1 GIỚI THIỆU VỀ VƯỜN QUỐC GIA CÁT BÀ. – Tài liệu text
Luận văn tốt nghiệp
30
Vùng đệm là vùng tiếp giáp vùng lõi, có thể tiến hành các hoạt động
kinh tế, nghiên cứu, giáo dục và giải trí nhưng không làm ảnh hưởng đến
mục đích bảo tồn trong vùng lõi. Ở Cát Bà gồm hai vùng đệm là vùng đệm
trung tâm nằm giữa vùng lõi Đông Nam (vùng đệm Việt Hải) có diện tích
141 ha và vùng đệm tiếp giáp. Đây là vùng có chức năng phát triển điều
hoà, tôn trọng hiện trạng, phù hợp với tiêu chí bảo tồn của vùng lõi, vì vậy
phải đảm bảo sự phát triển hạn định trong vùng này.
Vùng chuyển tiếp là vùng ngoài cùng, các hoạt động kinh tế ở đây
vẫn duy trì bình thường, trong đó nhân dân địa phương cùng với các nhà
khoa học, bảo tồn, công ty tư nhân, các tổ chức xã hội thoả thuận để cùng
quản lý và phát triển bền vững nguồn lợi tài nguyên thiên nhiên mà Vườn
quốc gia đem lại, gồm vùng chuyển tiếp phía Nam và vùng chuyển tiếp
phía Bắc (xã Gia Luận). Vùng này tập trung đông dân cư nên chú trọng
khuyến khích phát triển cộng đồng, vùng nông thôn như: Nuôi trồng thuỷ
sản, dịch vụ du lịch, đào tạo lao động có tay nghề kỹ thuật cao để phát triển
nghề cá khơi và du lịch, dịch vụ.
2.1.2 Điều kiện tự nhiên.
2.1.2.1 Vị trí địa lí.
Huyện đảo Cát Hải của Hải Phòng có toạ độ địa lý là 106 050’107005’ kinh độ đông, 20042’-20053’ vĩ độ bắc. Cát Hải có diện tích 322,3
km2 bao gồm hai đảo là đảo Cát Hải có diện tích 30km 2 và đảo Cát Bà có
diện tích gần 300 km2.
Đảo Cát Bà có toạ độ địa lý 20047’46” bắc và 106045’00” đông,
phần đảo nổi Cát Bà có diện tích 144 km 2 gồm 18 thôn xóm thuộc 6 xã và 1
thị trấn.
Vườn quốc gia Cát Bà nằm trong khu vực địa lý của đảo Cát Bà. Có
toạ độ địa lý :
Bùi Thị Huệ
Lớp: Kinh tế môi trường 45
Luận văn tốt nghiệp
31
20043’50” đến 20051’29” vĩ độ bắc.
106058’20” đến 107010’05” kinh độ đông.
Theo ranh giới phía nam, tây nam và tây bắc, từ phía nam của đảo
Bầu Dê theo hướng tây đến cửa Hòn Cát Dứa vòng đến cửa Áng Ven, qua
Đồng tép nối với đỉnh khoăn Đà Lát theo đường phân thuỷ của dãy núi
chạy dọc theo ranh giới các xã Trân Châu, Xuân Đán, Hiền Hào tới điểm
dốc eo Bùa .
2.1.2.2 Địa hình.
Nằm trên Đảo Cát Bà nên địa hình vườn quốc gia Cát Bà mang đặc
điểm địa hình của đảo Cát Bà. Địa hình của vườn mang đặc trưng của địa
hình đá vôi cacsto và địa hình bài bốc.
– Địa hình Cacsto.
Với chiều dài khoảng 25 km chạy theo hướng tây bắc- đông nam
chiều rộng khoảng 10 km, bề mặt địa hình khá hiểm trở xen kẹp những
đỉnh núi cao từ 50-200m, có các thành dốc dựng đứng 300-400m là các
thung ang và cánh đồng cacsto. Cánh đồng cacsto lớn nhất là áng Trung
Trang (lâm trường Cát Bà) có diện tích 300 ha khá bằng phẳng hình thành
giải đồng bằng trùng với hướng phát triển hệ thống đứt gẫy kiến tạo tây bắc
– đông nam chạy giữa đảo.
– Địa hình bài bốc .
Ngoài địa hình cacsto phổ biến trên đảo còn có địa hình bài bốc như
Cái vừng, Phù Long. Đặc biệt bài bốc Phù Long được hình thành chủ yếu
do bùn cát phù sa vận chuyển từ phía đất liền ra, được lắng lại do tác động
của động lực biển. Đặc trưng vật chất bài bốc ở đây chủ yếu là bùn cát phù
sa có màu xám nên lẫn vật liệu hữu cơ rất phù hợp cho sự phát triển của các
loại thực vật ngập mặn. Về phía tây bắc, đông nam của đảo cũng hình
thành một số bài bốc nhỏ quanh chân núi, song ở xa dòng sông nên vật liệu
Bùi Thị Huệ
Lớp: Kinh tế môi trường 45
Luận văn tốt nghiệp
32
trầm tích ở đây chủ yếu là sản phẩm phá huỷ do phong hoá từ đá vôi, đá
silic.
2.1.2.3 Khí hậu thuỷ văn.
– Khí hậu.
Nằm ở vùng đông bắc nên khí hậu của Hải Phòng, Cát Bà nói chung
và của Vườn quốc gia Cát Bà nói riêng mang những đặc điểm chung của
khí hậu miền bắc nước ta, đồng thời nằm trên đảo nên Vườn cũng mang
đặc điểm của khí hậu của các vùng ven biển. Đặc biệt huyện Cát Hải là một
đảo nhỏ riêng biệt với đất liền nên bị chi phối nhiều của khí hậu đại dương.
Nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới nội chí tuyến, khí hậu miền
bắc nước ta nói riêng mang tính chất nhiệt đới nóng ẩm. Tổng nhiệt độ cả
năm dao động từ 80000C-85000C. Nhiệt độ trung bình tháng khu vực Cát
Bà dao động từ 160C đến 29,20C, trung bình năm dao động từ 21,50C đến
24,50C. Trung bình nhiều năm là 230C. Tương ứng với nhiệt độ trung bình
năm là tổng nhiệt trên khu vực Cát Bà dao động trong khoảng 8000 0C đến
85000C.
Về mùa hè nhiệt độ khá cao vào tháng 6, trung tâm của mùa nóng
nhiệt độ trung bình nhiều năm 280C. Nhiệt độ cao tuyệt đối lên đến 38,50C .
Về mùa đông nền nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1, tháng trung tâm
của mùa lạnh nhiệt độ trung bình tháng xuống 16 0C. Nhiệt độ thấp tuyệt
đối xuống 70C.
Biến đổi nhiệt độ trong ngày, đêm thường thấp nhất vào buổi sáng
rồi tăng dần đến trưa đạt giá trị cực đại sau đó là giảm cho đến sáng.
– Độ ẩm.
Độ ẩm không khí trung bình tháng tại khu vực Cát Bà dao động
trong khoảng từ 80-92%. Biến trình năm của độ ẩm tương đối đạt lớn nhất
vào tháng 3 (>90%) vào tháng 8 (>86%) và đạt cực tiểu vào tháng 11,
tháng 12 (76,78%). Độ ẩm tương đối khu vực Cát Bà trung bình năm đạt
Bùi Thị Huệ
Lớp: Kinh tế môi trường 45
Luận văn tốt nghiệp
33
85,9%. Về mùa đông độ ẩm phân bố tương đối phù hợp với lượng mưa, nơi
mưa nhiều độ ẩm lớn, nơi mưa ít độ ẩm nhỏ. Độ ẩm cao thường xuất hiện
vào ban đêm, độ ẩm cao nhất thường vào khoảng 4-6 giờ, ban ngày độ ẩm
thấp nhất vào khoảng 12- 13 giờ.
– Mưa.
Lượng mưa hàng năm ở Cát Bà dao động trong khoảng từ 1500mm1800mm (số liệu từ 1992-1998). Bình quân nhiều năm đạt 1661mm, mưa
tập trung vào mùa hè. Lượng mưa từ tháng 5 đến tháng 10 chiếm khoảng
70% -90% lượng mưa cả năm. Lượng mưa 6 tháng còn lại chỉ chiếm từ 1030%. Tháng 12, tháng 1, tháng 2 có lượng mưa nhỏ nhất, dao động từ
10mm-20mm. Lượng mưa bình quân trong 6 tháng mùa mưa dao động từ
200mm-300 mm, lượng mưa tháng 7, tháng 8 lớn nhất đạt trên 300mm. Số
ngày mưa trung bình hàng năm tại Cát Bà là 95 ngày. Tháng 7, tháng 8 có
số ngày mưa lớn nhất trong năm.
2.1.3 Điều kiện kinh tế-xã hội.
Đảo Cát Bà có diện tích trên 29000 ha chủ yếu là đồi núi xen kẽ với
các thung sâu. Do điều kiện thiếu nước ngọt khu vực này chỉ trồng được
một vụ lúa năng suất thấp và một số lọai cây màu, cây ăn quả và cây công
nghiệp. Men theo bờ biển là hệ thống eo, vụng, vịnh, bãi triều rất thuận tiện
cho việc nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản, có nhiều bãi tắm đẹp như Cát cò
1,2,3… tạo điều kiện cho phát triển du lịch.
2.1.3.1 Hiện trạng dân cư.
Khu vực Đảo Cát Bà cơ bản có thị trấn Cát Bà và 6 xã như: Xã Phù
Long, Gia Luận, Hiền Hào, Xuân Đán, Việt Hải, Trân Châu. Trong đó có
một xã nằm chọn trong phạm vi vườn quốc gia là xã Việt Hải. Dân số đảo
vào năm 1999 là 10631 người trong đó dân số thị trấn Cát Bà là 7510
người. Mật độ dân cư trung bình thị trấn Cát Bà là 88 người/ km 2, xã Việt
Bùi Thị Huệ
Lớp: Kinh tế môi trường 45
Luận văn tốt nghiệp
34
Hải là xã có diện tích tự nhiên lớn thứ nhì trong huyện nhưng dân cư thưa
thớt với mật độ chỉ 3 người/ km2.
2.1.3.2 Hiện trạng cơ sở hạ tầng .
Trong những năm gần đây tình hình cơ sở hạ tầng của đảo được cải
thiện đáng kể. Trong những năm qua cùng với sự phát triển chung của cả
nước nói chung và của Hải Phòng nói riêng, đảo Cát Bà cũng được đầu tư
các dự án về điện, đường, nước sạch….Những năm qua các dự án hoàn
thành và đưa vào sử dụng kể từ năm 1990 đến nay đã phát huy tốt hiệu quả
đầu tư như các dự án: Dự án xây dựng đường điện 35KW ra đảo (11/2002),
dự án đường xuyên ra đảo Hải Phòng – Cát Hải – Cát Bà (hoàn thành
4/2002), dự án cấp nước thị trấn Cát Bà (lấy từ khe Sâu, xã trân Châu), dự
án đường hồ, trạm xử lý nước thải Tùng Dinh – thị trấn Cát Bà.
2.1.3.3 Hiện trạng phát triển kinh tế- xã hội.
Với đặc điểm là một huyện đảo ở Cát Bà cũng phát triển các ngành
nghề đặc trưng như nuôi trồng thuỷ sản, khai thác thuỷ sản, chế biến thuỷ
sản. Bên cạnh đó được thiên nhiên ban tặng phong cảnh hùng vĩ, nên thơ,
đồng thời có các bãi tắm đẹp như cát cò 1, 2, 3.. đặc biệt là có vườn quốc
gia Cát Bà với đa dạng sinh học phong phú và nhiều loài động vật quý
hiếm là điều kiện phát triển ngành du lịch.
– Ngành du lịch.
Cát Bà đã tận dụng được ưu thế về vị trí địa lý và tài nguyên thiên
nhiên cho việc phát triển ngành du lịch. Ngày càng có nhiều khách sạn và
nhà hàng được xây dựng để phục vụ du khách đến thăm đảo, đồng thời chất
lượng các dịch vụ cũng ngày càng được nâng lên rõ rệt để thu hút du
khách.
Thực tế chứng minh, trong những năm gần đây lượng khách du lịch
đến thăm đảo ngày càng nhiều, Cát Bà cơ bản trở thành một trung tâm du
lịch có sức hấp dẫn của thành phố và khu vực. Lượng khách du lịch đến
Bùi Thị Huệ
Lớp: Kinh tế môi trường 45
Luận văn tốt nghiệp
35
Cát Bà tăng từ 25000 lượt năm 1996 lên 75000 lượt năm 1998 và năm
2003 là 220500 lượt. Riêng với khách du lịch nước ngoài tăng từ 600 vào
năm1998 lên 15000 vào năm 2003, đến hết năm 2005 số lượng khách du
lịch đến với Cát Bà đạt 435000 lượt trong đó người nước ngoài là 122000
lượt.
Qua con số thống kê về lượng khách du lịch đến thăm đảo chúng ta
có thể thấy sự phát triển nhanh chóng trong ngành du lịch trên đảo, đặc biệt
là khi đường giao thông xuyên ra đảo hoàn thành. Đồng thời cũng thấy
được sức phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch trong những năm sắp tới.
– Ngành dịch vụ hậu cần nghề cá.
Trên đảo Cát Bà có cảng cá Cát Bà (khu Tùng Vụng) đã hoàn thành
phần cầu cảng với tổng chiều dài 155m có khả năng tiếp nhận tầu đánh cá
400-500cv, phần cầu cảng cá Cát Bà có số lượng tàu thuyền đánh cá cập
bến lớn nhất trong số các cảng cá Hải Phòng và vịnh bắc bộ. Hầu như tất cả
các tầu thuyền lớn đều nhận dầu tại vịnh Cát Bà.
Trong vịnh luôn thường trực 4-5 xà lan có sức chứa 100-150 tấn dầu.
Trên đảo không có kho dầu dự trữ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Vịnh cát Bà là một trong những vị trí neo đậu tránh trú gió bão lớn với sức
chứa 800 chiếc /600cv.
– Khai thác thuỷ sản.
Thị trấn Cát Bà và xã Trân Châu nghề nghiệp chủ yếu là rê 3 lớp,
nghề câu, nghề đăng đáy và một số tàu chụp mực nhỏ, các tàu đánh cá lớn
của thành phố đều lấy vịnh Cát Bà làm căn cứ để ra khơi đánh cá và bán
sản phẩm, nhận dầu.
Nhìn chung Cát Bà có tiềm năng khai thác thuỷ sản nhưng chưa
được đầu tư phù hợp về phương tiện đánh bắt nên quy mô khai thác cũng
như hiệu quả hai thác còn hạn chế, đây là cơ hội để Cát Bà phát triển trong
tương lai.
Bùi Thị Huệ
Lớp: Kinh tế môi trường 45
Luận văn tốt nghiệp
36
– Ngành chế biến thuỷ sản.
Cùng với ngành khai thác thuỷ sản thì trên đảo phát triển ngành chế
biến thuỷ sản. Cũng như ngành khai thác, ngành chế biến chỉ mới phát tiển
ở mức độ nhỏ, chỉ là các công ty TNHH, chế biến các mặt hàng đơn giải từ
thuỷ sản và số lượng và quy mô còn hạn chế.
Bảng2.1.3.3: Danh sách các cơ sở chế biến thuỷ sản tại Cát Bà.
Tên cơ sở
STT
Địa điểm
Sản phẩm
CT TNHH Nam Hải
Cảng cá- TT Sản xuất bột cá và
Cát Bà
đá lạnh
CTTNHH Minh Châu
Cảng cá – TT Chế biến thuỷ sản
Cát bà
CT TNHH Tiên Tiến
Thôn Bền- xã Sx bột cá
Trân Châu
HTX Lập Lễ
Cảng cá- TT Chế biến thuỷ sản
Cát Bà
Thôn phú
Sx nước mắm và
CTTNHHNguyễnHoàng cường- xã
bột cá
Trân Châu
(Nguồn, UBND huyện Cát Bà, năm 2005)
1
2
3
4
5
– Nông nghiệp.
Do địa hình của đảo chủ yếu là cacsto, đá vôi nên ở Cát Bà không có
điều kiện thuận lợi cho phát triển ngành nông nghiệp. Tổng diện tích lúa cả
năm tập trung chủ yếu tại các xã Xuân Đán (48 ha), Trân Châu(15 ha), Việt
Hải (15 ha), Hiền Hào (8 ha). Bên cạnh trồng một vụ lúa năng suất không
cao, ở Cát Bà còn trồng một số loại hoa màu, cây công nghiệp nhưng nói
chung thì sản lượng không cao, chưa đáp ứng được nhu cầu trên đảo.
– Y tế .
Trên đảo Cát Bà hiện có một trung tâm y tế huyện đóng tại thị trấn
Cát Bà và 7 trạm y tế đóng tại 6 xã, riêng xã Trân Châu có 2 trạm y tế xã.
Bùi Thị Huệ
Lớp: Kinh tế môi trường 45
Luận văn tốt nghiệp
37
2.1.4 Các giá trị và vai trò của Vườn quốc gia Cát Bà.
2.1.4.1 Các giá trị của vườn quốc gia Cát Bà.
Vườn quốc gia Cát Bà với đặc trưng bao gồm hai phần là Đảo Cát
Bà và một phần biển xung quanh nên ở vườn quốc gia Cát Bà có nhiều loại
hệ sinh thái tiêu biểu của Việt Nam như rừng ngập mặn, rừng mưa nhiệt
đới thường xanh quanh năm, rạn san hô, thảm rong…. Do vậy mà đa dạng
sinh học ở đảo Cát Bà nói chung và Vườn quốc Gia Cát Bà nói riêng là rất
phong phú. Theo thống kê cho đến nay riêng khu vực Cát Bà có tới 2320
loài động vật và thực vật đang sinh sống bao gồm:
Bảng 2.1.4.1: Danh sách các loài động, thực vật ở Cát Bà.
STT
Tên loài
Số lượng
1
Thực vật trên cạn
741
2
Động vật sống trong khu vực rừng
282
3
Rong biển
75
4
Thực vật ngập mặn
23
5
Thực vật phù du
199
6
Động vật phù du
89
7
Động vật đáy
538
8
Cá biển
196
9
San hô
177
(Nguồn:Theo ghi chép của nhóm nghiên cứu thực địa tại Cát Bà, năm 2005)
Đặc biệt trong số trên 2000 loài động thực vật tại đảo cơ bản có tới
60 loài được coi là đặc hữu và quý hiếm được đưa vào sách đỏ của Việt
Nam và thế giới.
Trong đó động vật trên cạn có khoảng 30 loài như: đồi mồi, quản
đồng, ác là, quạ khoang, Voọc đầu trắng, Voọc quần đùi trắng, trăn đất, kì
đà nước, rắn hổ chúa, khỉ mặt đỏ, khỉ đuôi lợn, sơn dương, hươu sao.
Thực vật trên cạn là 27 loài như: Chi đài, kim giao, lát hoa, re hương,
thổ phục linh, trúc đũa, sến mật, và có thêm 8 loài rong biển cần được bảo
vệ như: Rong mơ mền, rong đá cong, rong thun thút, rong thuốc giun, các
loài vật đáy có 7 loài như: ốc đục cái, trai ngọc, bàn mai, con sút, vẹm
xanh, mực nang vân hổ.
Bùi Thị Huệ
Lớp: Kinh tế môi trường 45
Luận văn tốt nghiệp
38
2.1.4.2 Vai trò của Vườn quốc gia Cát Bà.
Là vườn quốc gia đầu tiên của Việt Nam vừa có đảo vừa có biển, đặc
trưng này quy dịnh nên vai trò hết sức quan trọng của Vườn quốc gia Cát
Bà. Sự phong phú, đa dạng của các loài động thực vật thêm vào đó là sự
tồn tại của nhiều loài động thực vật quý hiếm được ghi vào sách đỏ đã tạo
nên lợi thế cho Vườn so với các khu vực bảo tồn khác của Việt Nam.
Vườn quốc gia Cát Bà không chỉ có vai trò quan trọng với Việt Nam
và đối với cả thế giới. Tầm quan trọng của vườn quốc gia Cát Bà còn được
nâng lên khi ở đây là nơi duy nhất trên thế giới còn tồn tại loài Voọc đầu
trắng tuy là với số lượng không lớn lắm, được coi là một trong hai loài linh
trưởng quý hiếm nhất thế giới.
Vai trò quan trọng của Vườn quốc gia Cát Bà đã được thể hiện rõ
trong chiến lược bảo tồn của chính phủ Việt Nam khi chính phủ quyết định
coi Vườn là khu vực bảo tồn đa dạng sinh học được ưu tiên nhất của Việt
Nam. Tầm quan trọng của vườn quốc gia Cát Bà nói riêng và đảo Cát Bà
nói chung càng được khẳng định rõ khi tháng 11 năm 2004 Quần đảo Cát
Bà được UNESCO công nhận là khu vực bảo tồn sinh quyển trên thế giới.
Với vị trí quan trọng của mình đối với Việt Nam và thế giới là một
lợi thế để thu hút sự quan tâm của các tổ chức, quốc gia.. nhưng đồng thời
cũng đặt ra những khó khăn, sức ép trong việc bảo tồn .
2.1.5 Giới thiệu về loài voọc đầu trắng tại vườn quốc gia Cát Bà.
Voọc Cát Bà hay còn gọi là Voọc đầu trắng có tên khoa học là
(trachypihecus) là loài linh trưởng cỡ lớn, thuộc họ khỉ, bộ linh trưởng.
Voọc đầu trắng trưởng thành có trọng lượng cơ thể từ 5-10kg, chiều dài cơ
thể từ đầu và thân là 0,41m – 0,95m. Đầu và vai ở con đực lông màu trắng
nhạt, ở con cái lông màu thẫm hơn, vùng mông có vệt lông đuôi màu đen.
Lúc mới sinh ra chúng có màu vàng vàng lớn len thì chuyển sang đen
trắng.
Bùi Thị Huệ
Lớp: Kinh tế môi trường 45
Luận văn tốt nghiệp
39
Thức ăn chủ yếu của Voọc đầu trắng là chồi non, lá non, và quả cây
rừng. Voọc đầu trắng sống thành từng đàn từ 10- 15 con và chúng rất dạn
người. Trong đàn Voọc con đi đầu đàn thường là con đực, chúng thường
đứng trên vách đá, quan sát vì thế chúng thường bị bọn săn trộm bắn trước.
Voọc Cát Bà có những tập quán rất thú vị, có lúc chúng ngồi yên như pho
tượng nhưng có lúc lại rất linh hoạt.
Hiện nay Voọc đầu trắng chỉ còn khoảng 60 cá thể. Trước đây Voọc
còn nhiều 2400-2700 cá thể giảm xuống 200 cá thể vào những năm 80 và
đến năm 2000 chi còn 105-135 cá thể. Sự giảm số lượng Voọc nhanh
chóng như vậy là do nạn săn bắn Voọc để lấy xương nấu cao, lấy nước giải
của Voọc hay làm thức ăn cho khách du lịch. Trong những năm gần đây do
có sự quản lý chặt chẽ và các hoạt động bảo tồn Voọc mà số lượng Voọc
được ổn định.
2.2 THỰC TRẠNG BẢO TỒN TẠI VƯỜN QUỐC GIA CÁT BÀ TRƯỚC
KHI CÓ DỰ ÁN
2.2.1 Thực trạng quản lý tại Vườn quốc gia Cát Bà.
Vườn quốc gia Cát Bà được thành lập theo quyết định 78-CT ngày
31 tháng 3 năm 1986 của chủ tịch hội đồng Bộ Trưởng. Vườn quốc gia Cát
Bà trước đây thuộc Bộ Lâm Nghiệp quản lý, hiện nay chịu sự quản lý trực
tiếp của thành phố Hải Phòng. Ban quản lý vườn gồm 1 giám đốc, 1 phó
giám đốc, và các nhân viên hành chính khác. Có trách nhiệm trước nhà
nước về quản lý, bảo vệ, xây dựng và sử dựng Vườn theo các quy định của
pháp luật.
Thực hiện các biện pháp nhằm phát triển bền vững tài nguyên sinh
vật, tài nguyên đất, tài nguyên nước. Đồng thời phối hợp với cấp chính
quyền địa phương để bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên khác, thực hiện các
biện pháp phòng tránh, chữa cháy, phòng trừ sâu bệnh, ngăn chặn các hành
vi gây thiệt hại đến rừng.
Bùi Thị Huệ
Lớp: Kinh tế môi trường 45
Luận văn tốt nghiệp
40
* Về cơ sở hạ tầng hiện nay tại vườn .
Cơ sở hạ tầng của vườn vẫn còn rất sơ sài bao gồm:
– Một khu nhà làm việc của ban quản lý vườn kết hợp với nhà nghỉ
của khách, có khu nhà của cán bộ công nhân viên quản lý vườn, nhìn chung
bây giờ đã xuống cấp.
– Một khu nghiên cứu và nuôi chim thú bán tự nhiên rộng khoảng
350m2 nhưng còn thô sơ chưa đủ điều kiện, tiêu chuẩn.
– Một số cơ sở trưng bày mẫu động vật, thực vật và phòng thí
nghiệm.
– Ngoài ra còn có 10 trạm bảo vệ, 3 chòi quan sát, một số máng ăn,
sân ăn, máng uống cho chim thú và các chuồng dẫn dụ.
– Về đường giao thông chỉ có 2km đường Vườn trung tâm còn khang
trang 12500m đường tuần tra bảo vệ rừng đi lại rất khó khăn.
– Hệ thống thông tin liên lạc, điện, nước còn thiếu thốn và chưa đáp
ứng được nhu cầu của Vườn.
* Về tài chính.
Hoạt động của vườn dựa trên nguồn ngân sách nhà nước cấp hàng
năm khoảng 500 triệu một năm, ngoài ra từ nguồn thu từ bán vé vào thăm
vườn, và các hoạt động viện viện trợ, các hoạt động nghiên cứu được sử
dụng từ vốn sự nghiệp khoa học theo kế hoạch hàng năm.
2.2.2 Những vấn đề trong việc bảo tồn mà Vườn quốc gia Cát Bà gặp
phải trước khi có dự án.
2.2.2.1 Tình hình thực tế mà loài Voọc đầu trắng tại vườn đang gặp
phải.
Hiện tại số lượng Voọc trên đảo còn rất ít chỉ con khoảng 60 con. Số
lượng Voọc trên đảo hiện tại bị chia nhỏ thành bảy nhóm tách biệt, trong
đó có hai nhóm không còn khả năng sinh sản, mà nguyên nhân phân tán
đàn Voọc là do:
Bùi Thị Huệ
Lớp: Kinh tế môi trường 45
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Tin Tức






