TÊN ĐỀ TÀI: CÁC YẾU TỐ GÂY RA TÌNH TRẠNG LO ÂU, TRẦM CẢM, STRESS CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài/tính cấp thiết của đề tài
Giới trẻ nói chung và sinh viên nói riêng ngày nay thường phải chịu áp lực rất lớn, đó có thể là áp lực tâm lý dẫn đến mệt mỏi, căng thẳng thần kinh, … Chúng ta thường gọi là stress. Các nghiên cứu trên thế giới đều cho thấy tỷ lệ biểu hiện stress ở sinh viên đều biểu hiện rất là cao (Schuder-Kirsten Statistic, 2020).
Tại Việt Nam, sinh viên có lượng học vấn cao và áp lực sự nghiệp sau này nên khả năng bị stress rất cao. Theo một nghiên cứu của Đại học Y Dược TP.HCM, 77% sinh viên có dấu hiệu căng thẳng (Lê Minh Thuận, 2011). Một nghiên cứu năm 2017 của Đại học Y tế Công cộng cho thấy 34,4% sinh viên có biểu hiện căng thẳng (Nguyễn Thành Trung, 2017). Điều đó cho thấy mức độ stress, lo âu, trầm cảm ở sinh viên rất là cao.
Ở Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, cũng có rất nhiều bạn sinh viên đang phải đối mặt với các vấn đề áp lực tâm lý gây ra tình trạng stress, lo âu, trầm cảm. Đó cũng là lí do mà nhóm chọn đề tài: ‘Các yếu tố gây ra tình trạng lo âu, trầm cảm, stress của sinh viên trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh’. Với đề tài này, nhóm sẽ tìm hiểu các yếu tố gây ra tình trạng stress, lo âu, trầm cảm của sinh viên từ đó đưa ra những đề xuất giúp sinh viên làm sao có thể ứng phó được với các vấn đề về stress, lo âu, trầm cảm.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chính: Tìm hiểu các yếu tố gây ra tình trạng lo âu, stress, trầm cảm của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Để thực hiện được mục tiêu tổng quát nói trên, nhóm đã nghiên cứu đưa ra các mục tiêu cụ thể như sau:
-Mức độ lo âu, trầm cảm, stress của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh.
-Xác định các nhân tố gây ra tình trạng lo âu, stress, trầm cảm của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Áp lực học tập
+ Sự thất vọng về bản thân
-Đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế gây ra stress, lo âu, trầm cảm cho sinh viên trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Các mối quan hệ bạn bè
3. Câu hỏi nghiên cứu
-Mức độ lo âu, trầm cảm, stress của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh như thế nào?
-Các mối quan hệ bạn bè, người thân có phải là yếu tố gây ra tình trạng lo âu, stress, trầm cảm của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh?
-Áp lực học tập có phải là yếu tố gây ra tình trạng lo âu, stress, trầm cảm của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh?
-Sự thất vọng về bản thân có phải là yếu tố gây ra tình trạng lo âu, stress, trầm cảm của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh?
-Làm sao để có thể hạn chế gây ra stress, lo âu, trầm cảm sinh viên trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh?
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng
Để thực hiện được đề tài: ‘Các yếu tố gây ra tình trạng lo âu, stress, trầm cảm của sinh viên trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh’, nhóm đã tiến hành khảo sát những sinh viên các khoa Thương mại du lịch, Tài chính ngân hàng, Kế toán trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh. Trong đó đối tượng phân tích chủ yếu của đề tài này là các yếu tố gây ra các tình trạng lo âu, stress, trầm cảm của sinh viên trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Sinh viên khoa Thương mại du lịch, Tài chính ngân hàng, Kế toán trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh.
Thời gian: trong vòng 10 tháng từ tháng 10-2021 đến 7-2022
Quy mô: 800 sinh viên (n=50+8*m, m là biến quan sát)
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
5.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Vấn đề trầm cảm, stress, lo âu của sinh viên đang là một vấn đề rất quan trọng trong hiện nay, vì số lượng sinh viên bị trầm cảm, stress, lo âu ngày càng tăng và nghiêm trọng. Vấn đề nghiên cứu về các yếu tố gây ra trầm cảm, stress, lo âu là hiện tượng cấp thiết với các sinh viên trường đại học và cụ thể là sinh viên trường Đại học Công Nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu về đề tài này sẽ giúp cho bản thân, gia đình và nhà trường có những giải pháp để sinh viên có thể phát triển tốt bản thân. (Nguyễn Đạt Đạm, 2018)
5.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu sẽ cho chúng ta đưa ra được những biện pháp cụ thể để khắc phục những hạn chế và nhằm nâng cao mặt tích cực. Việc phân tích những yếu tố gây ra trầm cảm, stress, âu lo của sinh viên trường Đại học Công Nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh xuất phát từ mặt học tập và đời sống. Qua đó sẽ giúp cho nhà trường đưa ra được những giải pháp kịp thời có thể đáp ứng và bổ sung cho những thiếu sót. Và gia đình phối hợp với nhà trường tạo cho sinh viên điều kiện tốt nhất nhằm giúp cho sinh viên có những suy nghĩ tích cực và tâm lý tốt. (Nguyễn Đạt Đạm, 2018)
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Các khái niệm
1.1.1. Khái niệm trầm cảm
-WHO (Tổ chức Y tế thế giới) định nghĩa rằng: “Trầm cảm là một rối loạn tâm thần phổ biến, đặc trưng bởi sự buồn rầu, mất sự thích thú hoặc khoái cảm, cảm giác tội lỗi hoặc giá trị bản thân thấp, rối loạn giấc ngủ, ăn uống và kém tập trung” (Lưu Thị Liên, 2020)
-Trong từ điển Tâm lý học của tác giả Vũ Dũng, ông nhận định: “Trầm cảm là trạng thái xúc cảm mạnh đặc trưng bởi bối cảnh cảm xúc âm tính, bởi những thay đổi của môi trường về những quan điểm của động cơ nhận thức và bởi tính thụ động của hành vi nói chung” (Nguyễn Thị Bình, 2015)
-Theo bảng phân loại lần thứ 4 của hiệp hội tâm thần học Mỹ (DSM – IV, 1984) và Bảng phân loại bệnh quốc tế (ICD – 10): “Trầm cảm là trạng thái rối loạn cảm xúc, biểu hiện bằng giảm khí sắc, mất mọi quan tâm thích thú, giảm năng lượng dẫn đến tăng sự mệt mỏi và giảm hoạt động, phổ biến là tăng sự mệt mỏi sau một số cố gắng nhỏ, tồn tại trong một khoảng thời gian kéo dài, ít nhất là hai tuần” (Nguyễn Thị Bình, 2015)
-Trầm cảm là một trạng thái rối loạn cảm xúc được biểu hiện một cách rõ rệt bởi khí sắc, hành vi, ứng xử thể hiện sự buổn rầu, kèm theo cảm giác chán chường, bi quan thậm chí có ý nghĩ tự sát, ức chế gần như toàn bộ các mặt hoạt động thể chất và tâm lý. (Nguyễn Thị Bình, 2015)
1.1.2. Khái niệm stress
-“Stress” là một từ tiếng Anh được bắt nguồn từ chữ “strictus” và từ “stringere” trong tiếng La tinh, có hàm nghĩa là sự bất hạnh, căng thẳng. Ban đầu, để chỉ sức nén mà một loại vật liệu phải chịu trong vật lý, người ta sử dụng từ stress. Sang thế kỷ XVII, thuật ngữ stress đã được ứng dụng vào cả ngành y học và tâm lý học. Khi ấy, stress có nghĩa là sức ép hoặc một sự xâm phạm ảnh hưởng đến con người gây nên một loại phản ứng gọi là căng thẳng. (Lưu Thị Liên, 2020)
-Đến nay, stress vẫn chưa có một định nghĩa cụ thể, rõ ràng nào. Các định nghĩa và các khái niệm về stress đều được đúc kết từ những công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn khác nhau. Các định nghĩa, khái niệm về stress này cũng còn tùy thuộc vào quan niệm, cách nhìn nhận vấn đề của các tác giả nghiên cứu. (Lưu Thị Liên, 2020)
-Theo Tâm lý học Y học – Y đức của tác giả Nguyễn Huỳnh Ngọc (2010): “Stress là một kích thích tác động mạnh vào con người, là phản ứng sinh lý và tâm lý của con người đối với tác động đó. Stress đặt con người vào quá trình thích ứng với môi trường xung quanh, tạo cho cơ thể một trạng thái cân bằng mới sau khi chịu tác động của môi trường. Nói cách khác, stress bình thường giúp con người thích nghi với môi trường sống. Nếu sự đáp ứng của cá nhân đối với stress không đầy đủ, không phù hợp và cơ thể không tạo nên một sự cân bằng mới, thì những chức năng của cơ thể ít nhiều bị rối loạn, những dấu hiệu bệnh lý về thể chất và tâm lý sẽ xuất hiện. Học thuyết về stress của Hans Seyle nhấn mạnh vai trò của cảm xúc đối với thể chất và đó là căn nguyên của các bệnh tâm thể như loét dạ dày – tá tràng, hen phế quản, chàm (eczema)…” (14; tr 67-68)
1.1.3. Khái niệm lo âu
-Từ điển Tâm lý học của Vũ Dũng (2008) định nghĩa về lo âu như sau: “Trải nghiệm cảm giác tiêu cực được quy định bởi sự chờ đợi điều gì đó nguy hiểm, có tính chất khuếch tán, không liên quan đến các sự kiện cụ thể. Trạng thái cảm xúc xuất hiện trong các tình huống nguy hiểm không xác định và được thể hiện trong việc chờ đợi sự tiến triển không thuận lợi của sự kiện. Khác với hoảng sợ, được coi là một phản ứng đối với một đe dọa cụ thể nào đó, lo âu thể hiện sự sợ hãi chung chung, mang tính lan truyền và không có đối tượng và thường có liên hệ với việc chờ đợi điều không may trong tương tác xã hội và thường được tạo bởi sự không ý thức được nguồn gốc của nỗi nguy hiểm. Khi có lo âu ở cấp độ sinh lý, nhịp thở tăng, tim đập nhanh hơn, huyết áp cao cao hơn, hưng phấn tăng, ngưỡng tri giác giảm. Về mặt chức năng, lo âu không chỉ cảnh báo về sự nguy hiểm có thể xảy ra, mà còn kích thích tìm kiếm và cụ thể hóa mối nguy hiểm đó, tích cực tìm hiểu thực tế với mục đích xác định đối tượng đe dọa. Lo âu có thể biểu hiện như cảm giác về sự bất lực, thiếu tự tin vào bản thân, bất lực trước các yếu tố bên ngoài, phóng đại sức mạnh và tính đe dọa của chúng. Biểu hiện về hành vi của lo âu nằm ở chỗ hóa giải các hoạt động làm ảnh hưởng đến xu hướng và hiệu quả của hoạt động.” (5; tr 423)
-Theo Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ (APA, 1994), lo âu là trạng thái khí sắc tiêu cực được đặc trưng bởi những triệu chứng của cơ thể như căng trương lực cơ và lo sợ về tương lai. (Nguyễn Thị Thu Sương, 2015)
1.1.4. Khái niệm sinh viên
-Từ điển Giáo dục học định nghĩa: “Sinh viên là người học của cơ sở giáo dục cao đẳng, đại học” (Vũ Thùy Hương, 2018)
-Theo Luật Giáo dục đại học định nghĩa sinh viên như sau: “Sinh viên là người đang học tập và nghiên cứu khoa học tại cơ sở giáo dục đại học, theo học chương trình đào tạo cao đẳng, chương trình đào tạo đại học” (Vũ Thùy Hương, 2018)
1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước theo khung khái niệm
-Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu về stress, lo âu, trầm cảm ở sinh viên đang được tiến hành tại nhiều trường học khác nhau. Một số công trình nghiên cứu có thể liệt kê như sau:
-Nghiên cứu của Hoàng Thị Quỳnh Lan (2020) về “Mối tương quan giữa giữa căng thẳng trong học tập và mức độ lo âu, trầm cảm, stress của sinh viên trường Đại học Bách khoa Hà Nội”. Nghiên cứu chỉ ra các mối tương quan giữa các yếu tố áp lực học tập, sự thất vọng về bản thân, lo lắng về điểm số và các kỳ thi, sự kỳ vọng về bản thân với tình trạng stress, lo âu, trầm cảm ở sinh viên. Khi phân tích dữ liệu thu được bằng thang đo Căng thẳng học tập (ESSA), kết quả ghi nhận được trong bốn yếu tố được đề cập, yếu tố gây ảnh hưởng lớn nhất đến sự căng thẳng ở sinh viên trường Đại học Bách Khoa Hà Nội là yếu tố áp lực học tập (điểm trung bình M=2,76 ± 0,90) và yếu tố sự thất vọng về bản thân (điểm trung bình M=2,58 ± 1,19).
-Tác giả Hồ Thị Trúc Quỳnh và tác giả Nguyễn Văn Bắc đã công bố công trình nghiên cứu “Hỗ trợ xã hội và trầm cảm ở sinh viên Đại học Huế” trên tạp chí Tâm lý học vào năm 2021. Tác giả đã sử dụng Thang đo Hỗ trợ xã hội (PSSS, 1988), Thang đo Lòng tự trọng của Rosenberg (RSES, 1965) và Thang đo Trầm cảm, lo âu và stress (DASS – 21) để phân tích thông tin thu thập từ 606 sinh viên trường Đại học Huế. Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các yếu tố mối quan hệ bạn bè, người thân và mối quan hệ người đặc biệt. Các mối quan hệ bạn bè, người thân, người đặc biệt đều có tác động đến mức độ trầm cảm được điều tiết bởi lòng tự trọng ở sinh viên với chỉ số β lần lượt là 0,045; 0,043; 0,035.
-Luận văn nghiên cứu “Nhận thức của sinh viên về rối loạn trầm cảm” của Thạc sĩ Tâm lý học Nguyễn Thị Bình (2015) đã tiến hành khảo sát trên 600 sinh viên của các khoa – trường: Tâm lý – Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Lịch sử -Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Cơ khí – Đại học Bách Khoa, Kế toán – Đại học Kinh tế Quốc dân, Tâm lý – Học viện Quản lý Giáo dục, Y đa khoa – Đại học Y Hà Nội thông qua các phương pháp điều tra bằng câu hỏi, phỏng vấn sâu và thống kê toán học. Các dữ liệu thu thập được trong công trình nghiên cứu cho thấy nhận thức của sinh viên về rối loạn trầm cảm là chưa cao. Khi được đặt câu hỏi là Theo bạn, những nguyên nhân nào có thể dẫn đến trầm cảm? thì tỷ lệ sinh viên cho rằng nguyên nhân xuất phát từ các yếu tố tâm lý (quan hệ bạn bè, người thân, áp lực học tập, áp lực xã hội…) chiếm 69,5%, còn 8,7% cảm thấy nguyên nhân của rối loạn trầm cảm là do các yếu tố sinh lý (thương tổn não bộ, thay đổi hoocmon…), 3,3% cho rằng nguyên nhân của bệnh lý rối loạn trầm cảm nằm ở cả hai yếu tố tâm lý và sinh lý và có đến 18,5% sinh viên không biết nguyên nhân dẫn đến rối loạn trầm cảm.
-Tác giả Nguyễn Thanh Trúc, Nguyễn Thị Bích Tuyền đã công bố công trình nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến stress, lo âu, trầm cảm của sinh viên năm cuối ngành Dược tại Đồng Nai” trên tạp chí Khoa học và Công nghệ -Đại học Đà Nẵng vào năm 20202. Để hỗ trợ cho việc nghiên cứu, đánh giá và phân tích dữ liệu, tác giả đã sử dụng các công cụ nghiên cứu: Thang đo đánh giá lo âu, trầm cảm, stress (DASS – 21) và bảng hỏi Likert 4 khảo sát mức độ các yếu tố dẫn đến stress, lo âu, trầm cảm ở sinh viên. Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố các mối quan hệ gia đình, áp lực học tập và dự định nghề nghiệp sau khi ra trường có mối tương quan với stress, trầm cảm, lo âu, riêng yếu tố học tập không có ảnh hưởng đến stress, lo âu, trầm cảm ở sinh viên. Cụ thể, trong bảng thống kê mối tương quan giữa các yếu tố với stress, lo âu, trầm cảm, yếu tố học tập có các chỉ số r lần lượt là 0,116; 0,120; 0,163 tương ứng với stress, lo âu, trầm cảm. Chỉ số r biểu thị mối liên hệ giữa yếu tố học tập với stress, lo âu, trầm cảm theo thứ tự là 0,397; 0,286; 0,343. Ngoài ra, sự ảnh hưởng của gia đình đối với stress, lo âu, trầm cảm ở sinh viên chủ yếu đến từ sự kỳ vọng của gia đình thể hiện ở mối liên hệ giữa gia đình – trầm cảm (r = 0,427), gia đình – lo âu (r = 0,325), gia đình – stress (r = 0,320). Đồng thời, yếu tố dự định về nghề nghiệp cũng có ảnh hưởng đến tâm lý của sinh viên năm cuối ngành Dược ở Đồng Nai (các chỉ số p<0,05).
-Tác giả Nguyễn Thu Hằng (N.T. Hằng, 2019) công bố công trình: ‘Khảo sát rối nhiễu lo âu của sinh viên năm thứ tư trường Đại học Điều dưỡng Nam Định’ trên tạp chí Khoa học Điều dưỡng vào năm 2019. Tác giả khảo sát trên 500 sinh viên chính quy khóa 9 trường Đại học Điều dưỡng Nam Định. Tác giả nghiên cứu các yếu tố gây ra tình trạng lo âu, stress, trầm cảm ở sinh viên bao gồm áp lực học tập, công việc sau khi ra trường,… Kết quả cho thấy áp lực học tập và công việc sau khi ra trường là hai yếu tố chủ đạo, ảnh hưởng trực tiếp gây ra tình trạng lo âu, căng thẳng cho sinh viên. Cụ thể, trong bảng khảo sát yếu tố công việc sau khi ra trường với số điểm tương đương 0,58 và xếp hạng 1 trong bảng khảo sát theo sau là yếu tố áp lực học tập với xếp hạng 2 tương đương với số điểm trung bình 2,44.
-Tác giả Trần Thị Ly (T.T. Ly,2021) công bố công trình “Thực trạng stress của sinh viên chính quy năm cuối thuộc các chuyên ngành tại trường Đại học Y -Dược Thái Nguyên năm 2020 và một số yếu tố liên quan” trên tạp chí y học Việt Nam vào năm 2021. Tác giả khảo sát 862 sinh viên chính quy năm cuối thuộc các chuyên ngành tại trường Đại học Y – Dược Thái Nguyên. Tác giả nghiên cứu các yếu tố gây ra tình trạng lo âu, stress, trầm cảm ở sinh viên bao gồm các mối quan hệ bạn bè, người thân, áp lực học tập, áp lực tài chính. Kết quả cho thấy áp lực học tập là yếu tố ảnh hưởng không hề nhỏ tới tình trạng stress ở bất cứ ngành học nào của sinh viên với tỷ lệ 51,8% và 24,2%.
-Nguyễn Thị Như Nguyệt (N.T.N. Nguyệt, 2020) công bố công trình ‘Phân tích các yếu tố gây ra áp lực đối với sinh viên Học viện Ngân hàng trên tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng’ vào năm 2020. Tác giả khảo sát hơn 400 sinh viên của Học viện Ngân hàng. Tác giả nghiên cứu các yếu tố gây ra tình trạng lo âu, stress, trầm cảm ở sinh viên bao gồm áp lực phát triển bản thân, áp lực học tập, áp lực kinh tế. Kết quả áp lực phát triển bản thân muốn được tự chủ, theo đuổi hoài bão lớn, không phụ thuộc vào người thân là áp lực lớn nhất gây căng thẳng cho sinh viên. Cụ thể, yếu tố áp lực phát triển bản thân trong bảng khảo sát có hệ số beta lớn nhất 0,196.
1.3. Những vấn đề/khía cạnh còn chưa nghiên cứu
-Các công trình nghiên cứu được triển khai trước đó đã tìm ra được các yếu tố có ảnh hưởng đến mối tương quan giữa stress, lo âu, trầm cảm với sinh viên các trường Đại học. Một số yếu tố được đề cập đến trong các tạp chí, luận văn:
• Áp lực học tập, điểm số
• Mối quan hệ với bạn bè, gia đình
• Mối quan hệ với người đặc biệt
• Sự thất vọng về bản thân
• Sự kỳ vọng vào bản thân
• Áp lực từ xã hội
• Chương trình học
• Yếu tố sinh lý: Thay đổi hoocmon, thương tổn não bộ…
-Các yếu tố liên quan đến sự tác động của stress, trầm cảm, lo âu đến sinh viên là một vấn đề phổ biến cần được quan tâm trong xã hội. Chính vì thế, đã có rất nhiều nhà nghiên cứu tiến hành tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này. Nhóm chúng em quyết định lựa chọn nghiên cứu các yếu tố dẫn đến stress, lo âu, trầm cảm ở sinh viên nhằm mục đích tìm ra nguyên nhân và các khắc phục cho các bệnh lý này. Nội dung nghiên cứu của nhóm chúng em chủ yếu tập trung vào các yếu tố:
• Các mối quan hệ bạn bè, người thân
• Áp lực học tập
• Sự thất vọng về bản thân
• Áp lực tài chính
• Áp lực phát triển bản thân
• Chương trình học
• Cơ hội tìm kiếm việc làm sau khi ra trường
-Thông qua việc nghiên cứu các yếu tố trên có ảnh hưởng đến stress, lo âu, trầm cảm ở sinh viên hay không, nhóm chúng em có thể bổ sung vào hệ thống kiến thức các kết quả nghiên cứu khách quan nhất.
NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP
2.1. Nội dung
2.1.1 Thiết kế nghiên cứu: Định lượng và cắt ngang, chọn mẫu xác suất
Nghiên cứu sử dụng thiết kế định lượng. Lý do sử dụng nghiên cứu định lượng vì: các yếu tố gây ra stress, lo âu, trầm cảm sinh viên là một khái niệm đa hướng, có mối liên hệ với nhiều yếu tố khách quan đến từ bên ngoài và yếu tố chủ quan đến từ bản thân của đối tượng. Do đó, nghiên cứu định lượng sẽ là lựa chọn hợp lý và cho phép thu thập nhiều thông tin hơn về khái niệm này so với nghiên cứu định tính. Nghiên cứu này mặc dù chỉ thực hiện tại trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh; nhưng nghiên cứu định lượng có thể khái quát hóa cho các trường tại thành phố khác ở Việt Nam.
Nếu sử dụng phương pháp thu thập thông tin định tính (phỏng vấn, quan sát, thảo luận nhóm…) thì sẽ mất rất nhiều thời gian, chi phí, kết quả nghiên cứu chỉ mang tính chất cá nhân. Ngược lại, thu thập thông tin bằng phương pháp định lượng (khảo sát bằng bảng câu hỏi) thì sẽ thu thập được lượng thông tin lớn nhưng không mất quá nhiều thời gian và chi phí cho quá trình thực hiện khảo sát, thông tin mang tính khái quát cho toàn bộ người dân. Vì vậy, nhóm quyết định chọn phương pháp thu thập dữ liệu là khảo sát bằng bảng câu hỏi.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu xác suất, vì nó đại diện cho toàn bộ dân số chọn mẫu, nên kết luận rút ra có thể khái quát hoá cho toàn bộ dân số chọn mẫu.
2.1.2. Chọn mẫu
Nghiên cứu sẽ được tiến hành ở sinh viên trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh.
Nghiên cứu quyết định dùng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên theo cụm để chọn mẫu khảo sát. Đầu tiên dân số nghiên cứu sẽ được chia thành cụm theo các khoa Thương mại du lịch, Tài chính ngân hàng, Kế toán. Chọn ra 5 lớp trong các khoa để khảo sát, sau đó từ mỗi lớp chọn ra 40 học sinh để khảo sát.
Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên theo cụm cho phép khái quát hóa kết quả nghiên cứu cho toàn bộ dân số nghiên cứu. Do không có khung mẫu nghiên cứu nên chọn mẫu ngẫu nhiên theo cụm là phương pháp chọn mẫu khả thi nhất. Đồng thời giúp nhà nghiên cứu tiết kiệm được chi phí, thời gian và có thể dễ dàng tiếp cận được đối tượng hơn.
Kích cỡ mẫu được xác định theo công thức Tabachick và Fidell (1996):
Công thức: n = 50+8*m
Trong đó: m là biến quan sát, n là kích cỡ mẫu
Dựa trên nguyên tắc chọn mẫu, kích cỡ mẫu càng lớn thì kết quả nghiên cứu càng chính xác và có độ tin cậy hơn. Đồng thời cũng dựa trên điều kiện thời gian và kinh phí nhóm nghiên cứu quyết định chọn 500 sinh viên tại các khoa Thương mại du lịch, Tài chính ngân hàng, Kế toán của trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh để tham gia khảo sát. Với số lượng mẫu cần khảo sát, nhà nghiên cứu sẽ chọn ngẫu nhiên 1 khoa. Quy trình chọn lựa sẽ kết thúc khi nhà nghiên cứu có đủ số lượng mẫu.
2.1.3. Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát
Bảng câu hỏi có 21 câu hỏi, bao gồm 66 mục hỏi. Ngoài các mục hỏi về thông tin cá nhân, bảng hỏi chủ yếu hỏi về vấn nạn stress ở sinh viên. Các câu hỏi ở dạng câu hỏi đóng. Bảng câu hỏi do tự nhóm thiết kế dựa trên các mục tiêu đề ra và các thành viên trong nhóm đã kiểm tra thử 1 lần.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu có 3 mục tiêu cụ thể. Để đạt được các mục tiêu này, nhà nghiên cứu sẽ sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác nhau. Phương pháp sử dụng cho từng mục tiêu sẽ được trình bày cụ thể trong bảng dưới đây.
Bảng 1: Phương pháp nghiên cứu theo mục tiêu
Mục tiêu
Phương pháp thu nhập dữ liệu
Phương pháp xử lí dữ liệu
Khảo sát mức độ lo âu, stress, trầm cảm của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
Khảo sát bằng bảng câu hỏi cho sinh viên các khoa Thương mại du lịch, Tài chính ngân hàng, Kế toán của trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
Sử dụng thống kê mô tả, sử dụng t -test
Tìm hiểu các yếu tố gây ra stress, trầm cảm, lo âu của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Thành Phố Hồ Chí Minh
Khảo sát bằng bảng câu hỏi cho sinh viên các khoa Thương mại du lịch, Tài chính ngân hàng, Kế toán của trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí
Sử dụng thống kê mô tả
Minh
Đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế gây ra lo âu, stress, trầm cảm cho sinh viên trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
Khảo sát bằng bảng câu hỏi cho sinh viên các khoa Thương mại du lịch, Tài chính ngân hàng, Kế toán của trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
Suy luận logic
2.2.1 Quy trình thu thập dữ liệu: Khảo sát bằng phiếu câu hỏi vì đây là phương pháp ít tốn kém, dễ thực hiện, có thể thu được một lượng lớn thông tin trong một khoảng thời gian ngắn.
-Thời gian tiến hành thu thập dữ liệu từ tháng 10/2021 đến tháng 07/2022.
-Người khảo sát đến trường được chọn làm mẫu nghiên cứu, xin phép họ cho 1 ít thời gian rồi phát phiếu cho họ.
-Một người mất khoảng 10 phút để điền phiếu và nộp lại cho người khảo sát.
-Sau đó, người khảo sát thu thập lại phiếu. Quy trình được lặp lại cho đến khi người khảo sát thu thập đủ số lượng đặt ra.
2.2.2 Xử lý dữ liệu
❖ Mục tiêu 1 :
-Sử dụng các phép tính thống kê mô tả: tính trung bình tuổi của mẫu nghiên cứu, tính phần trăm, tính số lượng trong số những người được chọn làm mẫu có bao nhiêu nam, bao nhiêu nữ.
-Sử dụng phép tính so sánh trung bình 2 đám đông t – test để so sánh các nhóm trong mẫu (nam/nữ; thanh thiếu niên/trung niên; đi học/đi làm).
❖ Mục tiêu 2:
-Sử dụng thống kê mô tả để xác định các yếu tố gây ra stress, lo âu, trầm cảm sinh viên trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh.
❖ Mục tiêu 3:
-Sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý thuyết và các phép suy luận logic rút ra được các yếu tố chủ yếu gây ra lo âu, trầm cảm, stress của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó đưa ra biện pháp thích hợp để hạn chế tình trạng lo âu, stress, trầm cảm cho sinh viên.
CẤU TRÚC DỰ KIẾN CỦA LUẬN VĂN
Luận văn sẽ có 5 chương chính với nội dung như sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận về nguyên nhân gây ra lo âu, stress, trầm cảm sinh viên trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh Chương này sẽ tổng quan các tài liệu về nguyên nhân gây ra lo âu, trầm cảm, stres, thực trạng về chứng stress học đường ở học sinh THPT tại TPHCM hiện nay và các giải pháp nhằm hạn chế gây ra chứng stress học đường cho học sinh THPT tại TP. HCM.
Chương 2: Nội dung – Phương pháp
Chương này mô tả quy trình nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu và các phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu được sử dụng để hoàn thành được các mục tiêu cụ thể của nghiên cứu.
Chương 3: Kết quả và thảo luận
Chương này trình bày kết quả phân tích dữ liệu và thảo luận kết quả nghiên cứu. Qua việc so sánh kết quả nghiên cứu với các kết quả nghiên cứu trước đó, nhà nghiên cứu có thể xác định được những điểm tương đồng với các nghiên cứu cũng như những điểm mới, những đóng góp nghiên cứu của nhóm thực hiện nghiên cứu.
Chương 4: Đề xuất các giải pháp giải quyết vấn đề thuyết trình
Chương này nêu ra những giải pháp nhằm hạn chế lo âu, trầm cảm, stress sinh viên trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Chương này nêu những kết quả nghiên cứu chính, khuyến khích nhắc nhở và khuyên răn các học sinh sắp xếp lịch học cho hợp lý, chú tâm đến sức khỏe và không ép buộc bản thân.
KẾ HOẠCH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 10-2021 đến tháng 7-2022
STT
Nội dung công việc
Thời gian thực hiện
Người thực hiện
Ghi chú
1
Tổng quan tài liệu
Từ tháng 10-11(2021)
Tất cả các thành viên
2
Thiết kế hàng câu hỏi khảo sát
Tháng 12-2021
Tất cả các thành viên
3
Tiến hành khảo sát
Từ tháng 12-2021 đến
Tất cả các

tháng 1-2022

4
Xử lí và phân tích dữ liệu
Từ tháng 2-5(2022)
Tất cả các thành viên
5
Viết luận văn và chuẩn bị báo cáo
Tháng 5-7(2022)

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1, Lê Minh Thuận, 2011. Sức khỏe tâm lý của sinh viên. Tạp chí y học thực hành (ISSN 1859-1663), Số 7(774), pp 72-75
2, Nguyễn Thành Trung, 2017. Luận văn thạc sĩ y tế công cộng. Hà Nội. NXB. Y Học
3, Nguyễn Đạt Đạm, 2018. Nguyên nhân và một số biện pháp phòng, chống stress ở học viên các trường đại học quân sự. Tạp chí khoa học giáo dục (ISSN 2615-8957), Số 3, pp 73-77
4, Lưu Thị Liên, 2020. Thực trạng và các yếu tố liên quan đến stress, trầm cảm, lo âu của nhân viên y tế thuộc Trung tâm Y tế huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, năm 2019. Khóa luận tốt nghiệp Đại học ngành Y đa khoa, Đại học Quốc gia Hà Nội.
5, Nguyễn Thị Bình, 2015. Nhận thức của sinh viên về rối loạn trầm cảm. Luận văn thạc sĩ tâm lý học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.
6, Vũ Thùy Hương, 2018. Cơ sở tâm lý học về định hướng giá trị của thanh niên – sinh viên. Tạp chí Giáo dục, 433(1), pp. 21-26.
7, Nguyễn Thị Thu Sương, 2015. Mối tương quan giữa lo âu – trầm cảm và mức độ bị bắt nạt của học sinh Trung học Cơ sở. Luận văn thạc sĩ tâm lý học, Trường Đại học Giáo dục.
8, Vũ Dũng, 2008. Từ điển Tâm lý học. Hà Nội. NXB. Từ điển Bách khoa.
9, Hoàng Thị Quỳnh Lan, 2020. Mối tương quan giữa căng thẳng trong học tập và mức
độ lo âu, trầm cảm, stress của sinh viên trường Đại học Bách Khoa Hà Nội. Tạp chí Tâm lý học, 10(259), pp. 62-71.
10, Hồ Thị Trúc Quỳnh, Nguyễn Văn Bắc, 2021. Hỗ trợ xã hội và trầm cảm ở sinh viên Đại học Huế. Tạp chí Tâm lý học, 4(265).
11, Nguyễn Thanh Trúc, Nguyễn Thị Bích Tuyền, 2020. Các yếu tố ảnh hưởng đến stress, lo âu, trầm cảm của sinh viên năm cuối ngành Dược ở Đồng Nai. Tạp chí Khoa học và Công nghệ -Đại học Đà Nẵng, 18(10), pp. 10-13.
12, Nguyễn Thu Hằng, 2019. Khảo sát rối nhiễu lo âu của sinh viên năm thứ tư trường Đại học Điều dưỡng Nam Định. Tạp chí Khoa học Điều dưỡng (ISSN 2615-9589), Tập 02, Số 02/2019, pp.83-88.
13, Nguyễn Thị Như Nguyệt, 2020. Phân tích các yếu tố gây ra áp lực đối với sinh viên Học viện Ngân hàng. Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng, Số 222, pp.76-77 14, Nguyễn Huỳnh Ngọc, 2010. Tâm lý học Y học – Y đức. Hà Nội. NXB. Giáo dục Việt Nam.
PHỤ LỤC
Phiếu khảo sát
Chào bạn! Chúng tôi là sinh viên trường Đại học Công Nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện tại nhóm chúng tôi đang làm đề tài về “Các yếu tố tình trạng lo âu, trầm cảm, stress của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chi”. Để giúp cho việc khảo sát thành công, rất mong bạn dành ít thời gian để trả lời vào bảng câu hỏi dưới đây. Tôi xin đảm bảo mọi thông tin mà bạn cung cấp sẽ được giữ bí mật và chỉ sử dụng cho dự án với mục đích học tập. Hy vọng nhận được sự hỗ trợ từ bạn. Xin chân thành cảm ơn!
I. THÔNG TIN CÁ NHÂN
1. Họ và tên: …………………………………….
2. Sinh viên trường: ………………………………………
3. Khoa:
☐ Thương mại du lịch
☐ Tài chính ngân hàng
☐ Kế toán -kiểm toán
II. PHẦN CÂU HỎI KHẢO SÁT
1. Tìm hiểu các yếu tố gây ra lo âu, trầm cảm, stress cho sinh viên trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
1. Có bao giờ bạn cảm thấy chuyện học hành của bản thân chỉ là một bổn phận để đáp ứng nguyện vọng của người thân trong gia đình?
☐ Không có
☐ Luôn luôn
☐ Một phần
2.Bạn cảm thấy việc sắp xếp lịch học của nhà trường như thế đã hợp lí hay chưa?
☐ Hợp lí
☐ Quá dày đặc
☐ Tạm ổn
3. Thời gian biểu mà bạn tự đặt ra cho bản thân có đan xen giữa việc học tập và việc vui chơi, giải trí một cách hợp lí hay không?
☐ Có ☐ Không
☐ Không lập thời gian biểu
4. Bạn thấy việc học nhiều môn học và thầy cô mỗi bộ môn đều giao bài tập về nhà cùng một lúc thì như thế nào?
☐ Hợp lí
☐ Hoàn thành không hết ☐ Chỉ làm những môn mình yêu thích
5. Đối với các bạn cùng trang lứa khi thấy thành tích của họ quá vượt trội thì bạn có suy nghĩ như thế nào?
☐ Ngưỡng mộ
☐ Ganh tỵ
☐ Tự ti
2. Khảo sát thực trạng về lo âu, trầm cảm, stress của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
1. Nhận thức của bạn về stress ở tuổi nổi loạn có nguy hiểm không?
☐ Bình thường
☐ Quan trọng
☐ Rất quan trọng
2. Bạn có tìm hiểu về stress là như thế nào và sự ảnh hưởng tác động tới cuộc sống thường ngày của mình không?
☐ Thỉnh thoảng
☐ Thường xuyên
☐ Rất thường xuyên
3. Bạn có biết vấn nạn stress, trầm cảm của sinh viên nghiêm trọng đến mức nào không ?
☐ Bình thường
☐ Nghiêm trọng
☐ Rất nghiêm trọng
4. Ở trường bạn có các khóa học tâm lý nào về stress học đường và những tác hại stress ảnh hưởng cho cuộc sống không?
☐ Có ít
☐ Khác (có giảng dạy kèm vào các bài học)
5. Bạn mong muốn có nhiều khóa giảng về tâm lý sinh viên và những buổi diễn kịch tác hại của stress không?
☐ Không
☐ Có
6. Mời bạn đánh giá mức độ stress trong 3 tháng gần đây:
☐ Rất thường xuyên
☐ Thường xuyên
☐ Thỉnh thoảng
☐ Hiếm khi
☐ Không bao giờ
3. Đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế gây ra chứng stress học đường cho sinh viên trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh
1. Bạn nghĩ như thế nào về việc cùng với gia đình cùng tâm sự, chia sẻ những áp lực mà mình đang gặp phải?
☐ Rất cần thiết
☐ Không dám đối mặt
☐ Phân vân
2. Bản thân bạn đã sinh hoạt một cách khoa học như thế nào để giảm bớt căng thẳng?
☐ Tập thể dục
☐ Ngủ đủ giấc
☐ Ăn uống đủ chất
3. Bạn có muốn giáo viên giảm bớt số lượng bài tập về nhà hay không?
☐ Muốn
☐ Rất muốn
☐ Không muốn
4. Ở bạn bè cùng trang lứa, thay vì cạnh tranh hay tự ti về thành tích thì các bạn đã cùng nhau cố gắng để tiến bộ như thế nào?
☐ Học nhóm
☐ Noi gương bạn
☐ Lấy đó làm động lực
5. Bạn đã làm gì để giải trí và xả stress sau giờ học tập mệt mỏi?
☐ Coi phim, chơi game
☐ Gặp gỡ bạn bè, tụ tập coffee
☐ Tham gia các hoạt động ca hát