Chủ đề dư luận
Thời Sự
Trong dòng sự kiện
Chữ Tâm trong nhà Đại tướng Lê Đức Anh
3-5-2019
Từ năm 2008, mỗi khi khách đến thăm nhà nguyên Chủ tịch nước, Đại tướng Lê Đức Anh ở số 5A Hoàng Diệu, Hà Nội đều nhìn thấy chữ Tâm màu đỏ trên nền mặt trống đồng Ngọc Lũ màu vàng in trên vải mỏng, lộng trong khung kính được treo trang trọng ở phòng khách. Đó là món quà nhỏ thể hiện tấm lòng biết ơn của Đài Phát thanh - truyền hình Đồng Nai trân trọng kính tặng người lính trận mạc, nhân đoàn làm phim của Đài đến phỏng vấn Đại tướng để phục vụ cho bộ phim tài liệu “Đông Dương chung một chiến hào” dài 30 tập. Nhìn những hình ảnh nguyên Chủ tịch nước tiếp khách, trong đó có chữ Tâm và phía dưới, bên trái có logo ĐNRTV, hẳn hai nhà báo Năng Hiền và Bình Long, những người trực tiếp kính tặng Đại tướng sẽ rất cảm kích và mọi người càng trân trọng cái tâm của vị tướng già từng đảm nhiệm cương vị người đứng đầu đất nước.
Đó là cái tâm tràn đầy lòng yêu nước, yêu Đảng, kính dân, thương lính của một người sớm thấu nỗi đau mất nước, gia nhập Đảng Cộng sản từ năm 17 tuổi, rồi đi suốt cuộc trường chinh của dân tộc cho đến ngày thống nhất. Từ một người chỉ huy “đội quân áo nâu” của Vệ quốc đoàn Lộc Ninh, chỉ có cung nỏ, giáo mác trong tay đến Đại tướng, Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam với lực lượng hùng mạnh, trong tâm ông luôn đau đáu trước vận nước, tình dân, nghĩa lính.

Người ta nói rằng ông là một vị tướng tài năng, đức độ, có tầm nhìn xa trông rộng, táo bạo trong hành động, quyết đoán ở những thời điểm, tình huống khó khăn nhất và ông luôn có mặt ở những nơi nóng bỏng nhất.

Theo hồi ký của Thượng tướng Trần Văn Trà, trong Chiến dịch mùa khô năm 1974 - 1975, Trung ương Cục và Quân ủy Miền giao cho tướng Lê Đức Anh nhiệm vụ giải phóng tỉnh Phước Long nằm cách Sài Gòn 100km về phía Đông Bắc để “nắn gân” phản ứng của Mỹ. Dưới sự chỉ huy của ông, Quân đoàn 4 dần khép chặt vòng vây khiến Tư lệnh Quân đoàn III quân đội Sài Gòn lúc đó là Trung tướng Dư Quốc Đống - người từng tuyên bố Việt cộng không thể đánh Phước Long - phải cay đắng thốt lên: “Phước Long chắc chắn sẽ rơi vào tay cộng sản”. Điều đáng nói, sau khi Phước Long giải phóng, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ “ngầm” tuyên bố Mỹ sẽ không can thiệp ở Việt Nam. Điều đó khiến bộ máy chính quyền Sài Gòn đang rệu rã càng rơi vào tình thế tuyệt vọng và đây là thực tiễn chiến trường để Bộ Chính trị quyết tâm giải phóng miền Nam trong năm 1975, càng sớm càng tốt.

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, tướng Lê Đức Anh chỉ huy cánh quân thứ 5 - cánh quân Tây Nam chiếm đường 4, giải phóng Long An - Mỹ Tho, ngăn chặn đường rút chạy về miền Tây của quân đội Sài Gòn. Đây là vùng sông nước, kênh rạch chằng chịt, xe pháo di chuyển rất khó khăn, song dưới mệnh lệnh thần tốc, táo bạo, cánh quân của vị tướng gốc Huế đã có một trận “thủy chiến” có một không hai trong lịch sử giữa xe lội nước của quân giải phóng và các tàu của hải quân Sài Gòn như tác phẩm “Theo xích xe tăng” mô tả.

Đến khi chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra, ông trở thành người chỉ huy một trong những cánh quân tình nguyện Việt Nam cùng với quân đội của Mặt trận Đoàn kết cứu quốc Campuchia do ông Hun Sen đứng đầu phối hợp giải phóng đất nước Chùa Tháp, cứu dân tộc này khỏi thảm họa diệt chủng. Sau đó, ông trở thành Trưởng đoàn chuyên gia và tư lệnh “đạo quân nhà Phật”, giúp nhân dân xứ sở Angkor dần dần hồi sinh và phát triển cho đến ngày nay.

Đại tướng Phạm Văn Trà kể, khi ông là Tư lệnh Quân khu III thì Đại tướng Lê Đức Anh lúc đó là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã đến thị sát biên giới phía Bắc thời điểm rất nóng bỏng. Sau khi ra tận chiến hào thứ nhất ở biên giới quan sát trận địa, Đại tướng Lê Đức Anh đã có quyết định rất sáng suốt khi nói: “Nếu ta bắn họ một, họ bắn lại hai, thiệt hại cho chiến sĩ, đồng bào, thay vì bắn pháo trả đũa, ta bắn pháo chứa truyền đơn nói về tình hữu nghị và kéo giãn quân về phía sau để giảm căng thẳng”. Thực tế, quyết định này đã có hiệu quả ngay sau đó.

Lê Đức Anh cũng là một vị Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hai lần đến Trường Sa thăm hỏi, động viên từng chiến sĩ, kiểm tra từng chiến hào, xem xét mọi việc ăn ở của những người lính. Đặc biệt, trong lần thứ hai ra Trường Sa vào ngày 7-5-1988, đứng giữa biển trời Tổ quốc, Đại tướng đã đọc lời thề thiêng liêng: “Chúng ta thề trước hương hồn của tổ tiên, trước hương hồn cán bộ, chiến sĩ đã hi sinh vì Tổ quốc. Xin hứa với đồng bào cả nước, xin nhắn nhủ với các thế hệ mai sau: Quyết tâm bảo vệ bằng được Tổ quốc thân yêu, bảo vệ bằng được quần đảo Trường Sa - một phần lãnh thổ, lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc thân yêu của chúng ta”.

Phải có một tấm lòng tha thiết với nước, với dân mới có những lời thề lịch sử ở nơi đầu sóng ngọn gió của đất trời Tổ quốc như thế. Đồng thời cũng thấu hiểu nỗi đau tột cùng của những bà mẹ tiễn con ra trận, có đi mà không có về, nên ông mới trăn trở suy tư để đưa ra sáng kiến vinh danh danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng - một danh hiệu cao quý dành cho người mẹ chỉ có ở Việt Nam.

Và với trái tim sâu nặng tình dân, ông đau đáu trước cuộc sống khó khăn của nhân dân, trong đó gia đình chính sách lại càng khó khăn hơn do đất nước bị bao vây, cấm vận một cách ngặt nghèo. Vì thế, với tư cách là Chủ tịch nước, ông đã đề xuất các giải pháp ngoại giao linh hoạt theo phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” như Bác Hồ từng căn dặn, để từng bước bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, Hoa Kỳ và gia nhập ASEAN, từng bước phá thế bao vây của các cựu thù…

Ý tưởng ngoại giao linh hoạt hẳn đã được hình thành trước lúc ông đến Hoa Kỳ dự lễ kỷ niệm 50 năm thành lập Liên hợp quốc vào năm 1995, khi ông phát biểu trước những người bạn Mỹ và bà con Việt kiều ở New York: “Người Việt Nam không sống bằng hận thù…”.

Từ những lời phát biểu và hành động phong phú, hiệu quả, dù ở cương vị Đại tướng, Bộ trưởng hay Chủ tịch nước, ông luôn thể hiện cái tâm trong sáng, cuộc sống thanh liêm, giản dị của một người lính đi qua ba cuộc chiến tranh gian khổ - mà theo ông, chết là lẽ bình thường, sống mới là điều kỳ lạ.

Đại tướng, nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh có một chữ Tâm trong sáng mà những người từng chiến đấu, công tác bên ông đều cảm nhận sự tỏa sáng từ cái tâm ấy. Tất nhiên, nhân dân cả nước cũng cảm nhận được cái tâm trong sáng của vị tướng già vừa mới đi xa.

Như Nguyệt
BÌNH LUẬN
Ý kiến của bạn
Tin bài khác cùng chuyên mục
  • 18/07/2019 10:42:57 CH
    Tác phẩm “Tự chỉ trích” xuất bản cách đây tròn 80 năm, cho đến nay vẫn còn mãi giá trị và việc đọc, nghiên cứu tác phẩm vẫn luôn thật sự cần thiết đối với từng cán bộ, đả...
  • 16/07/2019 10:13:34 CH
    Thời gian qua, tình trạng xây dựng trái phép, không phép diễn ra rất phức tạp ở các địa phương trong cả nước có tốc độ đô thị hóa nhanh, làm cho các quy hoạch của Nhà nướ...
  • 14/07/2019 10:30:05 CH
    Vậy là sau nhiều lần “nâng lên, đặt xuống” với nhiều ý kiến khác nhau giữa các bên thì cuối cùng Hội đồng tiền lương quốc gia cũng đã thống nhất được mức tăng lương tối t...
Bạn có thường xuyên đọc báo Lao động Đồng Nai không?
  • Náo nức Xuân về
  • Chúc mừng Năm mới Đinh Dậu. Chúc Báo Lao Động Đồng Nai đạt nhiều thành công mới.
    Trần Hoàng Thanh (24/01/2017 5:28:48 CH)
  • Vui Xuân cùng công nhân lao động
  • Rất vui khi người công nhân lao động được quan tâm về vật chất lẫn tinh thần khi xuân về, Tết đến.
    Nguyễn Trọng Đài (24/01/2017 5:24:14 CH)
  • Lưu giữ nghề thổ cẩm Châu Mạ
  • Nghề dệt thổ cẩm truyền thống cần duy trì và phát triển, nhưng điều này cũng thật khó đấy!
    Nguyễn Hoàng Lộc (24/01/2017 5:13:34 CH)
  • Náo nức Xuân về
  • Năm mới chúc mọi điều tốt lành đến với mọi nhà. Chúc Báo Lao động Đồng Nai ngày càng khởi sắc với nhiều tin, bài có giá trị.
    Nguyễn Minh Trúc (24/01/2017 5:07:05 CH)