả lời: Rối loạn mỡ máu là bệnh lý cótăng thành phần mỡ gây tác hại và giảm thành phần mỡ có lợi bảo vệ cho cơ thể.
64. Hỏi:Có mấy loại loại mỡ máu?
Trả lời: Mỡ máu (Lipid máu) có 2 loạichính là Triglycerides và Cholesterol, chúng là 2 dạng mỡ máu khác nhau. Triglycerides được dự trữ và cung cấp năng lượng cho cơ thể hoạt động, Cholesterol được để tổng hợp nên một số loại Hormone.
65. Hỏi:Cholesterol là gì?
Trả lời: Cholesterol là một loại mỡ máu do gan tạo ra và do chúng ta ăn vào, chiếm 80%; gan có khả năng tổng hợp Cholesterol từ những chất khác như đường, đạm. Chỉ có 20% Cholesterol được hình thành trong cơ thể từ một phần thức ăn hàng ngày trong thịt, mỡ, trứng.v.v….
Cholesterol không phải là chất trọn vẹn gây hại cho khung hình, tất cả chúng ta không hề sống được nếu không có Cholesterol. Cholesterollà thành phần cấu trúc đa phần của màng tế bào, sợi thần kinh và của nhiều nội tiết tố trong khung hình. Ở trong gan, Cholesterol còn dùng để sản xuất ra Axít mật giúp tiêu hóa thức ăn .
66. Hỏi:Cholesterol có các dạng nào?
Trả lời: Cholesterolkhông tan trong, được vận chuyển bởi chất mang có tên là Lipoprotein để đi khắp cơ thể. Có 3 loại Lipoprotein là: Lipoprotein trọng lượng phân tử thấp (LDL=Low-density-lipoprotein), rất thấp (VLDL=Very low-density-lipoprotein) và cao (HDL=High-density-lipoprotein). Cholesterol được vận chuyển trong máu với 3 loại Lipoprotein trên được ký hiệu là LDL-c, VLDL-c, HDL-c.
– LDL-c : là một dạng Cholesterol gây hại cho khung hình, chúng luân chuyển Cholesterol vào trong máu, thấm vào thành mạch máu rồi hìnhthành nên xơ mỡ động mạch. Nên LDL-c còn được gọi là Cholesterol xấu .
– HDL-c : là một dạng Cholesterol có lợi cho khung hình, chúng chống lại quy trình xơ mỡ động mạch bằng cách mang Cholesterol dư thừa, ứ đọng từ trong thành mạch máu trở về gan. Nên HDL-c còn được gọi là Cholesterol tốt .
– VLDL : là cholesterol có hại, trong VLDL có triglycerides là chất làm đông máu, làm đóng vôi động mạch, làm rối loạn tuyến tụy, bị coi là nguyên do làm phát sinh nhiều loại ung thư. Người có VLDL cao thường cũng có mức cholestorol toàn phần cao, nồng độ LDL cao và HDL thấp .
67. Hỏi:Triglycerid là gì?
Trả lời: Triglyceridlà một loại chất béo trong máu, năng lượng từ thực phẩm chúng ta ăn vào sẽ được chuyển hóa thành Triglycerid và dự trữ trong mô mỡ. Sau đó, Triglycerid sẽ đượcchuyển hóa thành năng lượng cung cấp cho hoạt động cơ thể. Nếu năng lượng thu vào nhiều hơn năng lượng cơ thể bị đốt cháy thì Triglycerid sẽ tăng trong máu
68. Hỏi:Tăng Triglycerid gây hậu quả gì?
Trả lời:
– TăngTriglycerid trong máu quá cao sẽ góp thêm phần thôi thúc quy trình xơ mỡ động mạch .
– TăngTriglycerid còn làm gan nhiễm mỡ, tăng đề kháng Insulin, dẫn đến bệnhĐTĐ. Ngoài ra nếu Triglycerid quá cao ( > 1000 mg / dl ) hoàn toàn có thể gây raviêm tụy cấp. Vì vậy ở bệnh nhân ĐTĐ, người ta thường làm xét nghiệmTriglycerid .
Trong khung hình tất cả chúng ta luôn có sự cân đối giữa hai quy trình gây hại và bảo vệ. Cho nên khi ta dùng từ tăng Cholesterol hay tăng mỡ trong máu, để chỉ thực trạng rối loạn mỡ máu là chưa đúng chuẩn mà ta phải gọi là tăng thành phần gây hại và giảm thành phần có lợi ( bảo vệ ). Đôi khi không có tăng thành phần gây hại, nhưng có giảm thành phần bảo vệ thì vẫn gọi là rối loạn mỡ trong máu .
69. Hỏi: Tại sao xét nghiệm mỡ máu phải làm đủ 4 thành phần mỡ máu?
Trả lời: Vậy để phát hiện có bị rối loạn mỡ trong máu hay không ta cần làm xét nghiệm đầy đủ 4 thành phần mỡ trong máu, gồm: Cholesteroltoàn phần, LDL-cholesterol viết tắt là LDL-c, HDL-cholesterol viết tắt là HDL- c, Triglycerid. Trong 4 thành phần trên thì thành phần nào cũng rất quan trọng, chúng ta không được bỏ thành phần nào cả.
Khi đọc hiệu quả xét nghiệm ta cần chú ý quan tâm sự cân đối giữa thành phần bảo vệ và thành phần gây hại. Nếu cả LDL-c và HDL-c đều cao thì ít gây quan ngại hơn trường hợp chỉ có LDL-c cao và chỉ có HDL-c thấp. Ngoài ra khi nhìn nhận mức độ nguy hại của thực trạng tăng Cholesterol tất cả chúng ta phải quan tâm đến tuổi, có bệnh tim mạch, THA, đái tháo đường kèm hay không ? v.v. .
70. Hỏi:Tác hại của rối loạn mỡ trong máu là gì?
Trả lời:
Triglyceride tăng cao, nhất là ở bệnh nhân bị đái tháo đường thì rủi ro tiềm ẩn xơ mỡ động mạch cũng caohơn. Còn HDL-c giảm thấp là tăng những rủi ro tiềm ẩn tai biến về mạch máu và xơ mỡ động mạch
Cholesterol toàn phần tăng cao hơn 6,2 mmol / l thì rủi ro tiềm ẩn bị bệnh mạch vành tim tăng lên 2 đến 3 lần. LDL-c tăng cao thì tăng rủi ro tiềm ẩn bị nhồi máu cơ tim .
71. Hỏi:Lợi ích của điều trị và phòng ngừa rối loạn mỡ trong máu là gì?
Trả lời:Lợi ích của việc điều trị cho thấy, nếu Cholesterol toàn phần giảm được 0,6 mmol/l ở người tuổi 40 sẽ giảm 54% nguy cơ bệnh tim mạch; còn ở tuổi 70 thì giảm 20% nguy cơ bệnh tim mạch. Người ta cũng đã chứng minh được rằng giải quyết đượcrối loạn mỡ trong máu là cần thiết để hạn chế tai biến mạch vành tim, tai biến mạch máu não để giảm tỉ lệ tử vong do biến chứng mạch máu. Để điều trị rối loạn mỡ trong máu chúng ta có thể dùng 2 phương pháp là điều trị không dùng thuốc và điều trị có dùng thuốc
72. Hỏi:Thường dùng thuốcđể hạ mỡ máu là gì?
Trả lời: Sau khi áp dụng chế độ điều trị không dùng thuốc như trên trong 3 đến 6 tháng, xét nghiệm mà vẫn không cải thiện được tình trạng rối loạn mỡ trong máu; đặc biệt là LDL-c còn cao thì phải dùng thuốc hạ mỡ trong máu.
Hiện nay có nhiều nhóm thuốc hạ mỡ trong máu, như nhóm Fibrate, nhóm Statin, nhóm Resin, nhóm Niacin. Mỗi nhóm có tính năng hạ mỡ theo những chính sách khác nhau. Việc lựa chọn sử dụng loại nào tương thích trong điều trị cho bệnh nhân sẽ do bác sỹ chuyên khoa quyết định hành động. Cần quan tâm là hầu hết những thuốc hạ Lipid máu đều có tính năng phụ nhất định cho khung hình. Cho nên bệnh nhân không nên tự dùng thuốc mà không có chỉ định và theo dõi của bác sĩ
73. Hỏi: Giới hạn các chỉ số mỡ máu bình thường và gây hại cho sức khỏe là bao nhiêu?
Trả lời:Giới hạn các chỉ số mỡ máu bình thường và gây hại cho sức khỏe như sau:
|
Tên xét nghiệm |
Trị số bình thường |
Trị số gây hại cho sức khỏe |
| Cholesterol toàn phần | < 5,2 mmol / l | > 6,2 mmol / l |
| LDL-c | <3, 4 mmol / l | > 4,1 mmol / l |
| HDL-c | 0,9 mmol / l | < 0,9 mmol / l |
| Triglycerid | < 2,26 mmol / l | > 4,5 mmol / l |
74. Hỏi:Thay đổi thói quen ăn uống để điều trị rối loạn mỡ máu như thế nào?
Trả lời:
|
Nên |
Không nên |
|
– Ăn nhiều rau quả và trái cây tươi loại ít ngọt ( khoảng chừng 500 g mỗi ngày ), nên ăn trái cây nguyên quả hơn là ép lấy nước uống . – Ăn nhiều tỏi : Mỗi tuần nên có tối thiểu là 03 ngày ăn cá và 01 ngày ăn đậu ( đậu phụ, đậu ve, đậu xanh. v.v… ) thay cho ăn thịt . – Nếu ăn thịt, nên chọn những loại thịt nạc không lẫn mỡ, da và gân . – Nếu ăn tôm, cua. v.v… nên bỏ phần gạch . – Mỗi tuần chỉ nên dùng 02 quả trứng gà hoặc vịt . – Nên dùng dầu thay cho mỡ động vật hoang dã ( dầu đậu nành, dầu hướng dương, dầu ô liu. v.v… ) – Nên uống thật nhiều nước trong ngày ( kể cả nước lá chè xanh ) . |
– Thường xuyên dùng những món chiên xào . – Ăn tiếp tục những thực phẩm có hàm lượng Cholestrol cao ( ví dụ : óc heo, mỡ, da gà, da vịt, bì lợn, lòng đỏ trứng, chân giò, bò gân, đồ lòng. v.v… ) – Ăn quá nhiều đồ ngọt ( ví dụ : chè, mứt, kẹo, bánh kem, kem, nước ngọt, nước tăng lực, nước trái cây đóng hộp. v.v… ) – Uống quá nhiều rượu, bia ( tuy nhiên nếu điều độ mỗi ngày uống 01 ly nhỏ rượu |
Tập thể dục uyển chuyển dưới những hình thức như đi bộ, chạy bộ, đạp xe đạp điện. v.v… ở mức độ không gắng sức là tương thích. Tập đủ thời hạn và tiếp tục, mỗi lần tập cố gắng nỗ lực đủ 30-45 phút và tối thiểu tập 03 lần trong 01 tuần. Nếu bị béo phì, thừa cân mà nhiều năm nay không tập thể dục, nay nên quyết tâm rèn luyện ; lúc đầu tập ít sau tăng dần cố gắng nỗ lực tập đều đặn. Lúc đầu hoàn toàn có thể thấy mệt, buồn ngủ vào buổi sáng sau tập, nhưng sẽ quen dầnvà thấy khỏe hơn .
Duy trì hoạt động, cố gắng nỗ lực thiết kế xây dựng thời khóa biểu tập thể dục ; coi đó như thể một nụ cười, hoàn toàn có thể thiết kế xây dựng nhóm cùng tham gia chương trình tập thể dục .
75. Hỏi:Khi nào cần đến thuốcđể điều trị bệnh THA?
Trả lời:Sau khi bạn thực hiện biện pháp ăn kiêng, luyện tập và cácbiện pháp điều trị không cần thuốc mà huyết áp của bạn vẫn không giảm, lúc đó cầndùng thuốc để kiểm soát huyết áp.
76. Hỏi:Những điểm lưu ý đối với người bệnh khi điều trị bệnh THA là gì?
Trả lời:Bệnh THA phải điều trị liên tục suốt đời,nên cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa thầy thuốc, bệnh nhân và gia đình, nên bạncần hiểu nhiều về bệnh, tuân thủ điều trị. Phải có kế hoạch đi khám định kỳ,đúng hẹn, không nên vì công việc mà không đi khám hoặc bỏ thuốc, vì lúc đó nguycơ tai biến là rất lớn; đừng bỏ người thân, bạn bè, đồng nghiệp khi sự nghiệpđang còn dang dở.
– Cần tuân thủ qui định ngặt nghèo của thầy thuốc cách sử dụng thuốc, không được tự ý bỏthuốc hoặc biến hóa thuốc, không nên thấy người khác dùng thuốc này là mình liềntự mua dùng tương tự như như vậy là rất nguy khốn .
– Trong quy trình uống thuốc, trịsố huyết áp sẽ quay trở lại mức thông thường, lúc đó bạn chỉ mới đạt được tiềm năng điềutrị THA ( giảm tối đa những rủi ro tiềm ẩn dài hạn bị những biến chứng tim mạchvà tử trận ). Do đó bạn không được ngừng điều trị mà vẫn phải liên tục chữa bệnhtheo hướng dẫn của thầy thuốc, vì việc tựý ngưng điều trị thì huyết áp lại tăng cao như mức trước khi điều trị, thậm chí còn còn cao hơn và đây chính là thờiđiểm thường xảy ra tai biến mạch máu não và tim .
– Không nên thay đổinhiều thầy thuốc mà bạn nên chọn một thầy thuốc mà mình tin cậy, tốt nhất làgần nhà mình .
– Phải điều trị những yếu tố rủi ro tiềm ẩn phối hợp như rối loạn Lipid máu, tiểuđường .
– Phải đặc biệt quan trọng chúý đến hoạt động và sinh hoạt cá thể : Phòng tắm phải kín, không có gió lùa, tắm không quá15phút, mùa rét mặc áo phải kín cổ, tuynhiên phải gữi ấm body toàn thân, kể cả bàn chân bàn tay, vì bị nhiễm lạnh bất kỳ vịtrí nào trên khung hình đều làm co mạch, gây THA. Mặc quần áo không đượcquá chặt vì sẽ cản trở máu lưu thông và khó khi đo huyết áp. Không nên ăn quáno và uống nhiều nước vào bữa tối vì làm tăng khối lượng tuần hoàn vào đêm hôm, gây THA, dễ béo phì. Nếu phải dậy đi tiểu ban đêm thì thì phải từ từmặc quần áo cho thật ấm mới dậy ra ngoài, tốt nhất là rèn không có thói quen đitiểu vào đêm hôm .
– Nếu bạn không phảilà đối tượng người tiêu dùng mua thẻ bảo hiểm y tế bắt buộc thì nên mua bảo hiểm Y tế tự nguyệnvì phải tiếp tục dùng đến nó .
77. Hỏi:Những điểm lưu ý đối với gia đình người bệnh khi điều trị bệnh THA là gì?
Trả lời: Mọi người cũng cầnphải có kiến thức cơ bản về bệnh THA, phải quan tâm, chăm sóc, nhắcnhở người thân của mình trong sinh hoạt, đi khám và uống thuốc. Một gia đình hạnhphúc sẽ góp phần quan trọng vào phòng tai biến do THA.
Như vậy loại trừcác yếu tố nguy cơ và tích cực điều trị THA sẽ tránh được các biếnchứng nguy hiểm: tai biến mạch máu não, suy thận, mờ mắt, thậm chí mờ mắt, đauthắt ngực, nhồi máu cơ tim, suy tim, giảm chi phí điều trị, tăng tuổi thọ, tăngchất lượng cuộc sống của bạn và gia đình. Đặc biệt là bạn vẫn có một cuộc sốngvà công việc bình thường, vẫn tiếp tục và có nhiều cống hiến cho xã hội và giađình.
78. Hỏi:Tại sao phải điều trị bệnh THA cho dù cảm thấy bình thường?
Trả lời: Đa số các bệnh nhân THA đều cảm thấy trong người hoàn toàn bình thường, chỉ phát hiện được khi có những biểu hiện như nhức đầu, mờ mắt, chóng mặt, đánh trống ngực hoặc khi có các biến chứng nặng hơn như tai biến mạch máu não… chính vì lẽ đó THA được gọi là “kẻ giết người thầm lặng”. Rất nhiều các bệnh nhân khi bị tai biến mạch máu não, vào khoa hồi sức cấp cứu thì người nhà mới biết là người thân của mình bị THA. Tuy vậy rất nhiều người đã biết mình bị THA, huyết áp thường xuyên cao, nhưng không thấy triệu chứng gì “vẫn khoẻ mạnh bình thường” lại chủ quan không đi khám và điều trịhoặc điều trị không đúng cách, “không biết giữ mình”, chỉ khi vào khoa hồi sức cấp cứu thì bản thân và gia đình mới thấy việc điều trị bệnh THA và biết cách giữ mình là quan trọng, nhưng khi đó đã muộn.
79. Hỏi:Tai biến mạch máu não là hiện tượng não là gì?
Trả lời: Tai biến mạch máu não là hiện tượng não không được cung cấp đủ máu dẫn đến thiếu oxy và chất dinh dưỡng. Nếu trong vòng vài phút, máu não không được lưu thông sẽ khiến tế bào não chết. Vùng não bị tổn thương càng rộng, mức độ tổn thương càng nặng thì di chứng để lại sẽ càng nhiều, thậm chí có thể dẫn đến tử vong.
80. Hỏi:Xuất huyết não là gì?
Trả lời:Xuất huyết não còn được gọi là chảy máu não, là một loại chảy máu nội sọ xảy ra trong mô não hoặc não thất. Trong nhiều trường hợp chảy máu diễn ra ở cả mô não và não thất. Nguyên nhân THA, phình động mạch, chấn thương não,dị dạng động mạch, u não.
81. Hỏi:Triệu chứng của xuất huyết não là gì?
Trả lời:Triệu chứng của xuất huyết não gồm:
– Nhức đầu kinh hoàng
– Yếu một cánh tay hoặc chân
– B uồn nôn, nôn mửa, hôn mê
– Rối loạn cơ tròn, đái ỉa không tự chủ
– Khó nói, khó nuốt, mờ mắt, mất cân đối, ngất xỉu, lú lẫn, mê sảng .
Không phải bệnh nhân nào cũng có đủ những triệu trứng như trên, có bệnh nhân chi đau đầu rồi hôn mê luôn
82. Hỏi:Nhũn não là gì?
Trả lời: Nhũn não là một trạng thái bệnh lý do sự hình thành huyết khối ở não làm tắc động mạch não khiến cho tổ chức não thiếu máu nuôi dưỡng gây ra nhũn não. Người bệnh phần lớn trên 50 tuổi, nam nhiều hơn nữ. Phát bệnh bất kỳ lúc nào, có khi đang nghỉ ngơi, đang lao động, có nhiều người ngủ dậy phát hiện liệt nửa người
Nội Dung Chính
83 .Hỏi :
Tôi bị THA, hoàn toàn có thể hoạt động giải trí tình dục được không ?
Trả lời: Hoạt động tình dục là một phần không thể thiếu của cuộc sống. Các nhà khoa học đã chứng minh rằng hoạt động tình dục là một gắng sức vừa phải, có thể coi như một động tác thể dục nhẹ nhàng chính vì vậy với những bệnh nhân THAgiai đoạn I và II vẫn có thể sinh hoạt bình thường.
Những bệnh nhân có trị số huyết áp tiếp tục quá cao cần phải quan tâm điều trị cho không thay đổi rồi mới quan hệ để tránh tai biến. Còn với những bệnh nhân THA tiến trình III, có suy tim hoặc đau thắt ngực thì cần hạn chế và hỏi quan điểm bác sĩ .
Bệnh nhân THA cần chú ý quan tâm là trong hoạt động và sinh hoạt tình dục hoàn toàn có thể bị rối loạn cương dương do những đổi khác ở mạch máu hoặc tính năng phụ của thuốc hạ áp. Một số thuốc hạ áp hoàn toàn có thể gây giảm công dụng tình dục như metoprolol, prazosin v.v… Tuy nhiên bạn không nên hấp tấp vội vàng dừng thuốc. Đừng ngại ngùng hỏi bác sĩ về chuyện này và luôn phải xem xét giữa quyền lợi và rủi ro tiềm ẩn của việc dùng thuốc. Thông thường, việc kiểm soát và điều chỉnh về loại thuốc hay liều dùng sẽ giúp xử lý yếu tố này .
84 .Hỏi :
Phải làm gì khi bản thân hoặc người nhà bị cơn đau ngực trái bất thần ?
Trả lời:Thông thường, đau ngực trái có thể do rất nhiều nguyên nhân. Có những nguyên nhân lành tính (như ngoại tâm thu), trong khi lại có những nguyên nhân là tình trạng cấp cứu nặng (như nhồi máu cơ tim, phình tách động mạch chủ).
Nếu bạn còn trẻ tuổi, không có tiền sử bệnh tim mạch, cơn đau ngực ngắn ( lê dài khoảng chừng vài chục giây đến nửa phút ) thì thường không tương quan đến thực trạng cấp cứu nghiêm trọng. Hãy bình tĩnh nghỉ ngơi để cơn đau qua đi và đến khám bác sỹ .
trái lại, nếu bạn là người có tuổi, có tiền sử bệnh THA, tiền sử đái tháo đường, thì cơn đau ngực trái là một tín hiệu cho thấy bạn cần phải đến cơ sở y tế ngay lập tức .
Nếu bạn đau ngực theo từng cơn, mỗi cơn lê dài từ 10 phút đến vài giờ, có năng lực bạn bị mắc bệnh mạch vành. Các triệu chứng của cơn đau ngực rất phong phú, như đau bóp nghẹt ngực, đau bỏng rát, đau như dao đâm, hoặc chỉ là cảm xúc tức hay nặng ngực. Cơn đau không giảm đi khi đổi khác tư thế. Những triệu chứng kèm theo hoàn toàn có thể là vã mồ hôi, buồn nôn, khó thở, mệt, đánh trống ngực, …
Nếu bạn có tiền sử THA, và đau ngực liên tục không giảm, cơn đau lan ra sau sống lưng, có năng lực bạn bị phồng hay tách thành động mạch chủ. Cả bệnh mạch vành và phồng tách động mạch chủ đều là thực trạng cấp cứu nội khoa. Sự chậm trễ trong việc cấp cứu hoàn toàn có thể khiến bạn phải trả giá bằng mạnh sống của mình. Do vậy, hãy đến cơ sở y tế càng sớm càng tốt .
85. Hỏi: Hút thuốc lá ảnh hưởng đến tim mạch như thế nào? Tôi đang hút thuốc nhưng muốn bỏ khó quá, có cách nào giúp bỏ thuốc lá không?
Trả lời: Khói thuốc có rất nhiều chất độc như nicotin, hắc ín, formaldehyt, cyanid… Hút thuốc lá không những làm tăng nguy cơ mắc bệnh lý tim mạch, đột quỵ, ung thư mà còn làm tăng nguy cơ mắc bệnh lý răng miệng, bệnh lý đường ruột, giảm khả năng tình dục…
Hút thuốc lá là yếu tố rủi ro tiềm ẩn số 1 dẫn đến làm tăng rủi ro tiềm ẩn mắc và tử trận do bệnh lý tim mạch, những rủi ro tiềm ẩn này tăng lên tỷ suất thuận với khối lượng bạn hút thuốc và thời hạn bạn hút thuốc. Nếu bạn muốn làm cho trái tim mình khỏe mạnh hơn hãy từ bỏ thói quen hút thuốc ngay lập tức .
Bỏ thuốc là không hề thuận tiện. Theo thống kê, có 70 % người hút thuốc muốn bỏ thuốc lá nhưng chỉ có 5 % số người này thành công xuất sắc. Vậy một số ít lời khuyên cho bạn khi bạn muốn bỏ thuốc thành công xuất sắc :
Chọn một ngày đặc biệt quan trọng để triển khai bỏ hút thuốc và bạn nhất quyết với bản thân cũng như những người thân trong gia đình của bạn rằng bạn thực sự muốn bỏ thuốc .
Nếu lần đầu bạn chưa bỏ thuốc lá thành công xuất sắc, bạn đừng từ bỏ quyết tâm của mình. Hãy đổi khác thói quen hàng ngày, bạn hãy vứt gạt tàn thuốc lá đi, bạn hãy quyét dọn nhà của, giặt quần áo hoặc đi chơi với mái ấm gia đình, bè bạn .
Một đến ba tuần sau khi bỏ thuốc lá, bạn sẽ thấy bồn chồn, lo âu, không dễ chịu, khó ngủ, mất ngủ, thèm ăn nhiều, đau đầu … sau đó những triệu chứng đó hết dần .
86. Hỏi: Bố tôi 85 tuổi, huyết áp là 160/80 mmHg, có phải là bình thường theo tuổi không? Xin cho biết phân mức độ THA
Trả lời: Huyết áp là áp lực của dòng máu đi nuôi cở thể. Nhờ có huyết áp cơ thể tạo ra dòng tuần hoàn mang oxy và chất dinh dưỡng đi nuôi cơ thể.
Bình thường, huyết áp cả người trưởng thành là dưới 120 / 80 mmHg. Khi huyết áp của bạn là 140 / 90 mmHg hoặc cao hơn, bạn đã bị THA ( THA ). Nếu bạn bị tiểu đường hoặc bị bệnh thận, số lượng huyết áp tốt nhất là dưới 130 / 80 mmHg. Nếu huyết áp của bạn cao hơn ngưỡng này, bạn đã bị coi là THAvà cần phải điều trị .
Bố bạn 85 tuổi, huyết áp là 160 / 80 mmHg. Như vậy bố bạn đã bị THAvà bố bạn cần được bác sỹ điều trị bệnh THA
87. Hỏi:Tôi nữ giới 27 tuổi hay bị đau nhói ngực, có phải bị đau tim không? có phải là bị bệnh động mạch vành không?
Trả lời: Đau ngực là một trong những lý do khiến bệnh nhân nữ trẻ tuổi phải đến khám bác sĩ tim mạch nhiều nhất. Và một quan điểm phổ biến của đại đa số người dân cho rằng đau ngực là do bệnh tim mạch, là do nhồi máu cơ tim. Chính điều này làm cho bệnh nhân rất lo lắng.
Tuy nhiên, chứng cứ khoa học đã khẳng định chắc chắn rõ ràng rằng bệnh mạch vành hoặc nhồi máu cơ tim rất hiếm khi gặp ở bệnh nhân nữ trẻ tuổi. Do Estrogen là hormon sinh dục nữ có tính năng chống lại sự hình thành và tăng trưởng của mảng xơ vữa trong lòng mạch vành là nguyên do gây ra nhồi máu cơ tim. Khi mãn kinh, lượng hormon này giảm xuống và lúc này nguy cơ tim mạch và bệnh mạch vành tăng lên đáng kể .
Các nguyên do gây ra đau ngực hay gặp ở lứa tuổi của bạn hoàn toàn có thể là : bệnh van tim do thấp, hẹp van hai lá, sa van hai lá, viêm màng ngoài tim. Nhồi máu phổi hay gặp ở những bệnh nhân dùng thuốc tránh thai. Các nguyên do không phải tim mạch như viêm phổi, viêm màng phổi, trào ngược dạ dày thực quản, viêm sụn sườn, đau dây thần kinh liên sườn, bệnh zona. Một nguyên do nữa cũng hay gặp trong xã hội văn minh là do lo ngại, stress, stress .
Như vậy, bạn trọn vẹn hoàn toàn có thể yên tâm rằng rủi ro tiềm ẩn bị bệnh mạch vành là rất thấp. Tuy nhiên như đã nói ở trên có rất nhiều nguyên do gây ra đau ngực nên bạn cần phải đi khám để được chẩn đoán và điều trị đúng bệnh .
88. Hỏi:Tôi nghe nói bị bệnh động mạch vành rất nguy hiểm? có các loại bệnh động mạch vành như thế nào? Làm sao biết tôi có bị bệnh động mạch vành hay không?
Trả lời:Thật vậy, bệnh động mạch vành rất nguy hiểm. Theo ước tính hiện ở Mỹ có khoảng gần 7 triệu người bị bệnh động mạch vành và hàng năm có thêm khoảng 350.000 người bị đau thắt ngực mới. Tỷ lệ này ở các nước phát triển khác cũng rất đáng lo ngại. Tại châu Âu, có tới 600.000 bệnh nhân từ vong mỗi năm do bệnh động mạch vành và là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong. Đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt nam, bệnh động mạch vành đang có xu hướng gia tăng nhanh chóng và gây nhiều thay đổi trong mô hình bệnh tim mạch
Bệnh của động mạch vành thường gồm có 3 dạng bệnh lý như sau :
– Đau thắt ngực không thay đổi là thực trạng không có những diễn biến nặng lên không ổn định của cơn đau thắt ngực trong vòng vài tuần gần đây. Với đau thắt ngực không thay đổi thì thực trạng lâm sàng thường không thay đổi, cơn đau thắt ngực ngắn, xảy ra khi gắng sức, đỡ khi nghỉ và cung ứng tốt với những thuốc nhóm Nitrates. Đau thắt ngực không thay đổi thường tương quan đến sự không thay đổi của mảng xơ vữa .
– Đau thắt ngực không không thay đổi là thực trạng không ổn định về lâm sàng, cơn đau thắt ngực Open nhiều và dài hơn, xảy ra cả khi bệnh nhân nghỉ ngơi và cơn đau ít cung ứng với những Nitrates. Cơn đau này thường tương quan đến thực trạng không ổn định của mảng xơ vữa động mạch vành. Đau thắt ngực không không thay đổi hoàn toàn có thể dẫn tới Nhồi máu cơ tim ( NMCT ) hoặc không thay đổi lại để thành đau thắt ngực không thay đổi .
– Nhồi máu cơ tim là thực trạng bị tắc trọn vẹn động mạch vành ( ĐMV ) một cách nhanh gọn gây hoại tử vùng cơ tim phía sau phần nuôi dưỡng của đoạn ĐMV bị tắc. Về chính sách gây NMCT cũng giống phần nào so với cơn đau thắt ngực không không thay đổi là do sự nứt vỡ của mảng xơ vữa và gây huyết khối bịt tắc trọn vẹn ĐMV .
89. Hỏi: Có khi nào bị bệnh động mạch vành mà không đau ngực không?
Trả lời: Thực tế có một số trường hợp bị bệnh động mạch vành nhất là nhồi máu cơ tim mà không có cảm giác đau ngực rõ rệt (còn gọi là nhồi máu cơ tim thầm lặng). Hiện tượng này hay gặp ở bệnh nhân sau mổ, người già, bệnh nhân bị đái tháo đường, THA,… Do vậy, cần cảnh giác khi bạn là người có nhiều yếu tố nguy cơ mà có những triệu chứng mơ hồ về đau ngực và thấy khó thở hoặc khó chịu ở vùng ngực thì nên đi đến bác sỹ khám ngay.
Như vậy, bạn càng thấy rõ hơn tầm quan trọng của việc nhìn nhận và trấn áp những yếu tố rủi ro tiềm ẩn của bản thân. Tùy vào mức độ những yếu tố rủi ro tiềm ẩn của bạn mà bạn cần được khám theo dõi liên tục định kỳ, phát hiện sớm những biến chứng nhất là khi bộc lộ rất mơ hồ, không rõ ràng, từ đó có giải pháp điều trị kịp thời .
90. Hỏi: Nguyên nhân gây bệnh động mạch vành là gì?
Trả lời: Quả tim như một khối cơ hoạt động như như một cái bơm tống máu đi khắp cơ thể. Để đảm bảo chức năng này, quả tim phải nhận đủ oxygen. Oxy được cung cấp tới cơ tim qua hệ thống động mạch vành, hệ thống này bao phủ xung quanh quả tim. Khi bị bệnh lí động mạch vành, dòng máu tới động mạch giảm sút. Khi đó cơ tim không nhận đủ oxy, và triệu chứng đau ngực xuất hiện (còn được gọi cơn đau thắt ngực).
Bệnh lí này do sự và lắng đọng những chất béo như cholesterol, nó nằm dọc thành mạch được gọi mảng xơ vữa. Chắc những bạn đã từng nghe tới những khái niệm như “ mảng ”, “ tổn thương ”, “ ùn tắc ” hay “ hẹp ”. Điều này có nghĩa rằng có sự hẹp của thành mạch gây ra do sự dầy lên do và lắng đọng những chất béo, thậm chí còn hoàn toàn có thể gây tắc mạch. Do động mạch vành phân phối máu giàu oxy cho cơ tim nên khi sự ùn tắc không được điều trị hoàn toàn có thể rất nguy khốn, dẫn tới nhồi máu cơ tim hay thậm chí tử vong. Có rất nhiều những nguyên do có hại trong đời sống hoàn toàn có thể gây hẹp hay tắc một hay nhiều những động mạch vành của bạn .
91. Hỏi: Tại sao lại có thể bị bệnh động mạch vành (bị xơ vữa động mạch vành)?
Trả lời: Trong quá trình sống của chúng ta có rất nhiều yếu tố nguy cơ đã được tìm ra là nguyên nhân làm tăng khả năng bị xơ vữa gây hẹp ĐMV. Hiện nay, các nghiên cứu đã cho thấy rõ có 2 loại yếu tố nguy cơ của bệnh ĐMV như sau:
– Yếu tố rủi ro tiềm ẩn không hề biến hóa được :
· Tuổi cao ( nam trên 50 và nữ trên 55 tuổi ) .
· Giới nam rủi ro tiềm ẩn bị nhiều hơn nữ khoảng chừng 2 – 3 lần .
· Gia đình có người bị bệnh ĐMV .
· Chủng tộc .
– Yếu tố rủi ro tiềm ẩn hoàn toàn có thể đổi khác được :
· Hút thuốc lá
· Béo phì
· Lười hoạt động
· THA
· Đái tháo đuờng
· Rối loạn mỡ máu
· Stress …
Vấn đề chính là tất cả chúng ta phải biết rõ tất cả chúng ta hoàn toàn có thể mang những yếu tố rủi ro tiềm ẩn không hề biến hóa được nào và cần phải tránh hoặc từ bỏ hoặc kịp thời khống chế những rủi ro tiềm ẩn hoàn toàn có thể biến hóa được .
Trong mọi truờng hợp, “ phòng bệnh hơn chữa bệnh ” luôn luôn là nguyên tắc bất di bất dịch trong đời sống. Bạn hãy cố gắng nỗ lực tạo cho mình được một đời sống với tối thiểu những yếu tố rủi ro tiềm ẩn nếu hoàn toàn có thể .
92. Hỏi: Làm thế nào ngăn ngừa bệnh động mạch vành?
Trả lời: Để ngăn ngừa bệnh động mạch vành trước tiên, cùng với sự giúp đỡ của thầy thuốc, bạn phải đánh giá là mình thuộc nhóm nguy cơ thấp hay cao.
Nhiều câu hỏi bạn hoàn toàn có thể tự vấn đáp được. Bạn có hút thuốc ? Bạn có thừa cân ? Bạn có uống quá nhiều rượu ? Có ai trong mái ấm gia đình bạn mắc bệnh tim mạch hay THA ?. Tuy nhiên, để nhìn nhận vừa đủ về mức độ rủi ro tiềm ẩn của bản thân, bạn cần có sự trợ giúp của thầy thuốc. Thầy thuốc sẽ đo huyết áp, sẽ gửi máu của bạn đi làm xét nghiệm về cholesterol, triglycerid, HDL-c, LDL-c, đường máu, đồng thời khai thác tiền sử và thực thi quy trình thăm khám. Thầy thuốc hoàn toàn có thể ghi điện tâm đồ hoặc thực thi một vài xét nghiệm chuyên biệt nào đó để xác lập xem quả tim bạn có bị phì đại hay không bình thường không. Bằng việc phối hợp những thông tin thu được về những yếu tố, thầy thuốc sẽ giúp bạn xác lập được yếu tố rủi ro tiềm ẩn tổng thể và toàn diện .
Khi những thông số kỹ thuật về rủi ro tiềm ẩn đã được tích lũy và lượng giá, một chương trình điều trị hướng tới việc kiểm soát và điều chỉnh những yếu tố rủi ro tiềm ẩn hoàn toàn có thể được khởi đầu .
Nếu bạn là người không mang yếu tố rủi ro tiềm ẩn và không mắc bệnh tim mạch, những lời khuyên đơn thuần dưới đây sẽ luôn có ích và nếu có, cũng sẽ rất ít gây hại cho bạn :
· Thực hiện chính sách nhà hàng có lợi cho tim, ít mỡ bão hoà và cholesterol, nhiều rau, quả, cá …
· Giảm cân nặng nếu bạn thừa cân .
· Hạn chế muối đưa vào khung hình. Đa số tất cả chúng ta ăn nhiều muối hơn lượng khung hình tất cả chúng ta cần. Nhiều thức ăn tự nhiên đã chứa muối hoặc muối đã được thêm vào trong quy trình chế biến. Đơn giản nhất, bạn hãy hạn chế cho muối vào thức ăn khi nấu nướng .
· Bắt đầu một chương trình tập luyện thể dục. Tập luyện đều đặn có lợi cho tổng thể mọi người. Bạn hãy chọn một giải pháp tương thích với sở trường thích nghi, thời hạn và năng lực của bạn. Luyện tập đều đặn, mỗi ngày tối thiểu 45 phút .
· Nếu bạn hút thuốc, hãy ngừng ngay .
· Nếu bạn uống rượu, hãy vừa phải .
· Học cách làm giảm căng thẳng mệt mỏi, tránh phản ứng với những trường hợp hoàn toàn có thể gây stress bởi nó chỉ làm yếu tố trở nên trầm trọng hơn mà thôi .
· Đi khám bệnh định kỳ để nhìn nhận mức độ rủi ro tiềm ẩn của bạn. Một hồ sơ trọn vẹn trong sáng về sức khoẻ tại một thời gian nào đó không hề suốt đời bảo vệ được rằng bạn không có bệnh tật .
Trong trường hợp bạn đã được xác lập THAhoặc có lượng cholesterol trong máu cao ? Thời gian mở màn và việc lựa chọn một phác đồ điều trị hãy để người thầy thuốc quyết định hành động, tất yếu phải có sự chấp thuận đồng ý của bạn. Nhìn chung, khi bị THA, tăng lượng cholesterol trong máu hoặc có nhiều yếu tố rủi ro tiềm ẩn phối hợp, bạn cần được điều trị bằng thuốc. Tất nhiên, bạn trọn vẹn hoàn toàn có thể khởi đầu bằng thực thi chính sách ăn kiêng, tập luyện thể lực và kiểm soát và điều chỉnh những thói quen có hại .
93. Hỏi: Dấu hiệu nào phải chú ý là có thể bị nhồi máu cơ tim (NMCT)?
Trả lời: Dấu hiệu cần phải chú ý bạn có thể bị nhồi máu cơ tim đó là triệu chứng đau thắt ngực. Cơn đau thắt ngực điển hình là đau như bóp nghẹt phía sau xương ức hoặc hơi lệch sang trái, lan lên vai trái và mặt trong tay trái cho đến tận ngón đeo nhẫn và ngón út. Nhiều khi bạn có cảm giác như bị “voi giẫm lên ngực”. Cơn đau thường kéo dài hơn 20 phút và không đỡ khi dùng Nitroglycerin. Một số trường hợp đau có thể lan lên cổ, cằm, vai, sau lưng, tay phải, hoặc vùng thượng vị.
Tuy nhiên cũng có một số ít trường hợp NMCT hoàn toàn có thể xảy ra mà bệnh nhân không hoặc ít cảm xúc đau ( NMCT thầm lặng ), hay gặp ở bệnh nhân sau mổ, người già, bệnh nhân có tiểu đường hoặc THA .
Kèm theo đau người bệnh hoàn toàn có thể rất hoảng sợ, vã mồ hôi, khó thở, hoảng sợ đánh trống ngực, nôn hoặc buồn nôn, lú lẫn …
Khi bạn bị đau ngực như vậy hãy nằm yên và gọi người giúp sức hoặc gọi điện thoại thông minh cấp cứu. Không được nỗ lực đi lại hoặc liên tục thao tác gì đó .
94. Hỏi: Tôi được biết hiện nay có phương pháp chụp động mạch vành qua đường ống thông để chẩn đoán chính xác bệnh động mạch vành, phương pháp này như thế nào? Có nguy hiểm không? Khi nào cần làm và chuẩn bị ra sao?
Trả lời:Can thiệp mạch vành qua da là một kỹ thuật dùng một loại ống thông nhỏ (catheter) để đưa một bóng nhỏ vào lòng động mạch vành bị tắc rồi nong và đặt Stent (giá đỡ) để làm tái thông dòng máu. Trái với phẫu thuật bắc cầu nối chủ vành cần mở lồng ngực, can thiệp động mạch vành có thể thực hiện chỉ bằng cách mở một lỗ nhỏ trên da để đưa catheter vào động mạch ở đùi hay cổ tay. Người bệnh sẽ được gây tê tại vùng chọc nên nhìn chung, thủ thuật này không gây đau hơn một lần lấy máu làm xét nghiệm. Bệnh nhân vẫn luôn tỉnh táo trong suốt quá trình thực hiện thủ thuật. Quá trình thực hiện thủ thuật thường được tiến hành trong vòng 1 giờ và phần lớn bệnh nhân có thể về nhà sau 1 – 2 ngày tính từ khi kết thúc thủ thuật.
Ngày nay, dụng cụ nhỏ hơn và tốt hơn rất nhiều so với những dụng cụ được sử dụng chụp động mạch vành lần tiên phong cách đây vài thập kỷ. Những loại thuốc mới cũng góp thêm phần làm tác dụng can thiệp tốt hơn, duy trì vĩnh viễn hơn và giảm được nhiều biến chứng trong quy trình thực thi thủ pháp .
95. Hỏi: Đặt stent động mạch vành là gì? Khi nào cần làm? Làm như thế nào?
Trả lời:Đặt stent mạch vành là thủ thuật ngoại khoa được áp dụng trong điều trị bệnh mạch vành. Trong đó, bác sỹ sẽ dùng một ống thông nhỏ có bóng nong ở đầu luồn theo đường mạch máu từ bẹn hoặc cánh tay lên tới vị trí mạch vành bị tắc nghẽn và thổi phồng quả bóng để nén mảng xơ vữa lại. Tiếp đó, stent – một khung kim loại dạng lưới được để lại tại vị trí vừa nong bóng để cố định mạch vành, đảm bảo máu được lưu thông một cách dễ dàng.
Đặt stent được chỉ định với trường hợp mạch vành bị tắc hẹp nặng, không phân phối tốt với điều trị bằng thuốc và trong xử trí nhồi máu cơ tim cấp .
Trước khi chụp hay đặt stent động mạch vành, bác sĩ sẽ lý giải cho bạn hoặc thân nhân của bạn tại sao cần triển khai kỹ thuật này, dự kiến giải pháp thực thi thế nào và những nguy cơ biến chứng hoàn toàn có thể xảy ra trong quy trình triển khai. Ngày nay, với những tân tiến trong trang thiết bị, phương tiện đi lại hồi sức và thuốc tương hỗ, chụp và can thiệp động mạch vành qua da đã bảo đảm an toàn hơn và rủi ro tiềm ẩn của nó đã giảm đi rất nhiều. Tuy nhiên nó vẫn là một thủ pháp xâm nhập gây chảy máu và hoàn toàn có thể xảy ra những rủi ro tiềm ẩn nhất định .
Trước khi triển khai chụp động mạch vành, bạn cần được dùng vừa đủ 1 số ít thuốc như aspirin, clopidogrel, … cũng như cần dừng 1 số ít loại thuốc khác bạn đang dùng như thuốc đái tháo đường nhóm metformin hay coumadin. Bệnh nhân có tiền sử dị ứng với thuốc cản quang hoàn toàn có thể phải dùng 1 số ít thuốc chống dị ứng trước thủ pháp tối thiểu 1 ngày để giảm rủi ro tiềm ẩn xảy ra phản ứng dị ứng nặng nề. Tốt nhất hãy nói cho bác sĩ của bạn biết nếu như bạn bị dị ứng với thuốc nhuộm hay tôm cua .
Khi ở trong phòng can thiệp, bạn sẽ được chuyển lên bàn can thiệp. Chụp và can thiệp động mạch vành hoàn toàn có thể được thực thi qua động mạch vùng bẹn, khuỷu hay cổ tay. Vùng làm thủ pháp sẽ được làm sạch và cạo lông, sát khuẩn sạch và phủ vải vô khuẩn xung quanh. Bác sĩ làm thủ pháp sẽ gây tê vùng đó bằng thuốc tê trước khi mở một lỗ nhỏ vào lòng động mạch tại vùng đó. Tiếp theo, một ống nhỏ ( được gọi là sheath ) sẽ được đưa vào động mạch. Qua ống này, một catheter dẫn đường đặc biệt quan trọng sẽ được đưa vào để lái theo động mạch đến động mạch vành. Sau đó, một dây dẫn rất nhỏ và mỏng mảnh được luồn qua ống thông trên để đưa đến vị trí tổn thương rồi xuyên qua chỗ tắc trong lòng động mạch vành. Tuỳ thuộc vào tổn thương của động mạch vành, bác sỹ hoàn toàn có thể dùng một bóng nhỏ đặc biệt quan trọng đưa vào nong chỗ hẹp tắc trong động mạch vành hay không. Quả bóng này giúp mở chỗ tắc bằng cách ép mạnh mảng xơ vữa vào thành mạch làm mở thông động mạch. Có thể cần nong một vài lần tiếp theo với những cỡ bóng to hơn hay với áp lực đè nén cao hơn để giảm mức độ ùn tắc. Thông thường, nong động mạch vành bằng bóng hoàn toàn có thể làm mức độ hẹp giảm đi từ 20 – 30 %. Cuối cùng, một hoặc một vài stent sẽ được đặt vào vị trí tổn thương để giảm tỷ suất tái hẹp sau can thiệp .
Trong kỹ thuật đặt stent, một stent được đặt bên ngoài quả bóng nong gắn trên đầu một dây dẫn đặc biệt quan trọng. Khi quả bóng nong được bơm căng sẽ làm mở stent và ép vào thành động mạch vành. Khi dây dẫn mang quả bóng được rút ra, stent sẽ nằm lại trong lòng mạch, có tính năng như một giá đỡ làm cho lòng mạch không co hẹp lại .
Một tân tiến gần đây là sự tăng trưởng của loại stent phủ thuốc có công dụng làm giảm rủi ro tiềm ẩn mảng xơ vữa tăng trưởng trở lại sau một thời hạn. Thuốc được phủ lên những mắt lưới trên stent. Sau khi stent được đưa vào trong động mạch vành, thuốc từ từ được phóng thích vào thành mạch trong vài tuần hoặc vài tháng .
Khi động mạch vành bị tắc chỉ được điều trị với nong bằng bóng đơn thuần, rủi ro tiềm ẩn của hẹp tái phát gây triệu chứng ( đau ngực tái phát ) là khoảng chừng 30 %. Nếu đặt stent, rủi ro tiềm ẩn này giảm xuống khoảng chừng 20 % còn nếu đặt stent phủ thuốc thì rủi ro tiềm ẩn tái hẹp chỉ còn 5 – 10 %. Bác sỹ làm thủ pháp sẽ lý giải cho thân nhân của người bệnh nên đặt stent thường ( không phủ thuốc ) hay stent phủ thuốc tùy thuộc vào từng trường hợp đơn cử .
Bệnh nhân thường được khởi đầu điều trị trước can thiệp bằng clopidogrel một vài ngày trước khi chụp và đặt stent động mạch vành. Clopidogrel là thuốc có tính năng làm giảm kết dính tiểu cầu như aspirin. Clopidogrel và những thuốc tựa như cần được dùng tối thiểu trong 4 tuần sau đặt stent không bọc thuốc hay 6 đến 12 tháng sau khi đượcđặt stent phủ thuốc để dự trữ hình thành huyết khối gây tắc stent .
96. Hỏi: THA có di truyền không?
Trả lời:THA không di truyền hay không thì hiện nay khoa học chưa chứng minh được, nhưng trong thực tế thống kê cho thấy THA có yếu tố gia đình, tức là bố hoặc mẹ hoặc cả hai người bị THA thì cón cái có nguy cơ rất cao bị THA. Cụ thể: Nếu huyết áp của cả bố và mẹ đều bình thường thì tỷ lệ mắc bệnh THA của con là 3%. Nếu bố, mẹ có một người bị bệnh THA thì tỷ lệ mắc bệnh của con là 28%. Nếu cả bố lẫn mẹ đều mắc THA thì tỷ lệ bị THA của con là 45%.
Tuy nhiên, bệnh THA vẫn hoàn toàn có thể trấn áp được bằng chính sách ẩm thực ăn uống hài hòa và hợp lý, tuyệt đối không nên ăn quá mặn, ăn nhiều trái cây, hoa quả, rau xanh, uống nhiều nước trên 2 lít nước mỗi ngày. Thường xuyên luyện tập thể dục thể thao, hít thở, yoga, đi bộ, thiền … tập tiếp tục đều đặn. Bên cạnh đó cần phải kiểm soát và điều chỉnh cảm hứng để tránh cang thẳng, stress … .
97 .Hỏi :Giá đặt stent mạch vành là bao nhiêu ?
Trả lời: Chi phí đặt stent mạch vành tùy thuộc vào loại stent mà lựa chọn cũng như chi phí thuốc men, giường bệnh của từng bệnh viện. Dưới đây là bảng thống kê chi phí đặt stent tại một số bệnh viện mà người người bệnh có thể tham khảo:
|
Tên bệnh viện |
Địa chỉ |
Số điện thoại |
Chi phí đặt stent |
| Bệnh viện Việt Đức | Số 14 Phủ Doãn, phường Hàng Bông, Q. Hoàn Kiếm, TP.HN . | 0243 825 3531 | 50.000.000 – 70.000.000 đ . |
| Bệnh viện tim Thành Phố Hà Nội | Số 92 Trần Hưng Đạo, phường Cửa Nam, Q. Hoàn Kiếm, TP.HN . | 0243 942 2430 | 40.000.000 – 60.000.000 đ . |
| Viện tim mạch – Bệnh viện Bạch Mai | Số 78 Giải Phóng, phường Phương Mai, Q. Đống Đa, TP.HN | 0243 692 1268 | 40.000.000 – 60.000.000 đ . |
| Bệnh viện Chợ Rẫy | Số 201B Nguyễn Chí Thanh, Quận 5, TP Hồ Chí Minh | 0283 855 4137 | 40.000.000 – 50.000.000 đ . |
| Bệnh viện tim Tâm Đức | Số 4 Nguyễn Lương Bằng KĐT mới Phú Mỹ Hưng, phường Tân Phú, Q. 7, TP TP HCM . | 0285 411 0025 | 60.000.000 – 90.000.000 đ . |
| Bệnh viện Nhân dân 115 | Số 527 Sư Vạn Hạnh, phường 12, Q. 10, TP Hồ Chí Minh . | 0283 865 4249 | 40.000.000 – 50.000.000 đ |
98. Hỏi: Nếu là người trưởng thành và không có tiền sử THA, định kỳ bao lâu cần được kiểm tra huyết áp?
Trả lời:Nếu huyết áp bình thường, dưới 120/80 mmHg thì cần được kiểm tra huyết áp ít nhất 2 năm 1 lần hoặc nên đi khám sức khỏe định kỳ. Nếu có tiền sử THA hay nếu có bệnh nào đó như tiểu đường, bệnh tim, bệnh thận thì cần được kiểm tra thường xuyên hơn.
99 .Hỏi : Khi bịTHA thì giảm cân như thế nào ?
Trả lời: Mỗi kilogram giảm được là mỗi bước quan trọng để hạ huyết áp. Cần cố gắng đạt được chỉ số khối lượng cơ thể tối ưu (BMI – Body Mass Index từ 18 đến 23) để phòng tránh và điều trị huyết áp cao cũng như nhiều bệnh lý khác như tim mạch, đái tháo đường. Thầy thuốc sẽ cho biết nên giảm mấy kilogram và làm cách nào tốt nhất để đạt được sự giảm cân.
100 .Hỏi :Tuân thủ những pháp luật về điều trị bệnh THA như thế nào ?
Trả lời: Trong điều trị THA, việc dùng thuốc để khống chế huyết áp dưới mức 140/90mmHg là rất cần thiết, nhưng chưa đủ, phải tuân thủ chế độ ăn uống, luyện tập, sinh hoạt để loại bỏ yếu tố nguy cơ là việc cực kỳ quan trọng. Bởi vì nếu dùng thuốc đúng theo chỉ định của Bác sỹ, nhưng vẫn ăn mặn thì hết áp không thể hạ về bình thường được, nghĩa là không đạt mục tiêu.
Theo cách điều trị THAhiện nay, những thầy thuốc phối hợp nhiều loại thuốc hạ huyết áp với liều thấp có hiệu suất cao hơn là sử dụng một loại thuốc hạ huyết áp với liều cao. Các nhóm thuốc hạ huyết áp thường được sử dụng lúc bấy giờ gồm có : nhóm thuốc lợi tiểu ; nhóm thuốc chẹn kênh canxi ; nhóm thuốc ức chế thụ thể bêta ; nhóm thuốc ức chế thụ thể alpha ; nhóm thuốc ức chế men chuyển ; nhóm thuốc ức chế thụ thể angiotensin II .
Bs. Nguyễn Thái Hồng
PGĐ Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Bắc Kạn
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Nghiên Cứu






