Thương vợ là bài thơ tâm sự mang nỗi niềm thế sự của Tú Xương. Hãy phân tích bài thơ.>
– Trong hai câu 7, 8, giọng thơ như nguyền rủa thói ăn ở bạc bẽo của chính nhà thơ. Nhìn bề ngoài, quả thật ông chẳng những không chia sẻ với nỗi cực nhọc trong việc mưu sinh của gia đình, lại trở thành gánh nặng cho bà Tú, nên có cũng như không. Có vẻ như ông hờ hững, bạc bẽo đối với sự thật đáng chê trách.
Bạn đang đọc: “>Thương vợ là bài thơ tâm sự mang nỗi niềm thế sự của Tú Xương. Hãy phân tích bài thơ.>
+ Nắng mưa chỉ sự khó khăn vất vả, năm, mười là số lượng phiếm chỉ để nói số nhiều, được tách ra tạo nên một thành ngữ chéo ( ” năm nắng mười mưa ” ), vừa nói lên sự khó khăn vất vả gian nan, vừa bộc lộ được đức tính chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng vì con của bà Tú .- Duyên một mà nợ hai nhưng bà Tú không một lời phàn nàn, lặng lẽ gật đầu sự khó khăn vất vả vì chồng con .- Câu 3 mượn hình ảnh con cò trong ca dao, có sử dụng giải pháp hòn đảo ngữ ( lặn lội thân cò để diễn đạt việc kinh doanh khó khăn vất vả của bà Tú, lặn lội cả những nơi vắng vẻ, nguy khốn ( nơi quãng vắng ). Câu 4 tả cảnh bà Tú phải sum sê trên mặt nước vào những buổi đò đông, eo sèo mua và bán thật quay quồng, nhọc nhằn .- Thời gian ( quanh năm ), việc làm ( kinh doanh ), khoảng trống ( ở mom sông ) : quanh năm bà Tú miệt mài kinh doanh khó khăn vất vả ở mom sông, lo liệu việc mưu sinh cho cả nhà và nuôi lũ con ( năm con ), lại nuôi luôn cá chồng ( với một chồng ). Lối nói úp mở vừa hóm hỉnh trong hai câu 1, 2 vừa nhấn mạnh vấn đề lòng biết ơn pha lẫn sự ăn năn và tỏ ý thương quý bà Tú .
Bài mẫu
Tú Xương có nhiều bài thơ, bài phú nói về vợ. Bà Tú vốn là ” con gái nhà dòng, lấy chồng kẻ chợ ”, một người con dâu giỏi làm ăn kinh doanh, hiền lành được bà con xa gần mến trọng :
” Đầu sông bến bãi rộng lớn, đua tài buôn chín bán mười
Trong họ ngoài làng, vụng lẽ chào dơi nói thợ ” .
Nhờ thế mà ông Tú mới được sống cuộc sống giàu sang : ” Tiền bạc phó cho con mụ kiếm – Ngựa xe chẳng thấy khi nào ngơi “. ” Thương vợ ” là bài thơ cảm động nhất trong những bài thơ trữ tình của Tú Xương. Nó là bài thơ tâm sự, đồng thời cũng là bài thơ thế sự. Bài thơ chứa chan tình thương yêu nồng hậu của ông Tú so với người vợ hiền thảo của mình .
Sáu câu thơ đầu nói lên hình ảnh của bà Tú trong mái ấm gia đình và ngoài cuộc sống : hình ảnh chân thực về một người vợ tần tảo, một người mẹ đôn hậu, giàu đức hi sinh. Hai câu thơ trong phần đề trình làng bà Tú là một người vợ rất đảm đang, chịu thương chịu khó. Nếu như bà vợ của Nguyễn Khuyến là một phụ nữ ” hay lam hay làm, thắt lưng bó que, xắn váy quai cồng, chân nam đá chân chiêu, vì tớ đỡ đần trong mọi việc ” ( câu đối của Nguyễn Khuyến ) thì bà Tú là một người đàn bà :
” Quanh năm kinh doanh ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng ” .
“ Quanh năm kinh doanh ” là cảnh làm ăn đầu tắt mặt tối, từ ngày này qua ngày khác, từ tháng này qua tháng khác … không được một ngày nghỉ ngơi. Bà Tú ” Buôn bán ở mom sông ”, nơi cái mảnh đất nhô ra, ba bề phủ bọc sông nước ; nơi làm ăn là cái thế đất chênh vênh. Hai chữ ‘ ‘ mom sông ” gợi tả một cuộc sống nhiều mưa nắng, một cảnh đời cơ cực, phải vật lộn kiếm sống, mới ” Nuôi đủ năm con với một chồng “. Một gánh nặng mái ấm gia đình đè nặng lên đôi vai người mẹ, người vợ. Thông thường, người ta chỉ đếm mớ rau, con cá, đếm tiền tài, … chứ ai ” đếm ” con, ” đếm ” chồng ( ! ). Câu thơ tự trào chứa đựng nỗi niềm chua chát về một mái ấm gia đình gặp nhiều khó khăn vất vả : đông con, người chồng đang phải ” ăn lương vợ “. Có thể nói, hai câu đầu, Tú Xương ghi lại một cách chân thực người vợ tần tảo. đảm đang của mình .
Phần thực tô đậm thêm chân dung bà Tú, mỗi sáng mỗi tối đi đi về về ” lặn lội ” làm ăn như ” thân cò ” nơi ” quãng vắng “. Ngôn ngữ thơ tăng cấp tô đậm thêm nỗi cực nhọc của người vợ. Câu chữ như những nét vẽ, gam màu tiếp nối đuôi nhau nhau, hỗ trợ và ngày càng tăng : đã ” lặn lội ” lại ” thân cò “, rồi còn ” khi quãng vắng “. Nỗi cực nhọc kiếm sống ở ” mom sông ” tưởng như không thể nào nói hết được ! Hình ảnh ” con cò “, “ cái cò ” trong ca dao cổ : ‘ ‘ Con cò lặn lội bờ sông … “, ” Con cò đi đón cơn mưa … “, ” Cái cò, cái vạc, cái nông … ” được tái hiện trong thơ Tú Xương qua hình, ảnh ” thân cò ” lầm lũi, đã đem đến cho người đọc bao liên tưởng cảm động về bà Tú, cũng như thân phận khó khăn vất vả, cực khổ, … của người phụ nữ Nước Ta trong xã hội cũ :
” Lặn lội thân cò khi quãng vắng ,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông ” .
” Eo sèo ” là từ láy tượng thanh chỉ sự rầy rà bằng lời đòi, gọi liên tục dai dẳng ; gợi tả cảnh tranh mua tranh bán, cảnh cãi cự nơi ” mặt nước ” lúc ” đò đông ”. Một cuộc sống ” lặn lội “, một cảnh sống làm ăn ” eo sèo “. Nghệ thuật đối rực rỡ đã làm điển hình nổi bật cảnh kiếm ăn nhiều cơ cực. Bát cơm, manh áo mà bà Tú kiếm được ” Nuôi đủ năm con với một chồng ” phải ” lặn lội ” trong mưa nắng, phải giành giật ” eo sèo “, phải trả giá bao mồ hôi, nước mắt giữa thời đại khó khăn vất vả !
Tiếp theo là hai câu luận, Tú Xương vận dụng rất sáng tạo hai thành ngữ: ”một duyên hai nợ” và “năm nắng mười mưa”, đối xứng nhau hài hòa, màu sắc dân gian đậm đà trong cảm nhận và ngôn ngữ biểu đạt:
” Một duyên hai nợ, âu đành phận ,
Năm nắng mười mưa dám quản công ” .
” Duyên ‘ ‘ là duyên số, duyên phận, ” nợ ” là cái ” nợ ” đời mà bà Tú phải cam phận, chịu đựng. ” Nắng “, ” mưa ” tượng trưng cho mọi khó khăn vất vả, khổ cực. Các số từ trong câu thơ tăng dần lên : ” một … hai … năm … mười … ” làm nổi rõ đức hi sinh thầm lặng của bà Tú, một người phụ nữ chịu thương chịu khó vì sự ấm no niềm hạnh phúc của chồng con và mái ấm gia đình. ” Âu đành phận ” … ” dám quản công ” … giọng thơ nhiều xót xa thương cảm .
Tóm lại, sáu câu thơ đầu, bằng tấm lòng biết ơn và cảm phục, Tú Xương đã phác hoạ một vài nét rất chân thực và cảm động về hình ảnh bà Tú, người vợ hiền thảo của mình với bao đức tính đáng quý : đảm đang, tần tảo, chịu thương, chịu khó, thầm lặng hi sinh cho niềm hạnh phúc mái ấm gia đình. Tú Xương bộc lộ bút pháp điêu luyện trong sử dụng ngôn từ và phát minh sáng tạo hình ảnh. Các từ láy, những số từ, phép đối, hòn đảo ngữ, sử dụng phát minh sáng tạo thành ngữ và hình ảnh ” thân cò ” … đã tạo nên ấn tượng và sức mê hoặc của văn chương .
Hai câu kết, Tú Xương sử dụng từ ngữ thông tục, lấy tiếng chửi nơi ” mom sông “, lúc ” buổi đò đông ” đưa vào thơ rất tự nhiên, bình dị. Ông tự trách mình :
” Cha mẹ thói đời ăn ở bạc ,
Có chồng hờ hững cũng như không ! ”
Trách mình ” ăn lương vợ ” mà ” ăn ở bạc “. Vai trò người chồng, người cha chẳng giúp ích được gì, vô tích sự, thậm chí còn còn ” hờ hững ” với vợ con. Lời tự trách sao mà chua xót thế ! Ta đã biết, Tú Xương có văn tài, nhưng công danh sự nghiệp dở dang, thi tuyển lận đận. Sống giữa một xã hội ” dở Tây dở ta ” chữ nho mạt vận, lúc mà ” Ông nghè, ông cống cũng nằm co ” vì vậy nhà thơ tự trách mình, đồng thời cũng là trách đời đen bạc. Ông không xu thời để vinh thân phì gia ” tối rượu sâm banh, sáng sữa bò “. Hai câu kết là cả một nỗi niềm tâm sự và thế sự đầy buồn thương, là lời nói của một tri thức giàu nhân cách, nặng tình đời, thượng vợ con mà gia cảnh nghèo. Tú Xương thương vợ cũng chính là thương chính mình vậy. Đó là nỗi đau thất thế của nhà thơ khi cảnh đời biến hóa !
Bài thơ ” Thương vợ ” được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Ngôn ngữ thơ bình dị như lời nói đời thường nơi ” mom sông ” của những người kinh doanh nhỏ, cách đây gần một thế kỉ. Các chi tiết cụ thể nghệ thuật và thẩm mỹ tinh lọc vừa thành viên ( bà Tú với ” năm con, một chồng ” ) vừa khái quát thâm thúy ( người phu nữ rất lâu rồi ). Hình tượng thơ hàm súc, quyến rũ : thương vợ, thương mình, buồn về gia cảnh thêm nỗi đau đời. ” Thương vợ ” là bài thơ trữ tình rực rỡ của Tú Xương nói về người vợ, người phụ nữ thời xưa với bao tình cảm trân trọng tốt đẹp. Hình ảnh bà Tú được nói đến trong bài thơ rất thân mật với người mẹ, người chị trong mỗi mái ấm gia đình Nước Ta .
Tú Xương đã có bài ‘ ‘ Văn tế sống vợ “, lại có thêm bài ” Thương vợ “, đó là những áng văn thơ vừa tài tình vừa nghĩa tình. Ca dao đã nói về người vợ tao khang ” tay bưng chén muối đĩa gừng “, Tú Xương có khi nào quên được công ơn của bà Tú ” Nuôi đủ năm con với một chồng ”. Á Nam Trần Tuấn Khải ( 1894 – 1983 ) nhà thơ cùng thời với Tú Xương đã có bài thơ ” Viếng bà Tú Xương ” viết năm 1931 :
” Hơn sáu mươi năm đất Vị Hoàng ,
Mẹ hiền, vợ đức đã treo gương .
Nếm chung trời Việt trăm cay đắng ,
Vững với con Côi một mối giường .
Bia miệng đã nên trang khổn phạm ,
Nếp nhà không thẹn dấu văn chương .
Tấm thân tuy thác, danh nào thác,
Hồn cũng thơm lây dưới suối vàng ” .
Bài thơ của Á Nam giúp ta hiểu hơn Tú Xương và bà Tú, và tất cả chúng ta mới thấy hết cái hay, cái đẹp của tấm lòng Tú Xương được nói đến trong bài ” Thương vợ ” .
Loigiaihay.com
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Tâm Sự






